TÊN DỰ ÁN: BẢO TỒN VÀ PHÁT HUY GIÁ TRỊ CÁC LÀN ĐIỆU DÂN CA
DÂN TỘC MÔNG TỈNH HÀ GIANG
A. PHẦN MỞ ĐẦU
I.
LÍ DO CHỌN ĐỀ TÀI
Dân ca là một loại hình trong kho tàng văn hóa của dân tộc Việt Nam,
dân ca nói chung và dân ca dân tộc thiểu số nói riêng là một phần không thể
thiếu trong đời sống tinh thần của người dân. Nó bắt nguồn và phát triển từ
thực tiễn hoạt động của đời sống xã hội, giao lưu, tiếp biến văn hóa của cộng
đồng.
Dân ca chứa đựng tất cả những giá trị văn hóa truyền thống của một cộng
đồng dân tộc, thông qua đó con người thể hiện khát vọng của mình về một cuộc
sống ấm no, hạnh phúc, con người, thiên nhiên giao hòa. Dân ca Mông là một
bộ phận quan trọng của dân ca Việt Nam, và được lưu truyền qua nhiều thế hệ
và tồn tại cho đến ngày nay. Thời gian gần đây, dân ca các dân tộc thiểu số đã
được nhiều người quan tâm sưu tầm, nghiên cứu và đã đạt được một số kết quả
nhất định.Tuy nhiên phần lớn các đề tài tìm hiểu, nghiên cứu chỉ tập trung vào
việc giới thiệu các làn điệu dân ca hoặc giới thiệu một làn điệu tại một địa
phương nhất định.Việc nghiên cứu tìm hiểu các giá trị tiêu biểu của dân ca ở
phạm vi hẹp tại một tỉnh vẫn chưa có nhiều. Mặt khác, do mỗi tiểu vùng văn
hóa có sắc thái riêng, vì vậy, khi nghiên cứu về dân ca Mông, chúng ta không
thể bỏ qua việc nghiên cứu ở từng địa phương cụ thể.
Chính vì vậy, nghiên cứu về dân ca Mông ở mỗi địa phương là những bước
đi cần thiết và quan trọng để kế thừa, phát huy các giá trị văn hóa tiêu biểu
nhằm mục đích tiến tới xây dựng đời sống văn hóa mới và phát triển du lịch tại
các thôn bản trên địa bàn tỉnh Hà Giang.
1
Giang.
IV. MỤC ĐÍCH NGHIÊN CỨU
2
- Có vốn kiến thức phong phú, sâu sắc về dân tộc Mông tỉnh Hà Giang
- Phát triển du lịch văn hóa dân tộc Mông tỉnh Hà Giang nói chung và cao
nguyên đá Đồng Văn nói riêng.
- Nâng cao nhận thức của cộng đồng về đời sống, những nét văn hóa cổ truyền
và dân ca của dân tộc Mông.
- Quảng bá du lịch Cao nguyên đá Đồng Văn.
- Đề xuất một số giải pháp nhằm bảo tồn và phát huy giá trị của dân ca Mông
tỉnh Hà Giang
V. NHIỆM VỤ NGHIÊN CỨU
Để đạt được các mục tiêu nghiên cứu trên, đề tài cần thực hiện các nhiệm vụ
sau:
- Nghiên cứu về dân tộc Mông, văn hóa dân tộc Mông và dân ca Mông tỉnh Hà
Giang
- Nghiên cứu các giải pháp bảo tồn và phát huy giá trị các làn điệu dân ca Mông, tỉnh
Hà Giang.
VI. PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
Công trình nghiên cứu này được thực hiện dựa trên một số phương pháp nghiên cứu
khoa học cơ bản sau:
- Phương pháp nghiên cứu liên ngành (xã hội học, văn học).
- Phương pháp sưu tầm các nguồn tài liệu, trang ảnh phục vụ cho việc xây dựng
nội dung công trình.
- Phương pháp miêu tả, so sánh, phân tích, tổng hợp để xử lý tư liệu thu được.
- Phương pháp nghiên cứu thực tiễn.
VII. Ý NGHĨA KHOA HỌC VÀ Ý NGHĨA THỰC TIẾN.
1. Ý nghĩa khoa học
Hà Giang là tỉnh miền núi biên giới cực Bắc, nơi địa đầu Tổ quốc có vị trí chiến
lược quan trọng về chính trị, kinh tế, an ninh, quốc phòng của đất nước. Hà Giang có
diện tích tự nhiên là 7.914,88 km2, phía Bắc và Tây Bắc giáp Trung Quốc, có đường
biên giới dài 277,5km, phía Đông giáp tỉnh Cao Bằng, phía Tây giáp tỉnh Lào Cai,
Yên Bái, phía Nam giáp tỉnh Tuyên Quang. Hà Giang có địa hình rất phức tạp và
hiểm trở, có độ cao trung bình từ 1.200 đến 1.600m với nhiều dãy núi đồ sộ. Phía Bắc
của tỉnh là cao nguyên Đồng Văn, độ cao trung bình là 1.600m. Do vậy, hệ thống
đường giao thông đi lại ở đây gặp nhiều khó khăn, đường nhỏ, hẹp và dốc. Khí hậu ở
Hà Giang về cơ bản thuộc vùng nhiệt đới gió mùa. Ở các huyện vùng cao phía Bắc
khí hậu rất khắc nghiệt, số ngày mưa và ngày giá lạnh chiếm phần lớn thời gian trong
năm. Cấu trúc địa hình đã tạo ra cho Hà Giang có nhiều sông, suối, hồ phục vụ cho
đời sống dân cư và tưới tiêu đồng ruộng. Tuy nhiên do sự phân bố không đều nên
vùng cao núi đá phía Bắc của tỉnh rất ít sông suối, hàng năm vào mùa khô thường
thiếu nước nghiêm trọng. Dân số toàn tỉnh tính đến 31/12/2015 là 806.702 người; bao
gồm 19 dân tộc anh em đông nhất là dân tộc Mông.
Nhóm ngôn ngữ chính của các cư dân ở Hà Giang là: Việt – Mường, Tày –
Thái, Mông – Dao, Tạng – Miến, Hoa và các nhóm ngôn ngữ khác. Lịch sử Hà Giang
là một dòng chảy liên tục có những đóng góp tích cực vào quá trình dựng nước và giữ
nước của dân tộc Việt Nam. Đồng bào các dân tộc Hà Giang vốn có truyền thống
đoàn kết trong chiến tranh bảo vệ Tổ quốc cũng như trong xây dựng quê hương đất
nước. Nhân dân các dân tộc Hà Giang đã phát huy truyền thống bất khuất, kiên
cường, cùng cả nước đứng lên đấu tranh giành độc lập tự do cho dân tộc, xây dựng và
phát triển đất nước. Trong công cuộc đổi mới, Hà Giang đã có bước phát triển vượt
bậc về mọi mặt. Đời sống của đại bộ phận nhân dân được cải thiện, tăng trưởng kinh
tế cao và liên tục, tỉ lệ đói nghèo giảm, hệ thống chính trị được xây dựng và củng cố
vững chắc. Nền kinh tế của tỉnh tiếp tục tăng trưởng khá, thu ngân sách trên địa bàn
tăng cao, bình quân giai đoạn 2011 - 2015 ước đạt 8,8%. Tổng sản phẩm bình quân
đầu người ước đạt 17,64 triệu đồng. Chương trình xây dựng nông thôn mới được triển
6
với núi non trong mọi đời sống: Sinh hoạt, tình cảm, tập tục và tâm linh. Di cư đến Hà
Giang đã gần 300 năm, giờ đây người Mông coi Hà Giang là quê hương, người Mông
truyền nhau:
"... Con chim có tổ
Người Mông ta cũng có quê
Quê ta Mèo Vạc ... "
Mèo Vạc là nơi tiêu biểu cho các khu định cư của cộng đồng dân tộc Mông ở
Hà Giang. Người Mông quan niệm về vũ trụ: Sở dĩ có trời và đất là do Vua trời cử
ông Chày sinh ra bầu trời và cử bà Chày sinh ra mặt đất, lúc mới được tạo ra mặt đất
hình vuông, 4 góc phẳng phiu, còn bầu trời tròn và nhỏ hơn mặt đất. ông Chày bèn
bảo bà Chày hãy co bớt mặt đất lại để nhỏ bằng mặt trời, bà Chày co lại và đã làm cho
mặt đất lồi lõm: Chỗ cao thành núi, chỗ thấp thành đồng bằng, chỗ hằn sâu thành
sông, suối, ao, hồ, chỗ lõm sâu thành biển cả ... và sau đó con người được sinh ra đó
là quan niệm thô sơ, ban đầu của người Mông cũng như một số dân tộc khác khi giải
thích về vũ trụ thời kỳ trước đây.
CHƯƠNG II: NHỮNG NÉT ĐẶC SẮC VỀ VĂN HÓA DÂN TỘC MÔNG
TỈNH HÀ GIANG
1. Bản, làng và nhà của người Mông ở Hà Giang
Người Mông gọi bản là giao, mỗi giao từ vài chục nóc nhà đến vài trăm nóc
nhà quây quần bên nhau. Cũng có khi các nóc nhà được phân bố theo cụm chừng vài
7
ba nhà trên một khu vực ở rải rác ven sườn núi, đồi. Nơi được chọn lập làng là nơi có
nguồn nước sinh hoạt cho cả người lẫn gia súc. Đất làng là toàn bộ những gì thuộc
nhà phải là người đầu tiên đích thân nhóm lửa vào các bếp để khai mở cuộc sống cho
ngôi nhà mới.
Hình ảnh: Nhà của người Mông trên cao nguyên đá Đồng Văn – Hà Giang
Hình ảnh: Những bước tường rào đá bao quanh ngôi nhà của người Mông
2. Hoạt động kinh tế của người Mông Hà Giang
9
Người Mông có tập quán trồng cây xen canh đã lâu đời. Thông thường người ta
trồng ngô có khoảng cách khá thưa, giữa các luống ngô là các loại đậu: cô ve, đậu vàng,
đậu hoà lan. Trên nương lúa thường trồng xen các loại bí, các loại rau xanh... ở nhiều nơi,
xung quanh nương lúa, nương ngô thường được bao bọc bởi cây ý dĩ. Sau khi thu hoạch
vụ hè thu, người ta còn trồng thêm đậu răng ngựa. Việc trồng xen canh không những để có
thêm thực phẩm mà còn làm cho đất tốt hơn. Trong các loại cây công nghiệp, lanh là cây
trồng phổ biến, chiếm một diện tích khá lớn trên đất người Mông sinh sống. Trừ một vài
nhóm Mông trồng bông dệt vải, tất cả các nhóm Mông còn lại đều trồng lanh. Vải lanh
dùng làm váy, may quần áo, khâu bao đựng bột, làm mặt chăn, địu v.v..
Hình ảnh: Trồng ngôn trên cao nguyên đá Đồng Văn
10
Hình ảnh: Những cây ngô sống trên đá núi
Chăn nuôi gia súc ở vùng người Mông khá phát triển. Trâu bò cần cho sức kéo,
Người Mông rất thích uống rượu, đặc biệt là rượu ngô tự tay họ chưng cất, khi uống
dùng bát hay chén, ngày cúng lễ, đám cưới, ma chay đồng bào dùng chén làm bằng
tre.
4. Trang phục của người Mông Hà Giang.
12
Trang phục của người Mông rất sặc sỡ, đa dạng giữa các nhóm. Trang phục cổ
truyền của người phụ nữ Mông gồm: váy, áo xẻ ngực, yếm lưng, có tấm vải che phía
trước và vuông vải nhỏ che lưng phía sau, thắt lưng, khăn quấn đầu, chân vấn xà cạp.
Váy hình nón cụt, xếp nhiều nếp xòe rộng. Nam giới mặc áo khoác ngoài kép và xẻ
ngực, cổ đứng, thường có 4 túi, cài 4 khuy, quần ống rộng. Phụ nữ Mông thường đeo
đồ trang sức như: khuyên tai, vòng cổ, vòng tay, nhẫn đồng, nhẫn bạc, nhẫn vàng.
Nếu trên tay đeo hai nhẫn là đã có vợ hoặc chồng. Phụ nữ thích dùng chiếc ô màu sắc
đep làm vật trang sức cho mình, tạo nên nét duyên dáng. Ngày nay trang phục phụ nữ
Mông có nhiều thay đổi. Bộ phận duy trì trang phục truyền thống đậm nét nhất là
nhóm phụ nữ cao tuổi. Họ vẫn sử dụng trang phục truyền thống trong đời sống sinh
hoạt hay trong ngày lễ tết cổ truyền.
Hình ảnh: Thiếu nữ Mông trong trang phục truyền thống
13
Hình ảnh: Phụ nữ Mông thêu, dệt trang phục truyền thống
5. Tín ngưỡng, tôn giáo của người Mông tỉnh Hà Giang
Tín ngưỡng tôn giáo của người Mông có nhiều nét tương đồng với tín ngưỡng
tôn giáo của các tộc người khác. Trong các hình thức tín ngưỡng truyền thống của
người Mông, việc thờ cúng tổ tiên là một hình thức tôn giáo quan trọng của người
Mông, sự thờ cúng tổ tiên thể hiện trong quan niệm, nghi lễ các điều kiêng kị, huyền
lá thường để cho các cô gái bày tỏ nỗi lòng yêu thương của mình. Trong đêm vắng
lặng hay bên suối buổi hoàng hôn, tiếng đàn lá, khèn môi thật quyến rũ bạn tâm tình,
người thương… Trai gái Mông rất thích tụ họp để hát giao duyên, gọi là gầu plềnh,
đặc biệt những dịp lễ tết, hát giao duyên là một sinh hoạt văn hoá không thể thiếu. Hát
giao duyên bao gồm các hình thức hát tình ca, hát đối đáp để thi thố tài nghệ và cũng
là để trai gái tìm hiểu nhau. Những bài hát thường là sáng tác tức thì, vì thế những
tâm sự thầm kín, những lời ngỏ kín đáo cũng nhân dịp này mà bày tỏ. Những chàng
trai Mông thường thể hiện tài năng của mình bằng những điệu múa khèn rất đặc sắc.
Ngày lễ tết, đám cưới, phiên chợ..., ở cuộc vui nào cũng không thể thiếu các điệu múa
khèn. Các chàng trai vừa thổi khèn vừa đi những đường lượn, vòng quanh giữa đám
đông, khi lui khi tiến nhịp nhàng. Điệu múa khèn như gió mát lướt trên thảm cỏ, như
15
con công chụm chân xoè cánh, như con nai nhảy nhẹ nhàng trong rừng xuân, điệu
khèn khoan nhặt da diết bao giờ cũng làm say đắm lòng người.
Hình ảnh: Trai gái múa khèn Mông
Tết Nguyên đán là ngày hội lớn của người Mông. Hội Gầu tào được tổ chức
vào những ngày đầu năm mới là lễ hội quan trọng của người Mông được tổ chức để
cầu phúc, cầu sức khoẻ, mùa màng bội thu. Hội Gầu tào thường được tổ chức vào
ngày mồng 2 tết và kéo dài từ 2 - 3ngày. Lễ hội diễn ra nhiều sinh hoạt văn hoá dân
gian hấp dẫn như bắn nỏ, múa khèn, hát giao duyên, chọi quay, nhảy đồng... Hội Gầu
tào thu hút hầu hết người dân Mông, từ già tới trẻ, đàn ông và đàn bà, ai cũng được
tham dự trong các trò chơi dành riêng cho mình. Đặc biệt người Mông Hà Giang có
phiên chợ tình (chợ phong lưu) ở Khâu Vai (Mèo Vạc), Lũng Hồ, Du Già tổ chức vào
tháng 2 – 3 âm lịch hàng năm. Chợ tình người đến chợ k hông để bán mua mà để gặp
lại bạn tình xưa. Cả nhà: ông, bà, cha, mẹ, con cái cùng đi, không có sự ghen tuông,
nghi kỵ. Những đôi lứa yêu nhau ngày xưa dù đã lên ông, lên bà, dù đã có vợ, có
“đồng tác giả” với những người sáng tác mà người sáng tác ban đầu không rõ là ai.
Một bài dân ca thường tồn tại với một bản coi như bản gốc, gọi là lòng bản và nhiều
bản được ứng tấu thêm hay sửa đổi gọi là dị bản. Những bài dân ca được nhiều người
yêu thích sẽ được truyền bá đi khắp nơi. Hiện nay các nhạc sĩ đã sáng tác thêm những
lời ca mới dựa trên các làn điệu đã có tạo nên sự đa dạng và phong phú cho dân ca .
Các dịp biểu diễn thường là lễ hội, hát làng nghề ngoài ra thường ngày cũng được hát
lên trong lao động để động viên nhau, hay trong tình yêu đôi lứa, trong tình cảm giữa
người và người. Tuy nhiên mỗi tỉnh thành, dân ca Việt Nam lại có phát âm, giọng nói
và các từ khác nhau nên cũng có thể phân theo tỉnh cho dễ gọi vì nó cũng có tính
chung của miền Bắc, miền Trung và miền Nam. Ngày nay, khi khảo sát một bài dân
ca được phổ biến ở một vùng nào đó, muốn biết được xuất xứ của chúng, người ta
thường dựa vào một vài đặc điểm có trong đó ví dụ như tiếng địa phương, những địa
18
danh. Đây là cách dễ nhận biết nhất để nhận ra xuất xứ của một bài dân ca. Nói chung
trong các bài dân ca miền Bắc thường có những từ đệm như: “rằng, thì, chứ...” và các
dấu giọng như: sắc, huyền, hỏi, ngã, nặng được dệt bới những nốt nhạc sao cho việc
phát âm được rõ nét. Một số phụ âm được phát âm một cách đặc thù như: “r, d, gi”
hay “s và x” phát âm giống nhau, không phân biệt nặng nhẹ. Dân ca miền Trung thì
thường có chữ “ ni, nớ, răng, rứa...” dấu sắc được đọc thành dấu hỏi (so với giọng
người Bắc), dấu hỏi và ngã đều được đọc giống nhau và trầm hơn chữ không dấu.
Những bài dân ca miền Nam thì thường có chữ “má (mẹ), bậu (em), đặng (được)...”
chữ “ê” đọc thành chữ “ơ”, dấu ngã đọc thành dấu hỏi,... Nhưng nhìn chung thì vẫn là
thoát thai từ lòng dân với đậm tính chất mộc mạc giản dị của họ.
Theo GS.TS Trần Quang Hải làm việc tại Trung tâm Quốc gia Nghiên cứu
khoa học về Sơ lược về dân ca Việt Nam: “Dân ca là những bài hát, khúc ca được
sáng tác và lưu truyền trong dân gian mà không thuộc về riêng một tác giả nào. Đầu
tiên bài hát có thể do một người nghĩ ra rồi truyền miệng qua nhiều người từ đời này
qua đời khác và được phổ biến ở từng vùng, từng dân tộc… Các bài dân ca được gọt
Dân ca nghi lễ - phong tục: gắn với các sinh hoạt nghi lễ - phong tục, giúp con
người thực hiện các thủ tục mang tính tâm linh thông qua các bài ca, dân ca nghi lễ phong tục ra đời từ rất sớm.
Dân ca lao động: phản ánh sinh hoạt lao động của đồng bào các dân tộc, có thể
gắn với lao động nhưng cũng có thể gắn với các các sinh hoạt văn hóa dân gian khác.
Dân ca giao duyên: sử dụng trong việc giao duyên của các đôi trai gái, có thể
được trình diễn theo những nguyên tắc nghiêm ngặt nhưng cũng có thể được trình
diễn một cách tự do, ngẫu hứng, chứa đựng tình yêu đôi lứa, quê hương.
II. Đặc điểm về dân ca Mông
1.1. Khái quát về dân ca Mông
20
Trong mỗi vùng, mỗi dân tộc đều có những vốn văn hóa truyền thống độc đáo
riêng, việc đó tạo thành bản sắc văn hóa của mỗi dân tộc và từng vùng. Dân ca là một
trong những thứ “đặc sản” của dân tộc Mông, tập trung nhiều nhất ở Hà Giang, Tuyên
Quang, Lào Cai, Sơn La,Yên Bái...
Vậy dân ca Mông là gì?
Nhà nghiên cứu Trần Hữu Sơn, đã nêu lên quan niệm về dân ca Mông như sau:
“Dân ca Mông là những bài hát do nhân dân tự sáng tác và lưu truyền trong dân gian.
Các bài ca này có phần lời ca, âm nhạc và cả nghệ thuật diễn xướng” [50; tr130].
Có thể nói, đời sống người Mông không thể thiếu lời ca tiếng hát, vui cũng
như buồn. Vì vậy, ngay từ khi xuất hiện người Mông thì cũng xuất hiện dân ca
Hmông, dân ca Mông đã trở thành một món ăn tinh thần không thể thiếu trong đời
sống sinh hoạt của họ. Mặc dù trước kia chưa có chữ viết nhưng nền dân ca ấy vẫn
lưu truyền một cách rộng rãi, nội dung lời hát được ổn định.
Phương thức diễn xướng được thể hiện chủ yếu dưới hai dạng thức (hát có lề
lối và hát tự do) và diễn xướng trong môi trường thực hành.
- Những bài dân ca được được thể hiện trong những dịp hội hè, trong đám cưới
và tang ma là những bài dân ca được hát theo lề lối.
Nôngs zangx zuôr tsil muôx qơư điz
Nyei cur chêr chiêx luôs gâux luôs nhangz tangs
Caox tuôx zuôr tsil muôx luz qơư njiz,
22
Nôngs zangx zuôr tsil muôx qơư kuôx
Nyei cur chêr chiêx luôs gâux luôs nhangz tangs
Caox zuôr tsil muôx luz qơư tuôx.
(Người Di người Hán sắp chạy
Họ bỏ đám ruộng không làm
Con chim dà dua không còn nơi kêu
Em thành dâu thành vợ người rồi
Anh về còn đâu nơi gặp nhau,
Con chim dà dua không còn nơi hót
Em thành dâu thành vợ người xong
Anh về còn đâu chốn gặp được)...
[Ziv nzux siêz; 323]
Tiếng hát mồ côi (gầu tú giua): là tiếng hát của những thân phận em út trong cổ
tích, là nỗi thống khổ của những mảnh đời không cha mẹ, không người thân thích, là
lời kêu gọi cộng đồng và xã hội hãy quan tâm hơn nữa đến những đứa trẻ mồ côi.
Dưới đây là những lời kể lể, tâm sự của những mảnh đời mồ côi bất hạnh:
Luôs muôx niêv muôs txi
Luôs uô jông nênhx cxiêz niês puôl shông
Njaox njuôl cur nor tsil muôx niêv tsil muôx txi
23
Caox txưv pangx flu ntir têl maol nhôngl xưl trêr pangx nhiês
Nxeil gâux tangz tiêl
Zaos cur naox cur niêv mil cur pư cur txir ntiês.
(Đrâu Mông rằng gầu Mông
Bố mẹ em ăn gì sinh ra em
Để mặt mũi chân tay em mượt mà như hoa giấy đỏ
Gầu Mông rằng
Đó là em bú sữa mẹ em ngủ lòng bố em,
Cho chân tay mặt mũi mượt mà tựa giấy bạc hoa
Gầu Mông rằng
Đó là em bú sữa mẹ em ngủ lòng của ba)…
[Thiêx zuôr tâu caox; 75]
Ở bài ca trên ta thấy sự luân phiên hỏi - đáp giữa cô gái và chàng trai Mông
trong tình yêu. Nội dung đối – đáp như sau:
Đrâu Mông (anh): hỏi về việc Gâu Mông (em) nguyên do cớ vì sao mà mặt mũi
chân tay mượt mà như hoa giấy đỏ?
Đáp lại câu hỏi của Đrâu Mông, Gầu Mông trả lời: sự xinh đẹp đó là do em bú
sữa mẹ, ngủ lòng bố em.
25