1
MỤC LỤC
Trang
Danh mục các biểu bảng
Danh mục các biểu đồ
Danh mục các từ viết tắt
MỞ ĐẦU
1
CHƯƠNG 1. TỔNG QUAN TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU
1.1.
Quan điểm, đường lối của Đảng, Nhà nước về TDTT trường
học trong thời kỳ mới.
4
1.1.1. Quan điểm, đường lối của Đảng về TDTT trường học
4
1.1.2. Chủ trương, chính sách của Nhà nước về TDTT trường học
6
1.1.3. Các quy định của Bộ GD& ĐT về TDTT trường học
8
trường THPT
19
1.3.1. Đặc điểm tâm sinh lý của HS THPT
19
1.3.2
22
Động cơ và hứng thú học tập của HS
1.3.3. Giờ học và cấu trúc nội dung CTMH TD ở bậc THPT
24
1.3.4. HĐTT ở trường THPT
26
1.3.5. PPDH của GV
29
1.4.
31
CHƯƠNG 2. ĐỐI TƯỢNG, PHƯƠNG PHÁP VÀ TỔ CHỨC
NGHIÊN CỨU
2.1.
Đối tượng nghiên cứu
46
2.2.
Phương pháp nghiên cứu
47
2.2.1. Phương pháp phân tích và tổng hợp tài liệu
47
2.2.2
48
Phương pháp điều tra xã hội học
2.2.3. Phương pháp quan sát sư phạm
50
2.2.4. Phương pháp phân tích SWOT
59
CHƯƠNG 3. KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU VÀ BÀN LUẬN
3.1.
Các yếu tố đảm bảo hiệu quả GDTC và HĐTT trong trường
THPT ở Đà Nẵng
61
3.1.1. Quy mô trường, lớp và đội ngũ GV TD trong các trường THPT ở
Đà Nẵng
61
3.1.2. Cơ sở vật chất TDTT trong các trường THPT ở Đà Nẵng
64
3.1.3. Nhận thức về công tác TDTT trong trường THPT ở Đà Nẵng
67
3.1.4
Nhu cầu, thái độ của HS THPT ở Đà Nẵng đối với TDTT trường
học
68
98
3.3.
Lựa chọn và ứng dụng giải pháp nâng cao hiệu quả GDTC và HĐTT
107
3
trong trường THPT ở Đà Nẵng
3.3.1. Lựa chọn giải pháp nâng cao hiệu quả GDTC và HĐTT trong trường
107
THPT Đà Nẵng
3.3.2. Tổ chức dạy học tự chọn môn TD theo chủ đề đáp ứng
3.3.3
Hiệu quả ứng dụng giải pháp dạy học tự chọn theo chủ đề đáp ứng
109
117
3.3.4. Tổ chức mô hình CLB TDTT trường THPT ở Đà Nẵng
132
4
MỞ ĐẦU
1. Lý do chọn đề tài.
TDTT trường học, bao gồm GDTC và HĐTT, là một bộ phận quan trọng
trong việc thực hiện mục tiêu phát triển con người toàn diện, góp phần nâng cao dân
trí, đào tạo nhân lực, bồi dưỡng nhân tài để đáp ứng yêu cầu xây dựng và bảo vệ tổ
quốc. Sự cường tráng về thể chất là nhu cầu, là vốn quý của mọi gia đình; là mục
tiêu của mỗi quốc gia trong đào tạo nguồn nhân lực để xây dựng và phát triển đất
nước. Vì vậy, chăm lo thể chất cho HS là trách nhiệm của toàn xã hội, các cấp, các
ngành, đặc biệt là ngành GD&ĐT. Trong Chỉ thị 133/TTg, Thủ tướng đã yêu cầu: "Bộ
GD&ĐT cần đặc biệt coi trọng việc GDTC trong nhà trường, cải tiến nội dung giảng dạy
TDTT nội khoá, ngoại khóa, quy định tiêu chuẩn rèn luyện thân thể cho HS ở các cấp học"
[108, tr.130]. Trong Chỉ thị số 17-CT/TW về phát triển TDTT đến năm 2010, Ban chấp
hành Trung ương Đảng cũng chỉ đạo: "Đẩy mạnh hoạt động TDTT trong trường học. Tiến
tới bảo đảm mỗi trường đều có GV chuyên trách và lớp học TD đúng tiêu chuẩn, tạo điều
kiện nâng cao chất lượng GDTC " [2, tr.3].
Từ các chủ trương, chính sách đã được thực hiện cho thấy Đảng và Nhà nước
luôn quan tâm đến TDTT trường học, coi đây là nhiệm vụ quan trọng góp phần tạo
ra con người mới, đóng góp tích cực trong công cuộc xây dựng và phát triển đất
nước. Tuy nhiên trong thực tế, công tác TDTT trường học chưa được coi trọng,
chưa đáp ứng yêu cầu duy trì, nâng cao sức khỏe người học; các trường học thiếu
nhiều sân bãi, phòng tập, dụng cụ phục vụ nhu cầu tập luyện, thi đấu và vui chơi
của HSSV; đội ngũ giáo viên TD thiếu và yếu; nội dung chương trình TD chính
khóa và HĐTT ngoại khóa nghèo nàn, xơ cứng, không thu hút HS tham gia học tập
và rèn luyện [92].
Nằm ở trung điểm của đất nước, thành phố Đà Nẵng là trung tâm văn hoá,
luận án của Hoàng Công Dân (2005) “Nghiên cứu phát triển thể chất cho HS các
trường phổ thông dân tộc nội trú khu vực phía Bắc từ 15-17 tuổi”, Vũ Đức Văn
(2008)“Nghiên cứu mô ôt số giải pháp nâng cao chất lượng GDTC cho học sinh
THCS của thành phố Hải Phòng”, Nguyễn Văn Thời (2011) “Dạy học tự chọn
GDTC theo chủ đề và hoạt đô ông ngoại khóa tự nguyênô trong các trường THCS”....
Phần lớn các đề tài thường nghiên cứu ở đối tượng HS tiểu học và THCS, hầu như
chưa có công trình đi sâu, đánh giá toàn diện thực trạng cũng như nghiên cứu giải
6
pháp nâng cao hiệu quả GDTC và HĐTT trong trường THPT ở phạm vi một tỉnh,
thành phố. Đặc biệt ở các tỉnh duyên hải miền Trung và Tây nguyên hầu như chưa
có công trình khoa học nào đề cập đến vấn đề này.
Từ cơ sở lý luận và thực tiễn trên, tôi tiến hành nghiên cứu luận án với tên đề
tài “Đánh giá thực trạng và giải pháp nâng cao hiệu quả giáo dục thể chất và
hoạt động thể thao trong trường trung học phổ thông ở Đà Nẵng”.
2. Mục đích nghiên cứu.
Mục đích nghiên cứu của luận án là trên cơ sở đánh giá thực trạng GDTC và
HĐTT của các trường THPT trên địa bàn thành phố Đà Nẵng, phân tích các cơ sở lý
luận, thực tiễn, các yếu tố tác động để lựa chọn giải pháp phù hợp nhằm góp phần
nâng cao hiệu quả GDTC và HĐTT trong các trường THPT ở Đà Nẵng.
3. Mục tiêu nghiên cứu.
Để đạt được mục đích nghiên cứu, luận án xác định các mục tiêu sau:
3.1. Các yếu tố đảm bảo hiệu quả GDTC và HĐTT trong các trường THPT ở
Đà Nẵng.
3.2. Đánh giá thực trạng GDTC và HĐTT trong các trường THPT ở Đà
Nẵng.
3.3. Nghiên cứu lựa chọn và ứng dụng các giải pháp nâng cao hiệu quả
GDTC và HĐTT trong các trường THPT ở Đà Nẵng.
huy năng lực đội ngũ GV TD, mở rộng và nâng cao chất lượng đào tạo, bồi dưỡng
đội ngũ GV TD cho trường học…[6].
Nghị quyết 29/NQ-TƯ (khóa XI) “về đổi mới căn bản, toàn diện GD&ĐT;
đáp ứng yêu cầu công nghiệp hóa, hiện đại hóa trong điều kiện kinh tế thị trường
định hướng xã hội chủ nghĩa và hội nhập quốc tế” đã đề ra quan điểm chỉ đạo:
“Chuyển mạnh quá trình GD từ chủ yếu trang bị kiến thức sang phát triển toàn
diện năng lực và phẩm chất người học” và “Đổi mới hệ thống GD theo hướng
mở, linh hoạt, liên thông giữa các bậc học, trình độ và phương thức đào tạo” [8,
tr.78]. Có thể nói Nghị quyết 29/NQ-TƯ là sự tổng kết toàn diện Nghị quyết Trung
ương 2 (khóa VIII) về phát triển GD&ĐT trong thời kỳ công nghiệp hóa hiện đại
hóa, qua đó đề ra mục tiêu đổi mới toàn diện GD&ĐT từ quan điểm, tư tưởng chỉ
đạo đến mục tiêu, nội dung, phương pháp, cơ chế, chính sách, điều kiện đảm bảo
thực hiện… Mục tiêu của Nghị quyết đã tạo chuyển biến căn bản, mạnh mẽ về
chất lượng, hiệu quả GD&ĐT, đáp ứng ngày càng tốt hơn công cuộc xây dựng,
9
bảo vệ tổ quốc và nhu cầu học tập của nhân dân. Đồng thời mở ra cơ hội để ngành
GD&ĐT quyết tâm đổi mới toàn diện công tác GD, trong đó có đổi mới, cải tiến
công tác TDTT trường học ngày càng hiệu quả, chất lượng hơn.
1.1.2. Chủ trương, chính sách của Nhà nước về TDTT trường học:
Năm 2000, Pháp lệnh TDTT được ban hành, hoạt động TDTT lần đầu tiên
được luật hóa. Sau một thời gian chuẩn bị, Luật TDTT được Quốc hội thông qua
năm 2006 ghi dấu ấn mới cho sự phát triển TDTT của nước nhà. Luật TDTT đã
dành riêng một mục gồm 6 điều để quy định về công tác GDTC và HĐTT trong nhà
trường, đây là cơ sở pháp lý để toàn xã hội tăng cường trách nhiệm đối với công tác
TDTT trường học [110].
Không chỉ lãnh đạo bằng đường lối, chính sách, mà Nhà nước còn đề ra
những giải pháp chỉ đạo thực hiện sâu sát. Một trong những giải pháp là đẩy mạnh
có chương trình phát triển thể lực, tầm vóc bằng giải pháp tăng cường GDTC. Một
trong những nội dung chủ yếu của chương trình này là: “Đảm bảo chất lượng dạy
và học TD chính khóa, các hoạt động TDTT ngoại khóa cho HS, xây dựng chương
trình GDTC hợp lý..” và “Tận dụng các công trình TDTT trên địa bàn để phục vụ
cho hoạt động GDTC trong trường học” [23, tr.162].
Chương trình hành động của Chính phủ nhiệm kỳ 2011-2016 đã đề ra yêu
cầu nâng cao chất lượng GD&ĐT, trong đó có chất lượng GDTC. Mục 5 của Nghị
quyết 06/NQ-CP (2012) ghi rõ: “Nâng cao chất lượng GD toàn diện, đặc biệt là
GDTC. Đổi mới chương trình, nội dung, PPDH, gắn với việc đổi mới quy chế thi,
kiểm tra, đánh giá kết quả học tập HS” [93, tr.4].
Trên cơ sở phân tích và đánh giá hiện trạng tình hình GD Việt Nam, bối
cảnh, thời cơ và thách thức đối với GD trong thập kỷ tới, Thủ tướng ra Quyết định
số 771/QĐ-TTg phê duyệt "Chiến lược phát triển GD 2011-2020", khẳng định quan
điểm chỉ đạo: "Đầu tư cho GD là đầu tư cho phát triển. Đổi mới căn bản, toàn diện
nền GD theo hướng chuẩn hóa, hiện đại hóa, XHH, dân chủ hóa, hội nhập quốc tế,
thích ứng với nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa, phát triển GD
gắn với phát triển KHCN, tập trung vào nâng cao chất lượng GD đạo đức, lối sống,
năng lực sáng tạo, kỹ năng thực hành… Chú trọng thỏa mãn nhu cầu phát triển của
mỗi người học." [94, tr.8].
11
Để đạt được mục tiêu, Chiến lược đã đề ra 8 giải pháp, trong giải pháp đổi
mới nội dung và PPDH, Chiến lược đã đưa ra biện pháp: "Đổi mới chương trình và
sách giáo khoa từ sau năm 2015 theo định hướng phát triển năng lực HS, vừa đảm
bảo tính thống nhất trong toàn quốc, vừa phù hợp với đặc thù của mỗi địa phương.
Chú trọng nội dung GD đạo đức, pháp luật, thể chất…" [94, tr.11].
Tóm lại, TDTT trường học luôn được Đảng và Nhà nước quan tâm và được
xác định là một nội dung chủ yếu trong nhiệm vụ cách mạng, là nhiệm vụ quan
kiện học tập của HS [19].
Để thay đổi tiêu chuẩn rèn luyện sức khỏe phù hợp thực tiễn và quá trình hội
nhập quốc tế, Bộ GD&ĐT đã ban hành quy định về việc đánh giá, xếp loại thể lực
HSSV, qui định về đối tượng thực hiện và các yêu cầu, độ tuổi, các nội dung đánh
giá cũng như tiêu chuẩn cụ thể của từng độ tuổi và giới tính của HS các cấp [16].
Trong thực tế, số giờ quy định của môn học TD không nhiều nên công tác
TDTT trường học chỉ có thể đạt được hiệu quả khi tổ chức tốt các hoạt động ngoại
khoá cho HS. Khoa học đã chứng minh muốn nâng cao thể chất thì phải tập luyện
tích cực và thường xuyên. Một trong những nguyên tắc của phương pháp GDTC có
liên quan đến tính thường xuyên trong tập luyện là hệ thống luân phiên lượng vận
động với nghỉ ngơi, cũng như tính tuần tự trong tập luyện và mối liên hệ lẫn nhau
giữa các mặt khác nhau trong nội dung tập luyện. Tính liên tục của quá trình GDTC
và luân phiên hợp lý giữa lượng vận động với nghỉ ngơi, tập thường xuyên mang lại
hiệu quả tất nhiên lớn hơn tập thất thường [96]. Ý thức vấn đề đó, Bộ GD&ĐT đã
ban hành Quy định về tổ chức HĐTT ngoại khoá cho HSSV. Văn bản này ra đời đã
tạo hành lang pháp lý thuận lợi để các cơ sở GD&ĐT tổ chức các hoạt động ngoại
khoá thể thao trong HSSV [17]. Đồng thời, để thể chế hóa vai trò của GDTC và thể
thao trong nhà trường, Bộ GD&ĐT đã tổ chức nhiều lần lấy ý kiến dự thảo Nghị
định về GDTC và thể thao trong nhà trường để trình Chính phủ ban hành [95].
Nhìn chung, từ cơ sở lý luận và thực tiễn chỉ đạo của Bộ GD&ĐT về TDTT
trường học đã khẳng định vai trò của nó trong việc bảo vệ, tăng cường sức khoẻ, thể
chất, giúp hình thành và bồi dưỡng nhân cách, đáp ứng yêu cầu GD toàn diện cho
HSSV. Đây là mặt GD có ảnh hưởng trực tiếp tới sức khoẻ và sự phát triển tầm vóc,
thể trạng của thế hệ trẻ Việt Nam. Chính vì vậy, trong những năm qua, Bộ GD&ĐT
13
đã quan tâm, tạo điều kiện để các trường học triển khai các nhiệm vụ GDTC và
HĐTT, đồng thời thông qua việc ban hành các văn bản, quy định liên quan đã tạo ra
14
- Giờ học lý thuyết là giờ học cơ bản nhằm trang bị kiến thức về
TDTT và vệ sinh, sức khoẻ cho HS. Những kiến thức đó không chỉ cần
thiết đối với HS mà còn là yếu tố văn hoá, là một phần cấu thành của
kết quả học tập môn TD của HS.
- Giờ học thực hành là giờ học đặc trưng của dạy học TDTT, có
những đặc điểm chung của hình thức lớp – bài, trong đó GV giữ vai
trò chủ đạo, điều khiển và trực tiếp tổ chức hoạt động dạy học. Sự tác
động giữa GV và HS tạo nên điều kiện sư phạm tốt nhất cho quá trình
GDTC. Ưu thế của giờ học thực hành còn thể hiện ở chỗ có kế hoạch
học tập chặt chẽ theo thời khoá biểu chung; lớp học có số lượng HS
ổn định, cùng lứa tuổi, hoạt động chung, đã liên kết thành tập thể [21],
[55],[100].
1.2.1.2. Khái niệm HĐTT.
Luật TDTT định nghĩa “HĐTT trong nhà trường là hoạt động tự nguyện của
người học được tổ chức theo phương thức ngoại khoá phù hợp với sở thích, giới
tính, lứa tuổi và sức khoẻ nhằm tạo điều kiện cho người học thực hiện quyền vui
chơi, giải trí, phát triển năng khiếu thể thao” [110, tr.17].
Theo Dự thảo Nghị định GDTC và thể thao trường học, HĐTT
trong nhà trường là hoạt động tự nguyện của HSSV với các nội dung
tập luyện TDTT ngoại khóa và thi đấu các môn thể thao phù hợp với
sở thích, giới tính, lứa tuổi và sức khỏe theo các hình thức cá nhân,
nhóm, CLB, nhằm nâng cao sức khỏe, thể lực đáp ứng yêu cầu môn
học và phát triển năng khiếu, tài năng thể thao. Hoạt động thể thao
trong nhà trường có 2 nội dung cơ bản là tập luyện TDTT ngoại khóa
và thi đấu thể thao [95].
HĐTT ngoại khóa có vị trí rất quan trọng trong công tác TDTT trường học.
để có thể mô tả, đo đếm được thì càng thuận lợi, chính xác cho việc xác định các
yếu tố như nội dung, chương trình, biên soạn sách giáo khoa, PPDH, đào tạo và sử
dụng đội ngũ GV, quản lý quá trình giảng dạy và đánh giá chất lượng GD.
Như vậy, giữa mục tiêu và các yếu tố cấu thành chất lượng GD nói chung và
chất lượng GDTC nói riêng do mục tiêu đặt ra có mối quan hệ tương hỗ, trong đó
mục tiêu với tư cách như bản thiết kế, có vai trò quy định các yếu tố còn lại; các yếu
tố còn lại với tư cách như vật liệu thi công theo thiết kế, vừa chịu sự chi phối của
mục tiêu, vừa có tác động trở lại điều chỉnh, bổ sung, chính xác hoá mục tiêu. Các
16
tiêu chí chất lượng càng cụ thể, mức độ tường minh của mục tiêu càng cao và khả
năng định hướng, xác định các yếu tố còn lại tạo thành chất lượng GD càng thuận
lợi thì việc đánh giá chất lượng GD chỉ còn là vấn đề kỹ thuật.
Mục tiêu dạy học được xác định căn cứ vào mục tiêu GD. Đề đạt được mục
tiêu này, quá trình dạy học cần tác động lên 3 mặt đời sống tâm lý HS: mặt nhận
thức, mặt xúc cảm - tình cảm và mặt hành động. Vì vậy, mục tiêu cơ bản ở trường
phổ thông được xác định bao gồm 3 nhóm hệ thống được sắp xếp theo thứ tự là:
- Những kiến thức HS cần biết;
- Những kỹ năng, kỹ xảo HS cần tập luyện, rèn luyện;
- Những thái độ ứng xử (giá trị) thích hợp HS cần được bồi dưỡng.
Việc tổ chức, điều khiển HS nhằm nắm vững kiến thức; thực hiện thành thạo
những kỹ năng, kỹ xảo vận động cần thiết; những kinh nghiệm về thái độ sống cần
được sắp xếp một cách khoa học, hợp lý [11],[14].
GDTC là một thành phần quan trọng cung cấp kiến thức, kỹ năng vận động cơ
bản cho người học, góp phần thực hiện mục tiêu GD toàn diện nhằm giúp HS có sự
tăng tiến về sức khỏe, thể lực; đạt tiêu chuẩn sức khỏe theo lứa tuổi và giới tính; có
những kiến thức, kỹ năng cơ bản về TDTT và phương pháp tập luyện; các kỹ năng
vận động cần thiết trong đời sống. Hình thành thói quen tập luyện TDTT thường
tiêu GD toàn diện [10],[16],[17].
Mục tiêu GD được cụ thể hóa thành các nhiệm vụ dạy học. Các nhiệm vụ
dạy học trong nhà trường phổ thông bao gồm: (1) Tổ chức, điều khiển cho HS nắm
vững hệ thống kiến thức. (2) Phát triển trí tuệ, các kỹ năng vận động, kỹ năng sống
cho HS. (3) Bồi dưỡng cho HS thế giới quan, nhân sinh quan khoa học và những
phẩm chất, năng lực cần thiết của con người mới [11].
GDTC trong nhà trường phổ thông có các nhiệm vụ:
- Trang bị cho HS kỹ năng phân tích, kỹ năng phản xạ, khả năng xây dựng,
kiểm tra và thực hành kế hoạch tập luyện.
- Xác định mục đích, nhiệm vụ, trang thiết bị cho hoạt động GDTC ở từng cấp
học, tổ chức hoạt động GDTC theo hướng ưu tiên HS tự chọn môn thể thao yêu
thích để rèn luyện.
- Trang bị cho HS kiến thức cơ bản về giải phẩu học cơ thể người, sự thay đổi
và thích ứng của cơ thể ở trạng thái hoạt động vận động tích cực.
18
- Hoàn thiện, phát triển khả năng vận động cho HS (tố chất, thể lực, tố chất
mềm dẻo, tố chất thăng bằng...)
- Hình thành những kiến thức cần thiết, tối thiểu ở HS về vệ sinh sức khoẻ,
tầm quan trọng của sức khoẻ, của lối sống lành mạnh, tích cực.
- Hình thành, phát triển văn hoá thể chất, một trong những nền tảng văn hoá
hiện đại [10],[11].
Tóm lại, mục đích của GDTC là góp phần hoàn thiện, phát triển hài hoà yếu
tố học đường và yếu tố xã hội của HS, lấy phương tiện chính là bài tập thể chất, đó
là tổ hợp các bài tập vận động, phản ánh một trong những nhiệm vụ chính của công
tác GDTC. Việc hình thành, hoàn thiện, phát triển chức năng và thói quen vận động
cho HS là một nhiệm vụ quan trọng không thể thiếu được của GDTC trường học.
1.2.3. Nội dung dạy học và CTGD.
CTGD = nội dung.
Với cách tiếp cận mục tiêu, quan niệm GD là công cụ để đào tạo
nên các sản phẩm với các tiêu chuẩn được xác định, CTGD là bản kế
hoạch phản ánh các mục tiêu GD, nó cho biết nội dung cũng như
phương pháp dạy và học cần thiết để đạt được mục tiêu. Theo cách
tiếp cận này CTGD = nội dung + mục tiêu + phương pháp. Như vậy, tuỳ
theo các cách tiếp cận khác nhau, CTGD có các khái niệm khác nhau.
Ta có thể hiểu một cách tổng quát: CTGD là một tập hợp của các hoạt
động gắn kết với nhau nhằm đạt mục tiêu GD của nhà trường [20],[36],
[57]
CTGD phổ thông ở nước ta do Bộ GD&ĐT ban hành, nội dung thực hiện theo
Điều 29 của Luật GD: “CTGD phổ thông thể hiện mục tiêu GD phổ thông; quy định chuẩn
kiến thức, kỹ năng, phạm vi và cấu trúc nội dung GD phổ thông, phương pháp và hình thức
tổ chức hoạt động GD, cách thức đánh giá kết quả GD đối với các môn học ở mỗi lớp và
mỗi cấp học của GD phổ thông”[14, tr.23]. Đây là công cụ chủ yếu để Bộ GD&ĐT lãnh
đạo và giám sát công tác dạy học của các cơ sở đào tạo.
1.2.4. Khái niệm giải pháp, hiệu quả và chất lượng GD.
1.2.4.1. Khái niệm giải pháp.
20
Từ điển Tiếng Việt định nghĩa “Giải pháp là phương pháp giải quyết một
vấn đề” [114, tr.373]. Ở đây giải pháp được hiểu là cách thức, là một công cụ người
ta dùng để giải quyết những vấn đề đặt ra trong thực tiễn (như giải pháp kỹ thuật,
giải pháp kinh tế…). Với cách hiểu này, đôi khi người ta dùng từ “biện pháp” để
thay thế. Theo Từ điển Tiếng Việt, “biện pháp là cách làm, cách giải quyết một vấn
đề cụ thể” [114, tr.62]. Tuy trong thực tế, 2 khái niệm này có thể được dùng thay thế
cho nhau, nhưng về bản chất, khái niệm “giải pháp” có ý nghĩa và nội dung rộng
triển của mỗi cá nhân và xã hội. Tuy nhiên, khái niệm “chất lượng” nói chung và
“chất lượng GD” nói riêng là những khái niệm đa chiều, đa nghĩa bởi nội dung của
nó rất rộng, được xem xét từ nhiều góc độ khác nhau nên đến nay chưa được hiểu
một cách thống nhất. Vì vậy, có nhiều tác giả đề xuất các khái niệm chất lượng khác
nhau. Theo từ điển Tiếng Việt của Viện Ngôn ngữ học, chất lượng được hiểu là
“Cái tạo nên phẩm chất, giá trị của một con người, một sự vật, sự việc”[114,
tr.139]. Theo Bộ tiêu chuẩn quản lý chất lượng quốc tế ISO 9001, chất lượng là tập
hợp các đặc tính của một thực thể, tạo cho thực thể đó có những khả năng thỏa mãn
những nhu cầu đã được công bố và tiềm ẩn [31]. Còn trong quy định tiêu chuẩn
đánh giá chất lượng giáo dục trường đại học, Bộ GD&ĐT định nghĩa chất lượng
GD là sự đáp ứng mục tiêu do nhà trường đề ra, đảm bảo các yêu cầu về mục tiêu
GD của Luật GD, phù hợp với yêu cầu đào tạo nguồn nhân lực cho sự phát triển
kinh tế - xã hội của địa phương và cả nước [13].
Mặc dù có các tiêu chí khác nhau nhưng điểm chung của chất lượng là mang
lại những lợi ích và giá trị. Từ đó có thể xem chất lượng GD là những lợi ích, giá trị
mà kết quả học tập mang lại cho cá nhân người học và xã hội, trước mắt và lâu dài.
Hiệu quả, theo Từ điển tiếng Việt, là “kết quả như yêu cầu của việc làm
mang lại” [114, tr.424]. Tính hiệu quả, theo quan niệm chung, đó là sự thể hiện mối
quan hệ chung nhất giữa đầu tư công sức, nhân lực, vật lực với kết quả đạt được sau
một giai đoạn nhất định xét theo mục tiêu giáo dục trong những điều kiện cụ thể. Vì
vậy, việc đánh giá hiệu quả có thể thực hiện một cách định lượng thông qua quá
trình thu thập và xử lý thông tin về trình độ, khả năng thực hiện của đối tượng đối
với mục tiêu đã đề ra.
22
Trong công tác TDTT trường học, đánh giá hiệu quả GDTC và HĐTT là quá
trình thu thập và xử lý thông tin nhằm mục đích tạo cơ sở cho những quyết định về
chương trình, mục tiêu, PPDH, những hoạt động khác có liên quan của nhà trường
dần. Chức năng sinh lý đã tương đối ổn định, khả năng hoạt động của các hệ thống,
cơ quan cơ thể cũng cao hơn. HS phát triển theo chiều ngang nhiều hơn, chiều cao
vẫn phát triển nhưng chậm dần.
Sự phát triển của nam và nữ đã có sự khác nhau đáng kể do khác về giới
tính; sự khác nhau ấy càng rõ rệt về tầm vóc, khả năng hoạt động thể lực và tâm lý.
Do đó trong quá trình GDTC, GV cần căn cứ đặc điểm tâm sinh lý lứa tuổi và giới
tính để phân biệt về tính chất, cường độ, khối lượng tập luyện sao cho đảm bảo tính
hợp lý, tạo sự phát triển toàn diện.
Về mặt tâm lý, lứa tuổi này thích chứng tỏ mình là người lớn, muốn để mọi
người tôn trọng; đã có một trình độ hiểu biết nhất định, có khả năng phân tích tổng
hợp, muốn hiểu biết nhiều, có nhiều hoài bão, nhưng còn nhiều nhược điểm và thiếu
kinh nghiệm trong cuộc sống.
Tuổi này chủ yếu là tuổi hình thành thế giới quan, tự ý thức, hình thành tính
cách và hướng về tương lai. Đó là tuổi của nhiều ước mơ, đầy nhu cầu sáng tạo và
mong cho cuộc sống tốt đẹp hơn. Đây cũng là tuổi nảy nở những tình cảm mới, thế
giới quan không phải là một niềm tin lạnh nhạt, khô khan mà là sự say mê, ước
vọng, nhiệt tình.
- Tình cảm: HS biểu lộ tình cảm rõ rệt hơn đối với những thầy cô dạy các
em. Việc GV gây được thiện cảm và sự tôn trọng là một trong những sự thành công,
giúp GV thuận lợi trong quá trình giảng dạy; thúc đẩy HS tự giác, tích cực tập luyện
và ham thích TD. Do vậy, GV phải mẫu mực, công bằng, biết động viên kịp thời và
quan tâm đúng mức tới HS, tôn trọng kết quả học tập cũng như tình cảm của HS.
- Trí nhớ: hầu như không còn tồn tại việc ghi nhớ máy móc do HS đã biết
cách ghi nhớ có hệ thống, đảm bảo tính logic, tư duy chặt chẽ hơn và lĩnh hội được
bản chất của vấn đề học tập. Do đặc điểm của trí nhớ ở lứa tuổi này khá tốt nên GV
có thể sử dụng phương pháp trực quan kết hợp với giảng giải, phân tích sâu các chi
tiết kỹ thuật động tác và vai trò, ý nghĩa cũng như cách sử dụng các phương tiện,
phương pháp trong GDTC để các em có thể tự tập luyện độc lập.
25
Các tổ chức cơ phát triển muộn hơn nên sức co cơ tương đối yếu, các bắp cơ
lớn phát triển nhanh hơn các cơ nhỏ, các cơ co phát triển sớm hơn các cơ duỗi, các
cơ duỗi của nữ lại càng yếu. Đặc biệt vào tuổi 16, các tổ chức mỡ dưới da của nữ
phát triển mạnh, ảnh hưởng đến việc phát triển sức mạnh. Nói chung ở đầu thời kỳ
THPT là thời kỳ cơ bắp phát triển nhanh nhất, do vậy cần tập những bài tập phát
triển sức mạnh để góp phần thúc đẩy sự phát triển của các cơ. Các bài tập phải đảm
bảo nguyên tắc vừa sức và đảm bảo cho tất cả các loại cơ đều được phát triển,
nhưng cần có yêu cầu riêng biệt đối với các em nữ, tính chất động tác của nữ cần
toàn diện, mang tính mềm dẻo, nhịp điệu và khéo léo.
Hệ tuần hoàn của HS lứa tuổi này đang phát triển và hoàn thiện. Buồng tim
phát triển tương đối hoàn chỉnh, phản ứng của hệ tuần hoàn trong vận động rõ rệt.
Sau vận động, mạch đập và huyết áp phục hồi tương đối nhanh chóng. Lứa tuổi này
có thể tập những bài tập có khối lượng, cường độ vận động và sức bền tương đối
lớn. Khi sử dụng các bài tập có khối lượng vận động lớn hoặc các bài tập phát triển
sức bền, cần phải thận trọng và thường xuyên theo dõi trạng thái sức khoẻ HS.
Hệ hô hấp đã phát triển và tương đối hoàn thiện, vòng ngực trung bình của
nam từ 67-72cm, của nữ từ 69-74cm. Diện tích tiếp xúc của phổi khoảng 100 –
201cm2, gần bằng tuổi trưởng thành. Dung lượng phổi tăng lên nhanh chóng từ lúc
15 tuổi là 2-2,5lít đến 8 tuổi là khoảng 3-4 lít, tần số hô hấp gần giống người lớn.
Tuy nhiên các cơ hô hấp vẫn còn yếu nên sự co giãn của lồng ngực nhỏ, chủ
yếu là co giãn cơ hoành. Trong tập luyện cần thở sâu và tập trung chú ý thở bằng
ngực; các bài tập bơi, chạy cự ly trung bình, chạy việt dã có tác dụng tốt đến sự phát
triển của hệ hô hấp [30],[47],[100].
1.3.2. Động cơ và hứng thú học tập của HS.
Trong tâm lý học, động cơ là một vấn đề rất được các nhà khoa học quan
tâm. Các nhà nghiên cứu tâm lý cho rằng động cơ đóng một vai trò quan trọng trong