NGHIÊN CỨU SỰ BIẾN ĐỔI MÙA KHÍ HẬU VÙNG ĐÔNG BẮC VIỆT NAM (LUẬN VĂN THẠC SĨ) - Pdf 40

ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
TRƢỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC TỰ NHIÊN
---------------------

Nguyễn Thị Lan Hƣơng

NGHIÊN CỨU SỰ BIẾN ĐỔI MÙA KHÍ HẬU
VÙNG ĐÔNG BẮC VIỆT NAM

LUẬN VĂN THẠC SĨ KHOA HỌC

Hà Nội – 2014

1


MỤC LỤC
MỞ ĐẦU .....................................................................................................................1
CHƢƠNG 1: TỔNG QUAN VỀ CÁC NGHIÊN CỨU BIẾN ĐỔI KHÍ HẬU VÀ
BIẾN ĐỔI MÙA KHÍ HẬU ......................................................................................4
1.1. Các nghiên cứu về biến đổi khí hậu và mùa khí hậu trên thế giới ...................7
1.2. Các nghiên cứu về biến đổi khí hậu và biến đổi mùa khí hậu ở Việt Nam...........10
CHƢƠNG 2: PHƢƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU VÀ SỐ LIỆU ...............................14
2.1 . Số liệu nghiên cứu ........................................................................................14
2.2 . Phƣơng pháp nghiên cứu..............................................................................16
2.2.1. Phƣơng pháp bản đồ ................................................................................16
2.2.2. Phƣơng pháp hồi quy tuyến tính đơn biến ...............................................17
2.2.3 Phƣơng pháp xác định mùa, thời điểm bắt đầu, kết thúc mùa .................18
CHƢƠNG 3: SỰ BIẾN ĐỔI MÙA KHÍ HẬU Ở KHU VỰC .................................20
ĐÔNG BẮC VIỆT NAM..........................................................................................20
3.1. Kết quả phân tích trƣờng nhiệt độ ..................................................................20

những xu thế biến đổi của lƣợng mƣa và nhiệt độ trong những giai đoạn dài (thập
kỉ) để đƣa ra những nhận định về biến đổi khí hậu diễn ra ở nơi đây. Đặc biệt, luận
văn tập trung phân tích những biến động mùa khí hậu để làm rõ sự dịch chuyển
mùa. Ngoài phần mở đầu và kết luận, luận văn đƣợc chia làm 3 phần chính:
Phần 1: Tổng quan về các nghiên cứu biến đổi mùa khí hậu
Phần 2: Số liệu và phƣơng pháp nghiên cứu
Phần 3: Sự biến đổi mùa khí hậu khu vực Đông Bắc Việt Nam

3


CHƢƠNG 1: TỔNG QUAN VỀ CÁC NGHIÊN CỨU BIẾN ĐỔI KHÍ HẬU
VÀ BIẾN ĐỔI MÙA KHÍ HẬU
Theo IPCC (2007), biến đổi khí hậu là sự biến đổi về trạng thái của hệ thống
khí hậu, có thể đƣợc nhận biết qua sự biến đổi về trung bình và sự biến động của
các thuộc tính của nó, đƣợc duy trì trong một thời gian đủ dài, điển hình là hàng
thập kỉ hoặc dài hơn. Biến đổi khí hậu có thể do các quá trình tự nhiên bên trong hệ
thống khí hậu hoặc do những tác động từ bên ngoài, hoặc do tác động thƣờng xuyên
của con ngƣời làm thay đổi thành phần của khí quyển hoặc sử dụng đất. Biến đổi
khí hậu toàn cầu đang là mối đe doạ hiện hữu đối với mọi quốc gia trên thế giới
trong đó có Việt Nam. Biến đổi khí hậu cũng có khả năng làm thay đổi quy luật của
khí hậu, ảnh hƣởng tiêu cực đến mọi lĩnh vực liên quan đến đời sống con ngƣời.
Những điều này rất đáng lo ngại vì Việt Nam là một trong những quốc gia trên
thế giới đạt đƣợc những thành quả phát triển ấn tƣợng nhất trong những năm gần
đây. Việt Nam là một trong số ít các quốc gia đi đúng hƣớng trong việc đạt đƣợc
các mục tiêu phát triển thiên niên kỷ vào năm 2015. Việt Nam đã giảm tỷ lệ đói
nghèo từ khoảng 58% vào năm 1993 xuống 18% vào năm 2006. Tuy nhiên những
thành quả này giờ đây đang bị đe dọa bởi biến đổi khi hậu. Để ứng phó với biến đổi
cần phải có những đầu tƣ thích đáng và nỗ lực của toàn xã hội.
Các tác động của biến đổi khí hậu có thể kể đến bao gồm các tác động của sự

trùng và vật mang bệnh, chế độ dinh dƣỡng và vệ sinh môi trƣờng suy giảm.
Sự gia tăng nhiệt độ còn ảnh hƣởng đến các lĩnh vực khác nhƣ năng lƣợng,
giao thông vận tải, công nghiệp, xây dựng, du lịch, thƣơng mại,... liên quan đến chi
phí gia tăng cho việc làm mát, thông gió, bảo quản thiết bị, phƣơng tiện, sức bền vật
liệu.
Tác động đối với tài nguyên nước
Tài nguyên nƣớc đang đứng trƣớc nguy cơ suy giảm do hạn hán ngày một
tăng ở một số vùng, miền. Khó khăn này sẽ ảnh hƣởng đến nông nghiệp, cung cấp
nƣớc ở nông thôn, thành thị và dễ xảy ra tình trạng cháy rừng.
Hệ thống sông vùng Đông Bắc Việt Nam bao gồm các con sông: sông
Thƣơng, sông Thái Bình, sông Bằng Giang, sông Kì Cùng. Các con sông này có vai

5


trò đặc biệt trong chế độ thủy văn, cung cấp nguồn nƣớc cho nông nghiệp và các
hoạt động sản xuất ở khu vực này. Nghiên cứu của IPCC (2007) cũng cho thấy
trong thế kỉ tới, có sự gia tăng của lƣợng mƣa tại khu vực phía bắc Việt Nam. Điều
này một mặt gia tăng những lợi ích về tài nguyên nƣớc nhƣng mặt khác cũng dẫn
đến các nguy cơ gây ngập lụt và sói lở đất.
Tác động đối với sức khoẻ con người
Nhiệt độ tăng làm tăng tác động tiêu cực đối với sức khoẻ con ngƣời, dẫn đến
gia tăng một số nguy cơ đối với tuổi già, ngƣời mắc bệnh tim mạch, bệnh thần kinh.
Tình trạng nóng lên làm thay đổi cấu trúc mùa nhiệt hàng năm. Ở miền Bắc, mùa
đông sẽ ấm lên, dẫn tới thay đổi đặc tính trong nhịp sinh học của con ngƣời.
Biến đổi khí hậu làm tăng khả năng xảy ra một số bệnh nhiệt đới: sốt rét, sốt
xuất huyết, làm tăng tốc độ sinh trƣởng và phát triển nhiều loại vi khuẩn và côn
trùng, vật chủ mang bệnh, làm tăng số lƣợng ngƣời bị bệnh nhiễm khuẩn dễ lây
lan…
Thiên tai nhƣ bão, tố, nƣớc dâng, ngập lụt, hạn hán, mƣa lớn và sạt lở đất

giả đầu tiên nghiên cứu về biến đổi khí hậu. Agassiz đƣa ra các lí thuyết dựa trên
thông tin về sự phát triển và rút lui của các sông băng trong các giai đoạn tại Alps
và Châu Âu, Great Lake tại Bắc Mĩ và các khu vực khác. Ông cho rằng trái đất đã
trải qua sự thay đổi của nhiệt độ và các điều kiện thời tiết khác nhau. Năm 1890,
Svante Arhenius, theo sau Tyndall, đã tính toán tác động của CO2 tới nhiệt độ khí
quyển. Nhƣng không giống nhƣ những nghiên cứu về biến đổi khí hậu ở thời điểm
đó, Arrhenius ủng hộ các ý tƣởng về sự ấm lên, cũng nhƣ ông nghĩ rằng điều đó sẽ
giúp cải thiện điều kiện thời tiết và nông nghiệp tại Scandinavia.
Sang thế kỉ XX, một nhà khoa học khác là Guy Callendar đã ủng hộ các
nghiên cứu của Arrhenius và tiếp tục nỗ lực để làm rõ các hiểu biết khoa học về vai
trò của carbon dioxide trong biến đổi khí hậu. Tuy nhiên những quan điểm Yet
Callendar đã không đƣợc coi trọng. Năm 1951, một nhà khoa học bảo thủ cho rằng
“lí thuyết về CO2 sẽ không bao giờ đƣợc chấp nhận rộng rãi và sẽ bị bỏ rơi”.
Thập kỉ 1950 đánh dấu sự ra đời của các mô hình khí hậu. Bắt đầu với những
nghiên cứu về nhiệt độ ở các lớp khác nhau trong đại đƣơng của nhà đại dƣơng học
Roger Revelle và các đồng nghiệp tại Scripps Institution of Oceanography. Sang

7


thập kỉ 1960, một số vấn đề về biến đổi khí hậu đã bắt đầu đƣợc thảo luận trong giới
chính trị. Năm 1969, thƣợng nghị sĩ Mĩ Daniel Patrick Moynihan đã gửi bức thƣ lên
tổng thống Mĩ Richard Nixon. Trong bức thƣ nói nhiệt độ trung bình toàn cầu sẽ
tăng lên khoảng 7oC cho tới năm 2000 và cùng với sự dâng của mực nƣớc biến sẽ
đồng nghĩa với “Tạm biệt New York” và “Tạm biệt Washington”.
Năm 1970, diễn ra hàng loạt các cuộc tranh cãi giữa 2 trƣờng phái chính, một
ủng hộ quan điểm ấm lên toàn cầu và trƣờng phái còn lại ủng hộ quan điểm lạnh đi
toàn cầu và sự trở lại của một giai đoạn băng hà mới. Nhƣng những tiến bộ vƣợt bậc
của công nghệ vệ tinh và mô hình số đã củng cố quan điểm về sự ấm lên toàn cầu.
Các mô hình đã cho thấy các hoạt động của con ngƣời có một vai trò rất lớn trong

Tibet, và có khả năng tăng ở Đông Á và phía nam của Đông Nam Á. Mƣa mùa hè
có khả năng tăng ở bắc châu Á, đông và nam Á và hầu hết các vùng tại đông nam Á
nhƣng có khả năng giảm ở trung tâm châu Á. Cƣờng độ và lƣợng mƣa rất có khả
năng tăng ở Nam Á và đông nam á.
Mƣa cực đoan kết hợp với gió và xoáy thuận nhiệt đới có khả năng tăng ở
Đông Á, Đông nam Á và Nam Á. Cƣờng độ hoàn lƣu có mùa có xu hƣớng yếu đi.
Khu vực Bắc Á và trung tâm châu Á là những khu vực có số mô hình cho
lƣợng mƣa tăng nhiều nhất. Do đó có thể thấy mƣa tăng ở các vĩ độ cao là rất có
khả năng xảy ra. Trong khi đó số mô hình cho lƣợng mƣa tăng ở vùng cận nhiệt đới
rất ít, tƣơng ứng với lƣợng mƣa giảm ở nơi đây cho thấy khu vực ngoại nhiệt đới rất
có khả năng giảm mƣa trong thập kỉ tới.
Nghiên cứu gần đây đƣợc Hiệp hội các trƣờng đại học công bố tại Trƣờng đại
học Copenhagen Tháng 3/2009 cho thấy nhiều khả năng tác động của biến đổi khí
hậu trong thế kỷ XXI sẽ trầm trọng hơn những con số dự báo của IPCC đã công bố
năm 2007.
Do đặc tính của mùa khí hậu thƣờng gắn liền với vị trí, địa điểm cụ thể và
mang tính quy mô nhỏ nên cũng đƣợc nghiên cứu ở nhiều nơi trên thế giới. Sự dịch
chuyển mùa cũng là vấn đề thu hút rất nhiều nghiên cứu trên thế giới. Tuy nhiên các
nghiên cứu này chƣa đƣợc công bố rộng rãi trên toàn thế giới mà thƣờng chỉ trong
phạm vi bài báo, các tạp chí khoa học trong nƣớc. Chính vì vậy, việc tiếp cận những
nghiên cứu về biến đổi mùa khí hậu trên thế giới còn khá hạn chế.

9


Một số nghiên cứu nhƣ Piervitali (2003) [19] về xu thế giảm lƣợng giáng thủy
năm tại Địa Trung Hải. Hay Shi (2003), Weng (1999), Gong (2002) cho thấy sự
biến đổi thập kỉ của giáng thủy ở phía Tây Bắc Trung Quốc; lƣợng mƣa mùa thu và
mùa đông tăng lên ở phía Đông Trung Quốc và giảm đi ở phía bắc Trung Quốc. Các
phân tích ở phạm vi hẹp cho thấy xu hƣớng tan sớm của tuyết trong mùa xuân cùng

kịch bản biến đổi khí hậuvà nƣớc biển dâng cho Việt Nam, Chƣơng trình khoa học
công nghệ quốc gia về biến đổi khí hậu, các chƣơng trình hợp tác với UNDP, ADB,
với WB, với DANIDA, JICA, Hà Lan, USA v.v.. Trong thời gian gần đây nhất
(2008 – 2010), Viện đã chủ trì thực hiện và hoàn thành đề tài nghiên cứu cấp nhà
nƣớc KC.08.13 “Nghiên cứu ảnh hƣởng của biến đổi khí hậu đến các điều kiện tự
nhiên, tài nguyên thiên nhiên và đề xuất các giải pháp chiến lƣợc phòng tránh, giảm
nhẹ và thích nghi, phục vụ phát triển bền vững kinh tế xã hội ở Việt Nam”, thuộc
chƣơng trình “Khoa học và công nghệ phục vụ phòng tránh thiên tai, bảo vệ môi
trƣờng và sử dụng hợp lý tài nguyên thiên nhiên, KC.08”. Một trong những kết quả
của đề tài là cuốn “Biến đổi khí hậu và tác động ở Việt Nam” đã đƣợc biên soạn
nhằm giới thiệu những kiến thức cơ bản về biến đổi khí hậu, thực trạng biến đổi khí
hậu toàn cầu và ở Việt Nam, kịch bản biến đổi khí hậu cho Việt Nam, tác động của
biến đổi khí hậu đến các ngành, lĩnh vực và các khu vực địa lí-khí hậu trong cả
nƣớc.
Tƣơng tự với tình hình chung của thế giới, hầu hết các công trình khoa học đã
công bố rộng rãi ở Việt Nam tập trung vào dự báo các kịch bản Biến đổi khí hậu
toàn cầu và nƣớc biển dâng. Hầu hết các công trình đều sử dụng dự báo của IPCC,
UNDP, WB có đề cập đến vùng Nam Á, Đông Nam Á và Việt Nam nhƣng ở mức
độ sơ bộ trên phạm vi rộng. Một số công trình nghiên cứu tiêu biểu:
- Bộ Tài nguyên và Môi trƣờng (2003) [1], Thông báo đầu tiên của Việt Nam
cho công ước chung của Liên hợp quốc về biến đổi khí hậu.
- Bộ Tài nguyên và Môi trƣờng (2008), Bản dự thảo chương trình Quốc gia
ứng phó với biến đổi khí hậu trình Chính phủ. Nhận định xu thế biến đổi khí hậu ở
Việt Nam: Nhiệt độ trung bình ở Việt Nam có thể tăng lên 3oC vào năm 2100.
Lƣợng mƣa có xu thế biến đổi không đồng đều giữa các vùng, có thể tăng (từ 0%
đến 10%) vào mùa mƣa và giảm (từ 0% đến 5%) vào mùa khô. Tính biến động của
mƣa tăng lên.

11



12


không khí lạnh trong mỗi tháng mùa đông (XI-III) thấp dị thƣờng (0-1 đợt) cũng rơi
vào 2 thập kỷ gần đây (3/1990, 1/1993, 2/1994, 2/1997, 11/1997). Một biểu hiện dị
thƣờng gần đây nhất về khí hậu trong bối cảnh biến đổi khí hậu toàn cầu là đợt
không khí lạnh gây rét đậm, rét hại kéo dài 38 ngày trong tháng 1 và tháng 2 năm
2008 gây thiệt hại lớn cho sản xuất nông nghiệp.
- Bão: Những năm gần đây, số cơn bão có cƣờng độ mạnh nhiều hơn, quỹ đạo
bão dịch chuyển dần về các vĩ độ phía Nam và mùa bão kết thúc muộn hơn, nhiều
cơn bão có quỹ đạo di chuyển dị thƣờng hơn.
- Số ngày mƣa phùn trung bình năm ở Hà Nội giảm dần trong thập kỷ 1981 –
1990 và chỉ còn gần một nửa (15 ngày/năm) trong 10 năm gần đây.
Các nghiên cứu chủ yếu đề cập đến sự biến đổi của các hiện tƣợng và các yếu
tố khí hậu. Hoặc đánh giá tính dễ bị tổn thƣơng, rủi ro do tác động của BĐKH đến
các lĩnh vực khác nhau và các phƣơng án thích ứng với BĐKH. Mặc dù chƣa có
những nghiên cứu môt cách có hệ thống tác động của biến đổi khí hậu đến biến đổi
mùa khí hậu song cũng có một số bài báo đăng trên các tạp chí, hoặc các báo cáo tại
các hội nghị khoa học đề cập đến vấn đề này. Chẳng hạn ngƣời ta đã nhận thấy dấu
hiệu của sự dịch chuyển theo thời gian và không gian của phân bố lƣợng mƣa, của
quỹ đạo bão hoặc đã chỉ ra đƣợc sự biến đổi trong cƣờng độ của chúng. Tuy nhiên
những nghiên cứu về sự biến đổi mùa khí hậu ở Việt Nam còn rất ít, đặc biệt sự
biến đổi mùa cho từng tiểu vùng khí hậu gần nhƣ là chƣa có. Tại khu vực Đông Bắc
Việt Nam, chƣa có công trình nghiên cứu nào về biến đổi mùa khí hậu. Do đó luận
văn hƣớng đến vấn đề quan trọng này.

13



STT

Trạm

Kinh độ

Vĩ độ

Độ cao

(độ kinh đông)

(độ vĩ bắc)

(m)

1

Bắc Giang

106.2

21.28

8.0

2

Bãi Cháy


108.0

21.32

191.0

6

Hữu Lũng

106.35

21.5

41.0

7

Lạng Sơn

106.46

21.50

257.9

8

Lục Ngạn


106.38

20.48

113.0

12

Sơn Động

106.5

21.2

59.0

15


Hình 2.2. Định dạng của file số liệu nhiệt độ và lƣợng mƣa của các trạm

2.2 . Phƣơng pháp nghiên cứu
Trong luận văn này sử dụng 2 phƣơng pháp phân tích chính đó là phƣơng
pháp bản đồ và phƣơng pháp hồi quy tuyến tính đơn biến. Phƣơng pháp bản đồ giúp
đƣa ra những nhận xét về xu thế thay đổi của nhiệt độ, lƣợng mƣa, của mùa khí hậu
theo không gian qua các thập kỉ, còn phƣơng pháp hồi quy đƣợc sử dụng nhằm xác
định những xu thế tăng hoặc giảm của cả nhiệt độ và lƣợng mƣa một cách định
lƣợng thông qua hệ số a của phƣơng trình hồi quy. Ngoài ra, phƣơng pháp xác định
mùa, thời điểm bắt đầu, kết thúc mùa đƣợc sử dụng để nghiên cứu sự biến đổi mùa
theo thời gian



là các hệ số hồi qui đƣợc


Xu thế tăng, giảm của chuỗi lƣợng mƣa năm đƣợc xác định bởi dấu và trị số
tuyệt đối của hệ số góc

của phƣơng trình hồi qui. Hệ số

dƣơng (hoặc âm) cho

biết xu thế tăng ( hoặc giảm) của lƣợng mƣa năm trong giai đoạn xem xét, đồng thời
giá trị tuyệt đối của hệ số

càng lớn có nghĩa xu thế biến đổi càng mạnh.

2.2.3 Phương pháp xác định mùa, thời điểm bắt đầu, kết thúc mùa
Căn cứ vào những nghiên cứu trong khí hậu đã và đang đƣợc sử dụng [9, 11,
14], trong luận văn sử dụng một số khái niệm sau:
- Các tháng mùa lạnh: gồm 6 tháng từ tháng XI năm trƣớc đến tháng IV năm sau.
- Các tháng mùa đông: gồm 3 tháng XII- I- II.
- Tháng đặc trƣng của mùa đông: tháng I.
- Các tháng mùa nóng: gồm 6 tháng từ tháng V đến tháng X.
- Các tháng mùa hè: gồm 3 tháng VI-VII-VIII,
- Tháng đặc trƣng của mùa hè: tháng VII.
- Thời điểm bắt đầu mùa đông đƣợc xác định là pentad đầu tiên trong tháng
mƣời hoặc tháng mƣời một có nhiệt độ trung bình của pentad đó nhỏ hơn 18oC.
Thời điểm kết thúc mùa đông đƣợc xác định là pentad đầu tiên trong tháng ba hoặc
tháng tƣ có nhiệt độ trung bình 2 pentad liên tiếp đạt trên 18oC. Giá trị này đƣợc lựa

ĐÔNG BẮC VIỆT NAM

3.1. Kết quả phân tích trƣờng nhiệt độ
3.1.1. Biến đổi của nhiệt độ mùa
Do các đặc điểm địa lý, nhiệt độ của khu vực Đông Bắc khá thấp trong mùa
đông do chịu tác động của xâm nhập lạnh, nhƣng lại không quá cao trong mùa hè
do địa hình núi cao ở phía bắc và giáp biển ở phía nam. Các giá trị nhiệt độ trung
bình đƣợc biểu diễn trong Bảng 3.1 cho thấy khu vực này có nhiệt độ trung bình
năm thấp nhất so với cả nƣớc, dao động trong khoảng 22oC tới 23oC. Nhiệt độ đo
đƣợc thấp nhất vào ba Tháng: Tháng Mƣời Hai, Tháng Một, Tháng Hai với giá trị
dao động từ khoảng 13oC tới 18oC. Mặt khác, nhiệt độ cao nhất đo đƣợc từ Tháng
Sáu tới Tháng Tám với nhiệt độ trong khoảng 26oC tới 29oC. Có thể thấy khu vực
Đông Bắc Bắc Bộ có sự dao động nhiệt độ giữa các mùa tƣơng đối lớn, chênh lệch
giữa Tháng có nhiệt độ cao nhất với Tháng có nhiệt độ thấp nhất xấp xỉ 13oC. Với
nhiệt độ không quá cao vào mùa hè, hiện tƣợng nắng nóng rất ít xảy ra tại khu vực
này, nhƣng lại thƣờng xuyên xuất hiện hiện tƣợng rét đậm, rét hại kéo dài trong các
Tháng mùa đông. Đặc biệt thời gian gần đây, các đợt lạnh kéo dài lâu hơn và nhiệt
đột hạ xuống thấp hơn, ví dụ nhƣ đợt rét kỉ lục kéo dài 38 ngày xảy ra năm 2008
hay đợt rét kéo dài gần 21 ngày năm 2011 với nhiệt độ giảm xuống 7oC. Sự xuất
hiện dƣờng nhƣ thƣờng xuyên hơn và khắc nghiệt hơn của các đợt rét này đã cho
thấy những xu hƣớng trong sự thay đổi của hình thế nhiệt độ tại Đông Bắc. Trong
bối cảnh biến đổi nhiệt độ chung toàn cầu, có thể thấy đây cũng có thể coi là những
tín hiệu của biến đổi khí hậu đã và đang diễn ra ở quy mô địa phƣơng tại các vùng
của Việt Nam.

20


Bảng 3.1. Nhiệt độ tháng và năm các trạm khu vực nghiên cứu
giai đoạn 1971-2010.


15.9

17.3

20.2

24.0

27.1

29.1

28.4

27.6

27.0

25.4

21.2

17.7

23.4

Bãi Cháy

16.2


20.3

24.1

26.4

27.5

27.6

27.1

25.9

22.7

18.8

15.4

22.3

Cao
Bằng

13.8

15.0


25.6

27.0

27.1

26.5

25.3

22.7

18.9

15.4

21.6

15.3

16.9

19.3

23.2

27.0

28.5


25.1

22.2

18.1

14.7

21.2

16.2

17.5

20.5

24.6

27.6

28.9

29.1

28.5

27.2

24.4


20.4

Phủ Liễn

16.3

17.1

19.4

23.0

26.4

28.2

28.4

27.7

26.8

24.5

21.2

18.1

23.1


Lũng
Lạng
Sơn
Lục
Ngạn
Nguyên
Bình

Nhiệt độ trung bình tháng và trung bình năm của các trạm Đông Bắc đƣợc
biểu diễn trong Bảng 3.1. Có thể thấy, nhiệt độ trung bình năm tại nơi đây dao động
từ 21oC tới 23oC, tháng có nhiệt độ thấp nhất là Tháng Một với nhiệt độ dƣới 15oC
và tháng có nhiệt độ cao nhất là Tháng Bẩy với nhiệt độ khoảng 28oC. Sự chênh
lệch nhiệt độ giữa 2 tháng liền kề nhau là không thật sự lớn, khoảng 2 đến 4 oC. Do
đó, quá trình chuyển từ mùa đông sang mùa hè ở nơi đây không thật sự rõ ràng. Nếu
lấy nhiệt độ lớn hơn 25oC là các tháng mùa hè và nhỏ hơn 18oC là các tháng mùa
đông, thì có thể nhận định, mùa đông tại Đông Bắc kéo dài từ Tháng Mƣời Một tới
Tháng Ba, còn mùa hè bắt đầu từ Tháng Tƣ và kết thúc vào Tháng Mƣời. Tất nhiên,
sự phân chia này mang tính khí hậu và làm tham chiếu để tính toán các quá trình
biến đổi mùa diễn ra trong thập kỉ gần đây.
Xu thế tuyến tính của nhiệt độ trung bình năm của các trạm Đông Bắc giai
đoạn 1971-2010 đƣợc biểu diễn trong Hình 3.1. Xu thế chung đƣợc nhận thấy rất rõ
nét ở tất cả các trạm là sự tăng của nhiệt độ bề mặt trong toàn bộ giai đoạn. Đây có
21


thể coi là một bằng chứng rõ nét nhất của sự ấm lên trên phạm vi khu vực đang diễn
ra tại Việt Nam. Các trạm có xu thế tăng mạnh nhất là Hữu Lũng và Bãi Cháy. Các
trạm còn lại xu thế tăng là tƣơng đối giống nhau, chỉ trừ trạm Bắc Giang có xu thế
tăng không thật rõ ràng. Mặc dù trong suốt giai đoạn chứng kiến hai đợt giảm mạnh
của nhiệt độ bề mặt vào những năm 1981-1986 và 1996-2000, tuy nhiên xu thế

y = 0.014x + 23.15

2.

Bãi Cháy

y = 0.027x + 22.72

3.

Bảo Lạc

y = 0.023x + 21.85

4.

Cao Bằng

y = 0.024x + 21.18

5.

Đinh Lập

y = 0.021x + 21.25

6.

Hữu Lũng


y = 0.018x + 22.66

STT

Dựa vào phƣơng trình hồi quy tuyến tính của nhiệt độ trung bình năm theo
thời gian của các trạm tại Đông Bắc biểu diễn trong Hình 3.1 có thể thấy, xu thế
tăng của nhiệt độ diễn ra trên toàn bộ các trạm với hệ số a của tất cả các phƣơng
trình hồi quy đều là dƣơng, dao động trong khoảng từ 0.014 tới 0.027. Các trạm ở
khu vực đồng bằng thƣờng có mức độ tăng nhiệt độ mạnh hơn so với các trạm có
địa hình đồi núi.
3.1.1.1. Mức độ biến động của nhiệt độ trung bình 6 tháng mùa lạnh

24


Hình 3.2 .Xu thế tuyến tính của nhiệt độ trung bình 6 tháng mùa lạnh
của các trạm Đông Bắc Việt Nam giai đoạn 1971-2010.

25



Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status