luận án tiến sĩ phát triển nguồn nhân lực khoa học và công nghệ quân sự việt nam - Pdf 67

LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan đây là công trình
nghiên cứu độc lập của tác giả. Các số liệu, kết
quả nêu ra trong luận án là trung thực, có
nguồn gốc, xuất xứ rõ ràng.
Hà Nội, ngày

tháng

năm 2020

TÁC GIẢ LUẬN ÁN

Nguyễn Quang Tạo


2

DANH MỤC CHỮ VIẾT TẮT

TT
1
2
3
4
5
6
7
8
9
10

KH&CN
KTCN
KTXH
NNL
NTQS
QPTD
XHCN
XHNV
YDHQS


3

MỤC LỤC

Trang
TRANG BÌA PHỤ
LỜI CAM ĐOAN
DANH MỤC CÁC CHỮ VIẾT TẮT
DANH MỤC CÁC BẢNG SỐ LIỆU
MỤC LỤC
MỞ ĐẦU
Chương 1 TỔNG QUAN TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU CÓ LIÊN
QUAN ĐẾN ĐỀ TÀI
1.1.
Một số công trình khoa học nước ngoài liên quan đến đề tài luận án
1.2.
Một số công trình khoa học trong nước liên quan đến đề tài luận án
1.3.
Khái quát kết quả nghiên cứu của các công trình khoa học

quân sự Việt Nam
KẾT LUẬN
DANH MỤC CÁC CÔNG TRÌNH KHOA HỌC CỦA TÁC GIẢ ĐÃ
CÔNG BỐ CÓ LIÊN QUAN ĐẾN ĐỀ TÀI
DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO
PHỤ LỤC

5
12
12
18
28
32
32
42
60
71
71
89
110
110
118
154
156
157
170


4


82

5

Việt Nam giai đoạn 2008 - 2018
Bảng 3.5. Cơ cấu giới tính của NNL KH&CN quân sự

83

6

Việt Nam giai đoạn 2008 - 2018
Bảng 3.6. Cơ cấu chuyên ngành của NNL KH&CN
quân sự Việt Nam giai đoạn 2008 - 2018

83


5

MỞ ĐẦU

1. Lý do lựa chọn đề tài luận án
Nguồn nhân lực KH&CN quân sự là nhân tố quan trọng hàng đầu tạo
nên tiềm lực KH&CN quân sự Việt Nam; góp phần xây dựng, phát triển
KH&CN quốc gia. Với tầm nhìn chiến lược, ngay sau khi nước nhà giành
được độc lập, Đảng ta và Chủ tịch Hồ Chí Minh đã sớm quan tâm tới việc thu
hút, trọng dụng nhiều trí thức, nhân tài làm nòng cốt, đặt nền móng xây dựng,
phát triển KH&CN quân sự Việt Nam qua các thời kỳ. Trong hai cuộc kháng
chiến vĩ đại của dân tộc, cán bộ, chiến sĩ hoạt động trong lĩnh vực KH&CN

NNL chất lượng cao làm động lực chủ yếu, Đại hội XII của Đảng xác định,
“phát triển NNL, nhất là NNL chất lượng cao” [31, tr.214] là một trong những
nhiệm vụ trọng tâm, tạo nền tảng phát triển bền vững, tăng cường tiềm lực
quốc phòng theo hướng độc lập, tự chủ, tự lực, tự cường và hội nhập quốc tế.
Theo đó, phát triển NNL KH&CN quân sự Việt Nam là quá trình hiện thực
hóa chủ trương phát triển NNL chất lượng cao của Đảng, Nhà nước. Tuy
nhiên, trước bối cảnh nước ta hội nhập quốc tế ngày càng sâu rộng, toàn diện
hơn, cùng với thời cơ, thuận lợi, việc phát triển NNL KH&CN quân sự Việt
Nam sẽ phải đối mặt với không ít khó khăn, thách thức gay gắt. Để phát triển
NNL KH&CN quân sự Việt Nam đáp ứng yêu cầu xây dựng Quân đội nhân
dân Việt Nam “cách mạng, chính quy, tinh nhuệ, từng bước hiện đại; ưu tiên
hiện đại hóa một số quân chủng, binh chủng, lực lượng” [31, tr.308], làm
nòng cốt xây dựng nền quốc phòng toàn dân vững mạnh cần có quan điểm,
giải pháp đồng bộ, triển khai thực hiện thống nhất từ Trung ương đến cơ sở.
Nhận thức rõ thực trạng và yêu cầu cấp thiết của nhiệm vụ này, thời
gian gần đây đã có một số công trình nghiên cứu liên quan đến phát triển
NNL KH&CN quân sự Việt Nam. Song, do mục tiêu, đối tượng, phạm vi
nghiên cứu và cách tiếp cận khác nhau, nên cho đến nay vấn đề phát triển
NNL KH&CN quân sự Việt Nam chưa được nghiên cứu một cách cơ bản, hệ
thống, đặc biệt là dưới góc độ khoa học kinh tế chính trị. Thực tiễn và
“khoảng trống” khoa học đó đặt ra yêu cầu phải có sự nghiên cứu một cách cơ
bản, hệ thống nhằm làm rõ cơ sở lý luận về phát triển NNL KH&CN quân sự


7

Việt Nam; từ đó đề xuất quan điểm và giải pháp phát triển NNL này đáp ứng
yêu cầu nhiệm vụ đặt ra trong tình hình mới.
Từ những nhận thức trên, tác giả lựa chọn vấn đề: “Phát triển nguồn
nhân lực khoa học và công nghệ quân sự Việt Nam” làm đề tài luận án tiến

tiếp tham gia hoạt động KH&CN quân sự ở Việt Nam. Việc điều tra, khảo sát,
đánh giá thực trạng được tiến hành ở một số tổ chức KH&CN quân sự và cơ sở
giáo dục đại học trong quân đội.
Về thời gian: Các tài liệu, số liệu đánh giá thực trạng phát triển NNL
KH&CN quân sự Việt Nam được thu thập từ năm 2008 đến năm 2018.
4. Cơ sở lý luận, thực tiễn và phương pháp nghiên cứu
Cơ sở lý luận: Luận án dựa trên lý luận chủ nghĩa Mác - Lênin, tư
tưởng Hồ Chí Minh, quan điểm, chủ trương của Đảng, Nhà nước về phát triển
NNL KH&CN; các chỉ thị, nghị quyết, hướng dẫn của Quân uỷ Trung ương,
Bộ Quốc phòng, Tổng cục Chính trị về xây dựng đội ngũ cán bộ nói chung,
phát triển NNL KH&CN quân sự nói riêng.
Cơ sở thực tiễn: Thực tiễn phát triển NNL KH&CN quân sự Việt Nam
ở một số tổ chức KH&CN và cơ sở giáo dục đại học trong hệ thống nhà
trường quân đội được phản ánh qua số liệu thống kế trong các báo cáo tổng
kết hàng năm và báo cáo tổng kết giai đoạn; các đánh giá của Quân ủy Trung
ương, Bộ Quốc phòng, Bộ Tổng tham mưu, các cơ quan Tổng cục; đồng thời
thông qua điều tra, khảo sát thực tiễn của nghiên cứu sinh.
Phương pháp nghiên cứu
Phương pháp duy vật biện chứng và duy vật lịch sử là phương pháp
nghiên cứu chung của luận án. Trên cơ sở đó, luận án sử dụng phương pháp
đặc thù của khoa học kinh tế chính trị là phương pháp trừu tượng hóa khoa
học, kết hợp với các phương pháp khác như: tiếp cận hệ thống; phân tích,
tổng hợp; lịch sử - lôgic; thống kê, so sánh; phương pháp chuyên gia.
Phương pháp trừu tượng hóa khoa học được sử dụng trong toàn bộ
luận án với mục đích gạt bỏ những vấn đề không cơ bản, bản chất để tập trung
nghiên cứu những vấn đề cơ bản, bản chất liên quan đến phát triển NNLL
KH&CN quân sự Việt Nam. Phương pháp này sử dụng trong việc giới hạn
mục đích, nhiệm vụ, phạm vi nghiên cứu ở phần mở đầu; xây dựng quan



chương 3, chương 4 của luận án, phương pháp này được sử dụng trong thực


10

hiện các nhiệm vụ nghiên cứu đề ra; đặc biệt là chỉ rõ những thành tựu, hạn
chế trong phát triển NNL KH&CN quân sự.
Phương pháp lịch sử, lôgic được sử dụng chủ yếu ở chương 1, chương
2 và chương 3 nhằm nghiên cứu quá trình hình thành, phát triển những vấn đề
lý luận có liên quan đến luận án như: quan niệm NNL, phát triển NNL, quan
niệm NNL KH&CN, NLL KH&CN quân sự, phát triển NNL KH&CN quân
sự. Đồng thời, nghiên cứu thực tiễn phát triển NNL KH&CN quân sự Việt
Nam qua từng giai đoạn lịch sử. Việc sử dụng phương pháp này cho phép
nghiên cứu sinh phân tích, đánh giá các hoạt động phát triển NNL KH&CN
quân sự Việt Nam trong bối cảnh lịch sử cụ thể, gắn với yêu cầu nhiệm vụ
KH&CN quân sự, xây dựng quân đội, củng cố quốc phòng, bảo vệ Tổ quốc.
Phương pháp thống kê, so sánh được sử dụng ở cả phần lý luận và thực
trạng của luận án. Trong phần lý luận, việc thống kê, so sánh cho phép nghiên cứu
sinh tiếp cận được với nhiều lý thuyết khác nhau về vấn đề nghiên cứu, từ đó rút
ra “khoảng trống” lý luận cho luận án. Trong phần thực trạng, phương pháp thống
kê, so sánh được sử dụng nhằm đánh giá chính xác, khách quan sự phát triển NNL
KH&CN quân sự qua các thời kỳ. Với việc thống kê, so sánh số liệu cập nhật,
khách quan cho phép tác giả đánh giá chính xác thành tựu, hạn chế trong phát
triển NNL KH&CN quân sự, từ đó chỉ rõ những nguyên nhân và những vấn đề
đặt ra từ thực trạng để có quan điểm và giải pháp phát triển phù hợp.
Phương pháp chuyên gia được được tác giả sử dụng trong tất cả các
khâu, các bước xây dựng luận án, như: xác định tên đề tài, xây dựng đề cương
sơ bộ, viết tổng quan các vấn đề nghiên cứu, xây dựng đề cương chi tiết và
trong suốt quá trình viết, hoàn thiện luận án. Các chuyên gia đã giúp tác giả
bổ sung kiến thức liên quan đến vấn đề nghiên cứu, lĩnh hội kinh nghiệm,

TỔNG QUAN TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU CÓ LIÊN QUAN ĐẾN ĐỀ TÀI

1.1. Một số công trình khoa học nước ngoài liên quan đến đề tài luận án
1.1.1. Một số công trình khoa học nghiên cứu về nguồn nhân lực
khoa học và công nghệ
Kanchana

Kanchanasut,

Akraya

Nualchawee

and

Pensri

Arunwatanamongkol (2004), Science and Technology Human Resource
Development: E-learning initiative for ASEAN [126]. Ở công trình này, nhóm
tác giả trình bày rõ ý tưởng về Viện Khoa học và Công nghệ Ảo ASEAN
(AVIST) với mong muốn thúc đẩy sử dụng rộng rãi công nghệ thông tin,
truyền thông như: Internet, vệ tinh và các khóa học, chương trình dựa trên
Web để thúc đẩy phát triển NNL KH&CN trong cộng đồng ASEAN. Từ đó
tác giả bài viết đưa ra những gợi ý về chính sách phát triển NNL KH&CN cho
ASEAN thông qua các phương pháp học tập điện tử.
Laura Cruz-Castro, Luis Sanz-Menéndez (2005), Bringing science and
technology human resources back in: the Spanish Ramón y Cajal programme
[127]. Công trình phân tích tình hình NNL KH&CN trong khu vực công của Tây
Ban Nha, chỉ rõ những hạn chế về mặt số lượng, chất lượng và điều kiện làm
việc của NNL này. Một trong những nguyên nhân chính dẫn đến tình trạng giảm

(2011), Human resources in science and technology [117]. Nghiên cứu này
nhằm mục đích thiết lập các ước tính và cung cấp một bức tranh về NNLL
trong KH&CN ở Philippines; cung cấp kiến thức và định hướng chính sách có
giá trị cho cộng đồng khoa học, đặc biệt là các nhà nhân khẩu học, các nhà
nghiên cứu, các nhà khoa học và các nhà hoạch định chính sách. Kết quả
nghiên cứu này có thể được vận dụng trong phát triển NNL KH&CN của các
quốc gia thuộc ASEAN.
Sajit Chandra Debnath (2014), Developing Education and Human
Resources in East Asian Knowledge-based Economies [134]. Bài viết giới
thiệu một số vấn đề chính liên quan đến sự phát triển của giáo dục và NNL
KH&CN trong bối cảnh phát triển kinh tế tri thức ở một số quốc gia Đông Á
như: Nhật Bản, Hàn Quốc, Đài Loan, Hồng Kông và Singapore. Theo tác giả,


14

một nền giáo dục có tính cạnh tranh là điều kiện tiên quyết để phát triển kinh
tế tri thức ở các quốc gia; là con đường, biện pháp phát triển NNL nói chung,
NNL KH&CN nói riêng có chất lượng, có tri thức và kỹ năng, đáp ứng ngày
càng tốt những yêu cầu của kinh tế tri thức. Từ đó, các tác giả đã đưa ra
những khuyến nghị về chính sách nhằm phát triển giáo dục để phát triển
NNL, NNNL KH&CN ở các quốc gia Đông Á.
Organization for Economic Co-operation and Development - OECD
(2015), Frascati Manual 2015: Guidelines for Cogllecting and Reporting
Data on Research and Experimental Development [131]. Trong công trình
này, tổ chức Hợp tác và Phát triển Kinh tế (OECD) đã đưa ra những chỉ dẫn
nhằm thống nhất việc thống kê, báo cáo dữ liệu hoạt động nghiên cứu và phát
triển của các quốc gia. Trong đó, đã đưa ra những quan niệm cơ bản và
phương thức thống kê về nhân lực KH&CN, nhân lực nghiên cứu và phát
triển (R&D). Những quan niệm này của OECD đã được nhiều quốc gia sử

nguồn nhân lực khoa học và công nghệ quân sự
Canada - Department of National Defence (2003), Human Resources
Military [115]. Đây là một công trình nghiên cứu chuyên sâu về NNL quân sự
của Canada; theo đó, tác giả đã đưa ra 12 mục tiêu chiến lược phát triển NNL
quân sự ở Canada. Trong đó mỗi mục tiêu đều hướng tới sự phát triển NNL
quân sự và các hoạt động trong chiến lược quốc phòng. Từ đó, công trình đưa
ra một số khuyến nghị về chính sách phát triển NNL quân sự nhằm đáp ứng
yêu cầu hoạt động quân sự của Canada trong tình hình mới. Những khuyến
nghị này có thể vận dụng trong phát triển NNL quân sự nói chung, NNL
KH&CN quân sự của các quốc gia trong thời gian tới.
A.N. Barsukow; N.P. Zubo; N.O. Kobelkow (2003), Simulation
Technology at Gagarin Air Force Academy - Russia [112]. Các tác giả cho rằng,
để thực hiện Học thuyết quân sự mới, Nga đã tiến hành cải cách quân đội một
cách toàn diện trong đó tập trung ưu tiên hiện đại hoá hệ thống nhà trường quân
sự. Trong đó, Học viện Không quân Gagarin được đầu tư phát triển thành một
trung tâm hiện đại, liên hoàn với công nghệ mô phỏng toàn bộ quá trình tác chiến
của lực lượng không quân Nga. Do tiến hành đổi mới phương thức đào tạo theo
công nghệ mô phỏng, học viên ra trường có thể đáp ứng ngay những yêu cầu của
thực tiễn thực hiện các nhiệm vụ thường xuyên và nhiệm vụ khẩn cấp.
Evan S.Medeiros (2004) Về ngành công nghiệp Quốc phòng Trung
Quốc và những tác động của nó đến hiện đại hóa quân đội Trung Quốc [44].
Công trình đã đề cập đến nền công nghiệp quốc phòng trong quá khứ và
những nét nổi bật của ngành công nghiệp quốc phòng Trung Quốc hiện nay.
Từ đó phân tích vai trò ngày càng quan trọng của công nghiệp quốc phòng
đến hiện đại hóa quân đội, đặc biệt là hiện đại hóa vũ khí, trang bị kỹ thuật
và đào tạo NNL cho quân đội Trung Quốc. Trong đó nhấn mạnh ngành


16



17

lượng, đòi hỏi phải có NNL dồi dào, nhất là NNL có chất lượng cao để bổ
sung cho sự thiếu hụt quân số trước mắt và trong tương lai. Có hai phương án
được đưa ra để giải quyết vấn đề này: 1) tăng thời lượng phục vụ tại ngũ cho
các binh sĩ lên 18 tháng hoặc 2 năm; 2) giảm quy mô quân số của quân đội.
Dù lựa chọn theo phương án nào thì cũng phải bảo đảm chất lượng chiến đấu
của quân đội trước những mối đe dọa quân sự tiềm tàng.
Frederick W.Kagan (2011), The US Military's Manpower Crisis [120].
Tác giả đã phân tích và dự báo về vấn đề khủng hoảng nhân lực của quân đội
Mỹ hiện nay. Frederick W. Kagan quan tâm nhiều đến hai vấn đề lớn của nhân
lực quân đội Mỹ là: sự thiếu hụt nhân lực quân sự của quân đội Mỹ và các kĩ
năng chuyên sâu để lực lượng này đáp ứng yêu cầu thực hiện nhiệm vụ ở các
chiến trường khó khăn, phức tạp. Từ việc phân tích đó, tác giả đã khuyến nghị
một số chính sách nhằm giải quyết cuộc khủng hoảng về nhân lực đang xảy ra
trong quân đội Mỹ.
V.N.Kumachep (2011), Lực lượng vũ trang đổi mới [111]. Công trình đã
phân tích các yếu tố hưởng đến yêu cầu đổi mới của quân đội Nga, trên cơ sở so
sánh với quân đội một số nước: Trung Quôc, Mỹ… Từ việc phân tích thực trạng
số lượng, chất lượng nhân lực và sự phát triển KH&CN quân sự, quốc phòng ở
Nga hiện nay; tác giả khuyến nghị một số chính sách nhằm đổi mới Quân đội Nga
trong tương lai, trong đó coi trọng phát triển NNL KH&CN cho quân đội là một
trong những chính sách quan trọng hàng đầu, cần ưu tiên thực hiện.
Anna Maria Dyner (2015), Russia’s New Direction for Its Armed Forces
[112]. Theo tác giả, trong những năm tới, bất kể khủng hoảng kinh tế, Nga sẽ
hướng tới đổi mới lực lượng vũ trang. Việc hiện đại hóa các lực lượng quân đội
cần phải được chuẩn bị tốt hơn cả về nhân lực, vũ khí, trang bị… để đáp ứng các
mối đe dọa từ khu vực lân cận và lực lượng hạt nhân. Từ những phân tích đó, tác
giả đưa ra một số khuyến nghị nhằm tạo nên hướng đi mới trong việc hiện đại hóa

trình đã đề xuất một số phương hướng, giải pháp nhằm nâng cao chất lượng
quy hoạch phát triển NNL này trong thời gian tới.


19

Nguyễn Thị Hường (2004), Phát triển nhân lực KH&CN để đáp ứng
nguồn lao động cho công nghiệp hoá - hiện đại hoá đất nước [56]. Tác giả
khẳng định, nhân lực KH&CN là yếu tố cấu thành quan trọng nhất của lực
lượng sản xuất xã hội, quyết định sức mạnh của một quốc gia. Trong bối cảnh
thế giới có nhiều biến động và cuộc cạnh tranh quốc tế khác biệt trên nhiều
lĩnh vực (kể cả cạnh tranh về NNL) thì phần thắng sẽ thuộc về những quốc
gia có NNL KH&CN chất lượng cao. Trên cơ sở đánh giá thực trạng nhân lực
KH&CN của Việt Nam thời gian qua, tác giả đề xuất một số giải pháp chủ
yếu nhằm đáp ứng nhu cầu lao động chất lượng cao trong quá trình
CNH,HĐH đất nước.
Trung tâm Thông tin Khoa học và Công nghệ Quốc gia (2005), Phát
triển nhân lực KH&CN ở các nựớc ASEAN [104]. Công trình này đã đưa ra
quan niệm nhân lực KH&CN, nhân lực nghiên cứu phát triển, đánh giá tình
hình nhân lực nghiên cứu phát triển trên thế giới. Đồng thời, phân tích thực
trạng phát triển NNL KH&CN của một số nước trong khu vực ASEAN như:
Singapo, Malaixia, Thái Lan, Philippin và Inđônêxia. Trên cơ sở nghiên cứu
kinh nghiệm của các nước ASEAN, công trình rút ra một số bài học kinh
nghiệm cho phát triển NNL KH&CN Việt Nam, trong đó nhấn mạnh đến việc
đổi mới quá trình đào tạo NNL KH&CN thông qua các chương trình giáo dục,
đào tạo của quốc gia.
Mai Hà - Chủ nhiệm đề tài (2009), Nghiên cứu cơ sở lý luận và thực tiễn
về đào tạo, thu hút, sử dụng nhân lực công nghệ cao [47]. Công trình đã tập
trung luận giải cơ sở lý luận và thực tiễn về đào tạo, thu hút, sử dụng nhân lực
CNC như: Tổng quan về đào tạo, thu hút, sử dụng nhân lực CNC; tham khảo

KH&CN và thực trạng NNL KH&CN ở nước ta; đưa ra quan niệm NNL
KH&CN, NNL nghiên cứu và phát triển. Đồng thời, đánh giá thực trạng đội ngũ
cán bộ KH&CN ở Việt Nam năm 2015; từ đó đề xuất những giải pháp đột phá
về chính sách nhằm phát triển NNL KH&CN Việt Nam trong thời gian tới.
Hoàng Văn Tuyên, Nguyễn Thị Minh Nga (2016), Chính sách lưu
chuyển nhân lực KH&CN ở một số quốc gia [106]. Theo các tác giả, lưu


21

chuyển nhân lực KH&CN trong nền kinh tế ở một số quốc gia là một trong
những ưu tiên, nguyên lý “vàng” để phát triển. Chính sách lưu chuyển nhân
lực KH&CN được đề cập bao gồm cả lưu chuyển nhân lực KH&CN trong
nước và lưu chuyển nhân lực KH&CN quốc tế. Đây được xem như một trong
những giải pháp hữu hiệu để phát triển NNL KH&CN ở nước ta trong điều
kiện hội nhập quốc tế ngày càng sâu, rộng.
Hồ Ngọc Luật (2017), Nhân lực KH&CN từ quan niệm của các tổ chức
quốc tế đến khả năng vận dụng cho Việt Nam [61]. Theo tác giả: NNL
KH&CN của Việt Nam bao gồm những người có trình độ từ cao đẳng trở lên
và những người tuy chưa được cấp bằng cao đẳng chính quy nhưng làm một
nghề thuộc chuyên ngành KH&CN đòi hỏi trình độ tương đương cao đẳng trở
lên. Bài viết đã so sánh quan niệm nhân lực hoạt động KH&CN của Việt
Nam, UNESCO và OECD; tổng quan và đề xuất quan điểm tiếp cận để dần
đến thống nhất sử dụng quan niệm về nhân lực KH&CN phù hợp điều kiện
của Việt Nam và có khả năng tương thích quốc tế.
Đỗ Tuấn Thành (2018), NNL KH&CN ở Việt Nam hiện nay [80]. Theo tác
giả, phát triển NNL KH&CN là nhiệm vụ quan trọng để phát triển đất nước. Hiện
nay, NNL KH&CN của Việt Nam không phải ít so với quy mô dân số cũng như so
với các nước trong khu vực, nhưng cơ cấu và chất lượng còn nhiều hạn chế. Từ
việc đánh giá toàn diện thực trạng NNL KH&CN ở Việt Nam, tác giả đã đề xuất

nguồn lực cán bộ KHKT quân sự; quan niệm và nhân tố quy định đến phát
huy nguồn lực cán bộ KHKT quân sự trong xây dựng quân đội nhân dân Việt
Nam hiện nay. Từ việc đánh giá thực trạng và xu hướng của phát huy nguồn
lực cán bộ KHKT quân sự trong xây dựng quân đội nhân dân Việt Nam hiện
nay; tác giả đề xuất một số quan điểm và giải pháp phát huy nguồn cán bộ này
trong xây dựng quân đội nhân dân Việt Nam thời gian tới.
Nguyễn Văn Tháp (2009), Xây dựng đội ngũ giảng viên khoa học xã
hội nhân văn trong các trường đào tạo sĩ quan quân đội [81]. Tác giả đã tập
trung nghiên cứu bộ phận giảng viên khoa học xã hội nhân văn ở các nhà
trường quân đội. Trên cơ sở làm rõ một số vấn đề lý luận cơ bản về xây dựng


23

đội ngũ giảng viên khoa học xã hội nhân văn trong các nhà trường đào tạo sĩ
quan quân đội, công trình đã đánh giá đúng thực trạng xây dựng đội ngũ này
ở các nhà trường sĩ quan quân đội hiện nay. Từ đó, đề xuất một số quan điểm,
giải pháp xây dựng đội ngũ giảng viên khoa học xã hội nhân văn trong các
nhà trường đào tạo sĩ quan quân đội thời gian tới.
Nguyễn Quang Bắc (2011), Nâng cao chất lượng đội ngũ cán bộ khoa
học - công nghệ quân sự đáp ứng yêu cầu nhiệm vụ [6]. Theo tác giả, những
năm vừa qua mặc dù có nhiều tiến bộ song nhìn chung công tác đào tạo, bồi
dưỡng cán bộ khoa học - công nghệ quân sự chưa ngang tầm với yêu cầu mới.
Từ việc khái quát thực trạng công tác đào tạo, bồi dưỡng cán bộ khoa học công nghệ quân sự, tác giả đưa ra ba giải pháp nhằm nâng cao hiệu quả công
tác này, là: Không ngừng giáo dục, bồi dưỡng lập trường giai cấp công nhân,
mục tiêu, lý tưởng của Đảng, tư tưởng, đạo đức Hồ Chí Minh; Làm tốt công
tác quy hoạch đào tạo, sử dụng cán bộ khoa học - công nghệ quân sự và tập
trung hoàn thiện môi trường hoạt động và có chính sách đãi ngộ đối với cán
bộ khoa học - công nghệ quân sự.
Đoàn Hùng Minh (2011), Đào tạo NNL khoa học công nghệ trình độ

dựng và phát triển đội ngũ này là vấn đề cấp thiết trong quá trình xây dựng
quân đội cách mạng, chính quy, tinh nhuệ, từng bước hiện đại. Từ việc đánh
giá thực trạng xây dựng và phát triển đội ngũ cán bộ kỹ thuật trong quân đội
thời gian qua; công trình đã đề xuất một số quan điểm, giải pháp xây dựng và
phát triển đội ngũ này trong thời gian tới.
Đỗ Văn Dạo (2013), Phát triển NNL quân sự chất lượng cao đáp ứng
yêu cầu hiện đại hoá Quân đội Nhân dân Việt Nam [19]. Công trình đã xây dựng
được quan niệm về NNL quân sự CLC và phát triển NNL quân sự CLC trong
quân đội nhân dân Việt Nam hiện nay; chỉ rõ nội dung, tiêu chí và những nhân tố
ảnh hưởng đến phát triển NNL này. Từ việc đánh giá toàn diện thực trạng phát
triển NNL quân sự CLC từ năm 1994, chỉ rõ những thành tựu, hạn chế và
nguyên nhân, công trình đã đề xuất những giải pháp có tính khả thi nhằm phát
triển lực lượng này đáp ứng yêu cầu hiện đại hoá quân đội đến năm 2020.


25

Tổng cục Chính trị (2013), Phát triển NNL cho công nghiệp quốc
phòng nòng cốt thời kỳ mới [94]. Công trình đã khẳng định những năm qua,
việc phát triển NNL cho CNQP nòng cốt ở Việt Nam đã có nhiều chuyển biến
tích cực, nhưng còn bộc lộ nhiều hạn chế, bất cập cả về số lượng, chất lượng
và cơ cấu; chưa đáp ứng tốt yêu cầu nhiệm vụ của ngành CNQP nòng cốt. Từ
thực trạng đó, công trình đã đề xuất một số quan điểm và giải pháp phát triển
NNL cho CNQP nòng cốt ở Việt Nam trong thời gian tới.
Tổng cục Chính trị (2013), Xây dựng đội ngũ cán bộ đầu ngành khoa học xã
hội và nhân văn trong quân đội thời kỳ mới [95]. Công trình khẳng định, đội ngũ
cán bộ đầu ngành khoa học xã hội và nhân văn trong quân đội là trí thức khoa học
xã hội và nhân văn có phẩm chất, năng lực và uy tín cao về một ngành, có khả năng
chủ trì, tổ chức, dẫn dắt và định hướng hoạt động một chuyên ngành khoa học xã
hội và nhân văn trong quân đội. Từ việc đánh giá thực trạng xây dựng đội ngũ cán


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status