LUẬN án TIẾN sĩ PHÁT TRIỂN KHOA học và CÔNG NGHỆ dân DỤNG gắn với TĂNG CƯỜNG TIỀM lực KHOA học kỹ THUẬT và CÔNG NGHỆ QUÂN sự VIỆT NAM - Pdf 40

NHỮNG CHỮ VIẾT TẮT
Viết đầy đủ

Viết tắt

Chính trị Quốc gia

CTQG

Công nghệ cao

CNC

Công nghiệp hoá, hiện đại hoá

CNH, HĐH

Công nghiệp quốc phòng

CNQP

Khoa học và công nghệ

KH&CN

Khoa học và công nghệ dân dụng

KH&CNDD

Khoa học và công nghệ lưỡng dụng


Quân đội nhân dân

QĐND

Xã hội chủ nghĩa

XHCN

Trang

tr.

Tư bản chủ nghĩa

TBCN

Vũ khí, trang bị kỹ thuật quân sự

VKTBKTQS

Nghiên cứu - phát triển

R&D


2

MỤC LỤC
Trang
MỞ ĐẦU


2.2 Nguyên nhân và một số vấn đề đặt ra

105

Chương 3 QUAN ĐIỂM VÀ GIẢI PHÁP VỀ PHÁT TRIỂN KHOA

HỌC VÀ CÔNG NGHỆ DÂN DỤNG GẮN VỚI TĂNG
CƯỜNG TIỀM LỰC KHOA HỌC KỸ THUẬT VÀ CÔNG
NGHỆ QUÂN SỰ VIỆT NAM

131

3.1 Những quan điểm cơ bản chỉ đạo quá trình phát triển
khoa học và công nghệ dân dụng gắn với tăng cường
tiềm lực khoa học kỹ thuật và công nghệ quân sự Việt 131
Nam
3.2 Một số giải pháp chủ yếu nhằm thực hiện tốt hơn vấn đề
phát triển khoa học và công nghệ dân dụng gắn với tăng
cường tiềm lực khoa học kỹ thuật và công nghệ quân sự
Việt Nam
142
KẾT LUẬN
DANH MỤC CÁC CÔNG TRÌNH NGHIÊN CỨU CỦA TÁC GIẢ
ĐÃ ĐƯỢC CÔNG BỐ CÓ LIÊN QUAN ĐẾN ĐỀ TÀI LUẬN ÁN
DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO

183
185
186

khăn. Tình hình trên nếu không được nhận thức, đánh giá và có giải pháp
khắc phục kịp thời thì phát triển KH&CNDD không những rất khó có thể tạo
nên một bộ phận tiềm tàng mạnh của tiềm lực KHKT&CNQS, mà sự hợp tác,
hỗ trợ của nó cho phát triển bộ phận hiện có cũng như khả năng đảm đương
các nhiệm vụ KTQS của các tổ chức kinh tế, KH&CNDD khi yêu cầu đặt ra


4

cũng sẽ bị hạn chế. Thời bình đã vậy, khi đất nước xảy ra chiến tranh, vấn đề
tạo sức mạnh quân sự để chiến thắng kẻ thù sẽ rất phức tạp và sẽ càng phức
tạp hơn nếu chúng ta đặt vấn đề này trong điều kiện sự phát triển của
KH&CN, bối cảnh toàn cầu hoá, xu thế hội nhập và nền kinh tế thị trường
định hướng XHCN ở Việt Nam những năm tới. Có thể nói rằng, quá trình hội
nhập kinh tế trong bối cảnh toàn cầu hoá sẽ làm cho áp lực cạnh tranh trong
điều kiện nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa ở Việt Nam trở
nên gay gắt hơn. Điều đó đương nhiên dẫn đến việc thực hiện kết hợp kinh tế
với quốc phòng nói chung, phát triển KH&CNDD gắn với tăng cường tiềm
lực KHKT&CNQS nói riêng sẽ khó khăn hơn rất nhiều, mặc dù bên cạnh đó
vẫn có những cơ hội lớn. Áp lực cạnh tranh sinh tồn có thể làm cho các hoạt
động phát triển KH&CNDD chỉ còn thuần tuý mang ý nghĩa kinh tế và chính
điều đó sẽ tạo ra những khó khăn lớn hơn nữa để thực hiện phát triển
KH&CNDD gắn với tăng cường tiềm lực KHKT&CNQS, trong khi yêu cầu
tăng cường tiềm lực KHKT&CNQS lại đòi hỏi cần đạt đến mức độ ngày càng
sâu hơn. Trong bối cảnh đó, việc quan tâm nghiên cứu và tìm ra các giải pháp
nhằm tăng cường sự gắn kết giữa phát triển KH&CNDD với các yêu cầu về
xây dựng, phát triển tiềm lực KHKT&CNQS Việt Nam là hết sức cần thiết.
Với lý do trên, vấn đề "Phát triển khoa học và công nghệ dân dụng
gắn với tăng cường tiềm lực khoa học kỹ thuật và công nghệ quân sự Việt
Nam" được chọn làm đề tài luận án tiến sĩ kinh tế.

Thông tin Khoa học - Công nghệ - Môi trường (Bộ Quốc phòng), tạp chí
“Kiến thức quốc phòng hiện đại” của Tổng cục II (Bộ Quốc phòng), Thông
tin Khoa học KTQS của Tổng cục Kỹ thuật Quân đội nhân dân Việt Nam….
Để tiếp cận với các công trình được viết bằng tiếng nước ngoài khác, có thể
truy cập trên mạng Internet qua webside của các tập đoàn kinh tế lớn (Boeing
của Mỹ, ZiL của Nga…), các trường đại học danh tiếng (Havớt của Mỹ,
Hanovơ của Đức..) hoặc các webside như: balse curity.org,…
Do số lượng các công trình khoa học của các tác giả là người nước ngoài rất
phong phú nên trong luận án này chỉ nêu một vài công trình điển hình. Tháng


6

12/1993, tạp chí “ZVO” (Liên Xô cũ) có bài “Công nghệ sinh học với mục
đích quân sự” của V. Xecgievxki viết về Bộ quốc phòng Mỹ với việc nghiên
cứu ứng dụng những tiến bộ mới trong công nghệ sinh học vào các hoạt động
quân sự để tăng độ bền của các khí tài trên biển hay chế tác các sản phẩm vũ
khí siêu vi trùng. Tháng 10/1986, trên tạp chí “Thông tin Khoa học Quân sự
nước ngoài”,
tác giả Chu Thiện Bách (Trung Quốc) đã dịch bài của nhà nghiên cứu người
Nga G.A Cabacôvich viết về “Đào tạo chuyên gia quân sự trong các trường
đại học dân sự ở Nga”. Trong công trình khoa học này, vấn đề đào tạo chuyên
gia quân sự, trong đó có các chuyên gia thuộc lĩnh vực KTQS ở trên 1000
trường đại học dân sự của Nga đã được tác giả đề cập đến. Tháng 3/1998, tạp
chí “Quân sự hiện đại”, số 3.1998 của Trung Quốc đăng bài “Công nghiệp
quân sự Nhật Bản” của Trịnh Kiệt Quang (công trình này đã được Lê Minh
dịch ra tiếng Việt và đăng trên tạp chí “Quân sự nước ngoài”, số 5/1998). Ở
đó, Trịnh Kiệt Quang đã nêu bật cách thức, biện pháp xây dựng và phát triển
nền công nghiệp quốc phòng Nhật Bản thông qua việc xây dựng tiềm năng đó
trong các tập đoàn kinh tế lớn. Tháng 12/3003, tạp chí "Signal" (Anh) đăng

nghiên cứu bàn về việc phát triển các ngành, các lĩnh vực KH&CN, trong đó
có các ngành, lĩnh vực KH&CN có vai trò là nền tảng cho việc xây dựng và
phát triển tiềm lực KHKT&CNQS. Kết quả thực hiện các đề tài thuộc chương
trình KH&CN, đề tài độc lập cấp nhà nước, các đề tài cấp bộ, ngành, cơ sở
trong thời gian qua đã nói lên điều đó. Ví dụ như: Đề tài nghiên cứu khoa học
và phát triển công nghệ chế tạo máy, mã số KC.05, thuộc chương trình
KH&CN cấp Nhà nước giai đoạn 2001-2005 của Tiến sĩ Nguyễn Quang
Thanh (được phê duyệt theo quyết định số 1765/QĐ - BKHCN ngày
28/9/2004 của Bộ trưởng Bộ KH&CN) đã đề cập đến vấn đề “Nghiên cứu
thiết kế và công nghệ chế tạo cụm hộp số cho các loại xe ô tô thông dụng”. Sự
thành công của đề tài này, ngoài ý nghĩa về kinh tế còn có thể ứng dụng để
thiết kế chế tạo cụm hộp số của các chủng loại xe quân sự. Tuy nhiên, cũng
cần phải thấy rằng, đây là công trình nghiên cứu mang tính chất thuần tuý về
mặt chuyên môn kỹ thuật chứ chưa phải dưới góc độ khoa học xã hội. Thời
gian qua cũng có một số lượng tương đối khá các công trình của các nhà khoa


9

học quân sự đã tập trung nghiên cứu các vấn đề xung quanh phát triển kinh tế
nói chung, KH&CN nói riêng và tác động của nó đến tăng cường củng cố
quốc phòng. Mặc dù vậy, có thể nói vấn đề phát triển KH&CNDD gắn với
tăng cường tiềm lực KHKT&CNQS vẫn chưa được đề cập một cách cụ thể.
Trên góc độ luận án, luận văn. Điển hình là, luận án Tiến sĩ kinh tế (1998)
của tác giả Trần Trung Tín trực tiếp bàn về "Kết hợp kinh tế với quốc phòng
ở nước ta hiện nay". Công trình đã đề cập một cách tổng thể vấn đề kết hợp
kinh tế với quốc phòng ở nước ta. Nhưng, do tính chất rộng lớn của vấn đề,
tác giả chưa có điều kiện đi sâu từng lĩnh vực cụ thể, trong đó có lĩnh vực
KH&CN mà trực tiếp là sự phát triển của KH&CNDD và gắn kết quá trình
phát triển đó với các yêu cầu về tăng cường tiềm lực KHKT&CNQS Việt

mà hiện chưa có công trình khoa học nào thuộc lĩnh vực khoa học xã hội và
nhân văn quân sự trực tiếp nghiên cứu một cách hệ thống, toàn diện.
3. Mục đích, nhiệm vụ, đối tượng và phạm vi nghiên cứu của luận án
Mục đích:
Làm rõ cơ sở lý luận và thực tiễn về phát triển KH&CNDD gắn với tăng
cường tiềm lực KHKT&CNQS. Trên cơ sở đó, đề xuất quan điểm cơ bản và
giải pháp chủ yếu để thực hiện tốt hơn vấn đề phát triển KH&CNDD gắn với
tăng cường tiềm lực KHKT&CNQS Việt Nam, góp phần nâng cao sức mạnh
quốc phòng, thực hiện thắng lợi nhiệm vụ bảo vệ Tổ quốc trong tình hình
mới.
Nhiệm vụ:
- Luận giải cơ sở lý luận và thực tiễn phát triển KH&CNDD gắn với tăng
cường tiềm lực KHKT&CNQS Việt Nam hiện nay.
- Phân tích thực trạng phát triển KH&CNDD gắn với tăng cường tiềm
lực KHKT&CNQS Việt Nam giai đoạn từ 1990 đến nay.
- Đề xuất một số quan điểm cơ bản và giải pháp chủ yếu nhằm tăng
cường sự gắn kết giữa phát triển KH&CNDD với các yêu cầu về xây dựng và
phát triển tiềm lực KHKT&CNQS đáp ứng yêu cầu nhiệm vụ bảo vệ Tổ quốc.
Đối tượng và phạm vi nghiên cứu:


11

Đối tượng nghiên cứu của đề tài luận án là hoạt động kết hợp kinh tế với
quốc phòng trong phát triển KH&CN, trực tiếp là phát triển của KH&CNDD
trong mối liên hệ với tăng cường tiềm lực KHKT&CNQS Việt Nam. Nghiên
cứu của luận án sẽ tập trung vào trọng tâm là sự gắn kết giữa quá trình phát triển
KH&CNDD với các yêu cầu về xây dựng và phát triển tiềm lực KHKT&CNQS
Việt Nam trong giai đoạn cách mạng mới, các góc độ nhìn nhận khác có liên
quan được đề cập ở mức độ cần thiết để phục vụ cho mục đích và nhiệm vụ

giảng dạy kinh tế chính trị, kinh tế quân sự và nhiều môn khoa học khác trong
các nhà trường, kể cả các trường ngoài quân đội.
7. Kết cấu của luận án
Ngoài mở đầu, kết luận, các công trình khoa học của tác giả đã được
công bố, danh mục tài liệu tham khảo, phụ lục, luận án gồm 3 chương, 6 tiết.


13

Chương 1
CƠ SỞ LÝ LUẬN, THỰC TIỄN PHÁT TRIỂN KHOA HỌC
VÀ CÔNG NGHỆ DÂN DỤNG GẮN VỚI TĂNG CƯỜNG TIỀM LỰC
KHOA HỌC KỸ THUẬT VÀ CÔNG NGHỆ QUÂN SỰ VIỆT NAM
1.1. Phát triển khoa học và công nghệ dân dụng gắn với tăng cường
tiềm lực khoa học kỹ thuật và công nghệ quân sự - Những vấn đề chung
1.1.1. Khái niệm và cơ sở khoa học về phát triển khoa học và công nghệ
dân dụng gắn với tăng cường tiềm lực khoa học kỹ thuật và công nghệ quân sự
1.1.1.1. Khái niệm về phát triển khoa học và công nghệ dân dụng gắn
với tăng cường tiềm lực khoa học kỹ thuật và công nghệ quân sự
Để xây dựng khái niệm này, phải bắt đầu từ việc làm rõ về khoa học và
công nghệ dân dụng cũng như phát triển khoa học và công nghệ dân dụng
Hiện nay, trong rất nhiều tài liệu, “khoa học” được coi là “hệ thống tri
thức về các hiện tượng, sự vật, quy luật của tự nhiên, xã hội và tư duy”; “công
nghệ” được hiểu là “tập hợp các phương pháp, quy trình, kỹ năng, bí quyết,
công cụ, phương tiện dùng để biến đổi các nguồn lực thành sản phẩm”[85,
tr.8]. Tuy nhiên, cần phải thấy rằng, bản thân KH&CN luôn là một thể thống
nhất và có thể được nhìn nhận trên các góc độ khác nhau. Từ phương diện
khoa học kinh tế chính trị, có thể nhận thấy, KH&CN là một bộ phận cấu
thành LLSX, được kết tinh trong con người, vật hoá trong tư liệu sản xuất và
biểu hiện ở các sản phẩm hàng hoá, dịch vụ. Với tính chất là một trong các

kinh tế liên tục tăng trưởng, phát triển với KH&CN là động lực. Vì thế, hoạt
động phát triển KH&CNDD luôn diễn ra hàng ngày, hàng giờ xung quanh
chúng ta. "Phát triển" là: “Biến đổi hoặc làm cho biến đổi từ ít đến nhiều, hẹp
đến rộng, thấp đến cao, đơn giản đến phức tạp” [147, tr.743]. Theo tinh thần
của khoản 3, điều 2, chương 1 Luật Khoa học và Công nghệ được Quốc hội
khoá X thông qua ngày 9/6/2000, hoạt động KH&CN nói chung, KH&CNDD
nói riêng bao gồm: Nghiên cứu khoa học và phát triển công nghệ (Reasearch


15

and Development gọi tắt là các hoạt động nghiên cứu – phát triển, viết tắt là
R&D), các hoạt động dịch vụ KH&CN, hoạt động phát huy sáng kiến, cải tiến
kỹ thuật, hợp lý hoá sản xuất và các hoạt động khác nhằm mục đích phát triển
KH&CN. Trên tinh thần đó, phát triển KH&CNDD là sự biến đổi về số
lượng và chất lượng một tập hợp các hoạt động KH&CN nhằm tìm kiếm và
áp dụng các tri thức KH&CN mới vào thực tiễn, tạo ra một năng lực mới của
nền sản xuất xã hội, hướng tới một nền kinh tế phát triển, đáp ứng ngày càng
tốt hơn các nhu cầu của con người. Hoạt động phát triển KH&CNDD diễn ra
trong các viện nghiên cứu, các cơ sở đào tạo nhân lực KH&CN, các cơ sở
công nghiệp, … thuộc nền kinh tế quốc dân, trên cơ sở năng lực của các tổ
chức KH&CN cũng như cá nhân các nhà khoa học và hoạt động tổ chức, quản
lý của nhà nước. Để tiến hành các hoạt động phát triển KH&CNDD thường
phải dựa vào 5 yếu tố: Nhân lực (Men), máy móc thiết bị (Machine), vật liệu
(Material), tiền đầu tư (Money) và quản lý (Management) - gọi tắt là 5M. Cho
nên, đây là quá trình phát triển có liên quan trực tiếp với việc đào tạo, sử dụng
nguồn nhân lực KH&CN, trang bị các loại vật chất cho các hoạt động R&D,
đầu tư tài chính của nhà nước, các tổ chức kinh tế, KH&CN, trong từng
ngành, trên từng lĩnh vực cụ thể cũng như trên phạm vi toàn bộ nền kinh tế và
cơ chế chính sách về KH&CN của nhà nước. Cuối cùng, cho dù kết quả của

nghiên cứu khai thác có hiệu quả phương tiện KTQS, duy trì tính năng chiến kỹ thuật, độ tin cậy, tuổi thọ, khả năng sẵn sàng chiến đấu của vũ khí, phương
tiện KTQS.” [136, tr.423]. Vì “khoa học” và “kỹ thuật” hay “công nghệ” không
tách rời nhau, cho nên, từ các vấn đề trên, có thể nhận thấy: Khoa học kỹ
thuật và công nghệ quân sự là một lĩnh vực thuộc KH&CNQS chuyên nghiên
cứu về các phương tiện chiến tranh, cụ thể là nghiên cứu và giải quyết các
vấn đề về duy trì, phát triển, khai thác sử dụng hệ thống VKTBKTQS cũng
như đảm bảo VKTBKTQS cho các lực lượng chiến đấu và sẵn sàng chiến
đấu.
Hiện nay, có nhiều cách nói khác nhau về "tiềm lực". Nhưng, có thể coi
"tiềm lực" (Potential hoặc Potentiality) là sức mạnh tiềm tàng, khả năng còn


17

chưa bộc lộ ra, sẵn sàng trở thành sức mạnh nếu được khai thác. Nói cách
khác tiềm lực là khả năng về vật chất và tinh thần có thể huy động để tạo
thành sức mạnh nhằm thực hiện một nhiệm vụ nhất định. Như vậy, có thể
khẳng định: Tiềm lực KHKT&CNQS là khả năng về KH&CN của đất nước
có thể huy động vào việc duy trì, phát triển và làm chủ quá trình khai thác sử
dụng hệ thống VKTBKTQS theo yêu cầu của chiến tranh hay các hoạt động
quốc phòng. Tiềm lực KHKT&CNQS được tích hợp trong hai khả năng: Hiện
có và tiềm tàng. Khả năng hiện có của tiềm lực KHKT&CNQS là thực lực về
KHKT&CNQS mà quân đội đang nắm giữ để duy trì, phát triển và làm chủ hệ
thống VKTBKTQS theo yêu cầu nhiệm vụ sẵn sàng chiến đấu. Phần năng lực
KHKT&CNQS đang được dự trữ trong quân đội và khả năng có thể huy động
các tổ chức kinh tế, KH&CN thuộc nền kinh tế quốc dân tham gia giải quyết
các nhịêm vụ KTQS là khả năng tiềm tàng. Tiềm lực KHKT&CNQS được
đặc trưng bằng nguồn nhân lực, vật lực, tài lực, tin lực, tổ chức và sự phân bố
các nguồn lực này trong nền kinh tế cũng như trên các địa bàn thuộc lãnh thổ
theo yêu cầu chiến thuật, nghệ thuật quân sự. Trên phương diện các tổ chức

xã hội với mục đích góp phần tạo ra ngày càng nhiều của cải vật chất cho đời
sống dân sinh. Hoạt động này có thể gắn kết được với các yêu cầu về xây
dựng và phát triển tiềm lực KHKT&CNQS là do KH&CNDD, KHKT&CNQS
có sự giống nhau về chất và tương đồng về đối tượng nghiên cứu. Thực tế cho
thấy, hai lĩnh vực KH&CN này đều là các bộ phận hợp thành của nền
KH&CN quốc gia, chúng được xây dựng và phát triển trên cơ sở ứng dụng tri
thức khoa học cơ bản vào thực tiễn các hoạt động khác nhau của con người.
Thực tế còn cho thấy, có những thành tựu nghiên cứu chỉ được ứng dụng
trong thực tiễn sản xuất vật chất hay chiến đấu, nhưng cũng có những khám
phá có thể ứng dụng được cho cả hai lĩnh vực. Chính điều này đã làm cho sự
phân loại hệ thống KH&CN bao giờ cũng chỉ mang tính chất tương đối, có
một vùng giao thoa nhất định giữa KH&CNDD với KH&CNQS, đó là
KH&CNLD - một bộ phận của nền KH&CN bao gồm các ngành, các lĩnh vực
mà thành tựu phát triển của chúng có thể vận dụng cho cả phát triển kinh tế và


19

tăng cường củng cố quốc phòng. Nếu phân tích sâu hơn vấn đề này, có thể
nhận thấy, KH&CNDD, KHKT&CNQS còn có sự tương đồng về đối tượng
nghiên cứu. Nhiệm vụ chủ yếu của KH&CNDD là hướng tới sản xuất vật chất
và dịch vụ bằng con đường tạo ra những phương tiện kỹ thuật và phương
pháp công nghệ thích hợp. Đối tượng nghiên cứu của KHKT&CNQS là việc
tạo ra, duy trì sức sống cho các “công cụ” và phương tiện để tiến hành chiến
tranh hay các hoạt động quốc phòng. Mặc dù các công cụ và phương tiện
được dùng trong sản xuất và chiến đấu có sự khác nhau về hình dáng, mẫu
mã... Nhưng, có rất nhiều công cụ, phương tiện để tiến hành chiến tranh hay
các hoạt động quốc phòng có nguồn gốc hay được chế tạo trên cùng một cơ
sở nguyên lý với công cụ và phương tiện dùng trong sản xuất vật chất, cũng
như đời sống dân sinh. Ví dụ, để sản xuất ra máy bay quân sự hay máy bay

KHKT&CNQS là có thể nhưng cần thấy rằng đây không phải là các quá trình
tự thân, cho nên để khả năng đó trở thành hiện thực, nhất thiết phải thông qua
hoạt động nỗ lực chủ quan của con người. Trên tinh thần đó, sự gắn kết giữa
phát triển KH&CNDD với các yêu cầu về tăng cường tiềm lực KHKT&CNQS
không thể thiếu vai trò của Đảng, Nhà nước, quân đội, các tổ chức kinh tế, tổ
chức KH&CNDD cũng như cá nhân các nhà khoa học. Trên cơ sở nhận thức rõ
các vấn đề khách quan, chính các chủ thể này là người hoạch định các chiến
lược, chính sách, tổ chức thực hiện, cũng như quyết định hiệu quả của hoạt động
phát triển, gắn kết đã nêu. Từ những phân tích trên, cho phép rút ra kết luận:
Phát triển KH&CNDD gắn với tăng cường tiềm lực KHKT&CNQS là một
trong các mặt hoạt động kết hợp kinh tế với quốc phòng, là hoạt động nỗ lực
chủ quan của Đảng, Nhà nước, quân đội, các tổ chức kinh tế, các tổ chức
KH&CNDD và cá nhân các nhà khoa học trong việc biến đổi số lượng, chất
lượng các hoạt động KH&CN phục vụ phát triển kinh tế xã hội, đồng thời
hướng tới nâng cao khả năng của quốc gia về nghiên cứu, thiết kế, chế tạo và
làm chủ quá trình khai thác sử dụng, đảm bảo VKTBKTQS cho các lực lượng
vũ trang nhân dân, góp phần tăng cường sức mạnh quốc phòng, bảo vệ Tổ
quốc”. Cần thấy rằng, phát triển KH&CNDD gắn với tăng cường tiềm lực


21

KHKT&CNQS bao gồm hai mặt hoạt động diễn ra đồng thời, đó là phát triển
KH&CNDD và sự gắn kết quá trình phát triển đó với các yêu cầu về xây
dựng, phát triển tiềm lực KHKT&CNQS. Theo lô gíc, việc gắn (hoặc gắn kết)
giữa A và B được tiến hành trên cơ sở mối quan hệ 2 chiều: A gắn với B và
ngược lại. Vì vậy, phát triển KH&CNDD gắn với tăng cường tiềm lực
KHKT&CNQS chỉ là một trong hai chiều của sự gắn kết A, B. Bản chất của
“gắn” không làm cho cái này loại trừ cái kia mà ngược lại, làm cho mối quan
hệ giữa chúng trở nên chặt chẽ hơn. Hoạt động phát triển, gắn kết giữa

hoạt động kết hợp kinh tế với quốc phòng trên lĩnh vực phát triển KH&CN,
có mục tiêu tạo ra và “giấu” khả năng nghiên cứu, thiết kế, chế tạo, làm chủ
quá trình khai thác sử dụng, đảm bảo VKTBKTQS của đất nước trong nền
kinh tế quốc dân, trực tiếp là trong sự phát triển của các ngành kinh tế, các
lĩnh vực KH&CN có quan hệ chuyên môn gần với KTQS.
Hoạt động KH&CN có mối quan hệ mật thiết với thực tiễn sản xuất và
chiến đấu. Điều đó cho thấy, phát triển KH&CNDD gắn với tăng cường tiềm
lực KHKT&CNQS có sự phụ thuộc vào trình độ phát triển của LLSX, tính chất
tiến bộ của QHSX và sự vững mạnh của kiến trúc thượng tầng cùng với đường
lối phát triển kinh tế xã hội, chiến lược quốc phòng, nghệ thuật quân sự của mỗi
quốc gia…. Bên cạnh đó, hoạt động phát triển, gắn kết còn luôn được đặt trong
môi trường kinh tế, chính trị, văn hoá xã hội nhất định. Chính những yếu tố
đó sẽ tác động đến mục tiêu, phương hướng, hiệu quả của hoạt động phát
triển, gắn kết. Đối với nước ta, vấn đề phát triển LLSX, nâng cao năng suất lao
động xã hội, xây dựng thành công QHSX mới, xây dựng nhà nước pháp quyền
của dân, do dân và vì dân cũng như vấn đề chủ động hội nhập kinh tế khu vực và
thế giới trong bối cảnh toàn cầu hoá… có ý nghĩa hết sức quan trọng đối với
hoạt động phát triển KH&CNDD gắn với tăng cường tiềm lực KHKT&CNQS.
1.1.1.2. Cơ sở khách quan của phát triển khoa học và công nghệ dân
dụng gắn với tăng cường tiềm lực khoa học kỹ thuật và công nghệ quân sự


23

Phát triển KH&CNDD gắn với tăng cường tiềm lực KHKT&CNQS mặc
dù là hoạt động chủ quan của con người nhưng hoạt động đó được tiến hành
trên cơ sở các căn cứ khoa học, không chủ quan duy ý trí.
Một là: Xuất phát từ mối quan hệ biện chứng, tác động qua lại, ảnh
hưởng lẫn nhau giữa kinh tế với chiến tranh hay các hoạt động quốc phòng
và việc giải quyết mối quan hệ đó trong thực tiễn.

VKTBKTQS, cũng như tạo ra đội ngũ các nhà khoa học, hệ thống các tổ chức
KH&CN của nền kinh tế quốc dân có khả năng ngày càng cao hơn trong việc hỗ
trợ, tham gia các nhiệm vụ KTQS. Ở một góc độ khác, nhận thấy, để xây dựng và
phát triển tiềm lực KHKT&CNQS, cần phải có tiền, các nhà khoa học cần phải
có cái để ăn, các nhu yếu phẩm đáp ứng nhu cầu sinh hoạt hàng ngày và điều
kiện nghiên cứu như các trang thiết bị, máy móc… Chính quá trình phát triển
kinh tế nói chung, KH&CNDD nói riêng đã tạo nên những điều kiện đó. Rõ
ràng, nếu như kinh tế cung cấp các nguồn lực cho chiến tranh, quốc phòng thì
phát triển KH&CNDD tạo ra điều kiện, tiền đề cho việc xây dựng và phát triển
tiềm lực KHKT&CNQS.
Thứ hai, nếu chiến tranh, quốc phòng có sự tác động trở lại đối với kinh
tế thì vấn đề xây dựng và phát triển tiềm lực KHKT&CNQS cũng luôn có đòi
hỏi riêng đối với sự phát triển của KH&CNDD. Việc nghiên cứu thiết kế, chế
tạo cũng như làm chủ quá trình khai thác sử dụng VKTBKTQS thường được
tiến hành trên nền tảng một tiềm lực KHKT&CNQS, trong khuôn khổ bộ
phận kinh tế quân sự phụ thuộc vào sự phát triển của kinh tế dân sự, trực tiếp
là sự phát triển của KH&CNDD. Với mỗi nền kinh tế, ở một trình độ phát
triển của LLSX với những bước tiến đạt được về KH&CN nói chung,
KH&CNDD nói riêng, người ta chỉ có thể tạo dựng được một tiềm lực
KHKT&CNQS tương ứng. Tuy nhiên, trong mỗi hoàn cảnh cụ thể, với mỗi
nước việc xây dựng và phát triển tiềm lực KHKT&CNQS luôn có những đòi
hỏi riêng và chính đòi hỏi riêng này lại đặt ra những yêu cầu mới đối với phát
triển kinh tế cũng như KH&CNDD với vai trò là nền tảng. Sở dĩ thế là vì
VKTBKTQS là các sản phẩm đặc biệt của quá trình sản xuất vật chất nói


25

chung, sản xuất quân sự nói riêng. Việc sản xuất, khai thác sử dụng chúng
thường được tiến hành trên cơ sở các tri thức KH&CN tiên tiến của thời đại,


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status