ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
TRƢỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC TỰ NHIÊN
----------
Ngô Thị Hà
NGHIÊN CỨU Đ NH HƢ NG TỔ CHỨC KHÔNG GIAN
PHỤC VỤ TĂNG TRƢỞNG XANH TẠI C C QU N VEN
IỂN THU C TP HẢI PHÕNG
LU N VĂN THẠC SĨ KHOA HỌC
Hà Nội - 2011
1
MỞ ĐẦU
1. TÍNH CẤP THIẾT CỦA ĐỀ TÀI
Hiện nay, thế giới đang phải đối mặt với nhiều thách thức do biến đổi toàn
cầu. Để đạt được sự phát triển bền vững, nhiều quốc gia và khu vực đã thực hiện
chuyển đổi từ tăng trưởng nóng, tăng trưởng theo chiều rộng sang các mô hình tăng
trưởng bền vững. Trong đó, tăng trưởng xanh là một mô hình phổ biến, tập trung vào
“...quá trình tái cơ cấu lại hoạt động kinh tế và cơ sở hạ tầng để thu được kết quả tốt
hơn từ các khoản đầu tư cho tài nguyên, nhân lực và tài chính, đồng thời giảm phát
thải khí nhà kính, khai thác và sử dụng ít tài nguyên thiên nhiên hơn, tạo ra ít chất
thải hơn và giảm sự mất công bằng trong xã hội”.
Nằm ở dải ven biển thuộc TP. Hải Phòng, các quận Hải An, Dương Kinh,
Hồng Bàng, Ngô Quyền và Đồ Sơn là đầu mối giao thông của thành phố, bao gồm
các tuyến đường quan trọng: đường bộ (điển hình là Quốc lộ 5 nối liền Hà Nội với
Hải Phòng), đường thuỷ (với mật độ cảng lớn như cảng Đình Vũ, Chùa Vẽ, cảng Cửa
luận văn thạc sỹ
n
u ịn
ướng tổ ch c không gian phục vụ tăn
trưởng xanh tạ
qu n v n n t u
ả
òn ” đã được lựa chọn nghiên
cứu và hoàn thành.
2. MỤC TIÊU VÀ N I DUNG NGHIÊN CỨU
a) Mục tiêu
Xác lập luận cứ khoa học và cơ sở thực tiễn trong đề xuất giải pháp phát triển
KTXH và BVMT theo định hướng tổ chức không gian phục vụ TTX tại các quận ven
iển thuộc TP. Hải Phòng.
b) Nhiệm vụ
Để hoàn thành mục tiêu trên, các nhiệm vụ nghiên cứu được đặt ra như sau:
- Tổng luận các công trình và lý luận về hướng nghiên cứu, cách tiếp cận phân
vùng chức năng và tổ chức không gian lồng ghép TTX.
- Phân tích hiện trạng, diễn biến KTXH và chất lượng môi trường khu vực
nghiên cứu.
- Phân tích, đánh giá thực trạng quy hoạch, phân vùng chức năng phát triển
KTXH và quản lý môi trường dưới góc độ TTX.
- Phân vùng chức năng và đánh giá các vấn đề về KTXH và môi trường nổi
cộm tại các tiểu vùng chức năng.
- Đề xuất phương án tổ chức không gian lồng ghép TTX cho khu vực các
quận ven biển thuộc TP. Hải Phòng.
3. PHẠM VI NGHIÊN CỨU
a) Phạm vi không gian
Nghiên cứu được thực hiện trong phạm vi ranh giới hành chính của 5 quận
ven biển thuộc TP. Hải Phòng được xác định trong đề án “Quy hoạch không gian
về định hướng, phương án phát triển KTXH và BVMT theo các tiêu chí của TTX tại
các không gian cụ thể của TP. Hải Phòng.
5 CƠ SỞ DỮ LIỆU THỰC HIỆN LU N VĂN
a) Tài liệu, số liệu của trun ươn và ịa p ươn
- Các tài liệu, văn ản pháp lý, đề án quy hoạch - kế hoạch phát triển: Nghị
quyết, Quyết định quy hoạch phát triển kinh tế xã hội TP. Hải Phòng, bao gồm: Nghị
quyết của Trung ương Đảng về “Xây dựng và phát triển TP. Hải Phòng trong thời kỳ
CNH-HĐH đất nước”; Quyết định của Thủ tướng Chính phủ Phê duyệt “Quy hoạch
chung xây dựng TP. Hải Phòng đến năm 2025 và tầm nhìn đến năm 2050”; Các quy
hoạch, đề án phát triển ngành và lĩnh vực của cả nước và vùng có liên quan; Các
Nghị quyết của Ban Chấp hành Đảng bộ, Ban Thường vụ Thành ủy về phương
hướng phát triển KTXH TP. Hải Phòng, các quận ven biển thuộc TP. Hải Phòng; Các
đề án, quy hoạch phát triển ngành và lĩnh vực trên địa bàn.
4
- Các số liệu thống kê, báo cáo tổng hợp, áo cáo KTXH, môi trường, định
hướng phát triển của các quận ven iển thuộc TP. Hải Phòng.
- Niên giám thống kê TP. Hải Phòng đến năm 2012.
b) Tài liệu bản ồ, sơ ồ
- Đề tài sử dụng các tư liệu bản đồ địa hình, bản đồ quy hoạch tổng thể và quy
hoạch không gian cùng môt số bản đồ chuyên đề (bản đồ đất, bản đồ sử dụng đất,
bản đồ du lịch) được xây dựng cho TP. Hải Phòng và các quận ven biển.
c) Các công trình nghiên c u khoa học
- Tài liệu sách, bài báo, báo cáo khoa học, báo cáo tổng kết đề tài nghiên cứu,
dự án,… liên quan đến TTX và khu vực nghiên cứu được sử dụng và trích dẫn rõ
ràng trong luận văn.
6. CẤU TRÚC LU N VĂN
Ngoài phần mở đầu, kết luận và kiến nghị, luận văn được trình bày trong 3
chương gồm 91 trang, được minh họa bởi 07 bản đồ, 04 biểu đồ và 16 bảng số liệu.
Sterner và Damon (2011) trong một nghiên cứu về chiến lược khí hậu toàn
cầu đã nhấn mạnh đến cơ chế sử dụng hiệu quả năng lượng hóa thạch nhằm hướng
tới một thị trường cac on thấp cộng với việc giải quyết các vấn đề về iến đổi khí
hậu. Tăng trưởng xanh được lựa chọn là định hướng, con đường thay thế duy nhất
đối với sự phát triển ền vững. Nền kinh tế thế giới sẽ cần công cụ chính sách rõ
ràng và hà khắc hơn đối với tăng trưởng hướng tới bền vững và sẽ ngây thơ nếu nghĩ
còn con đường khác để đi. Tăng trưởng xanh sẽ thúc đẩy nhu cầu tiêu thụ năng
lượng. Nhiều thách thức sẽ nảy sinh nếu các vấn đề liên quan đến sử dụng hợp lý
năng lượng không được xem xét cẩn trọng.
Kết quả nghiên cứu xây dựng mô hình tổ chức nền kinh tế công nghiệp
cacbon thấp của Shaohong và Sipeng (2011) cho thấy mô hình doanh nghiệp hiệu
quả được xây dựng dựa trên cơ sở các yếu tố kinh tế và kỹ thuật cũng như các yếu tố
tài nguyên sinh thái cho phép tối ưu hóa thống nhất các lợi ích kinh tế và sinh thái,
do đó, là tiếp cận tốt nhất để thực hiện TTX. Một nghiên cứu tương tự của
6
Schmalensee (2012) về chính sách năng lượng đã cung cấp một cái nhìn tổng quan
về một số tác động của chính sách năng lượng đến môi trường, đặc biệt là chính sách
năng lượng sạch sẽ cung cấp những lợi ích to lớn đối với môi trường như thế nào.
Trong công trình “TTX, từ sáng kiến đến triển khai”, hai tác giả Jouvet và
Perthuis (2013) đã chỉ ra rằng: TTX liên quan đến việc chuyển đổi quy trình sản xuất
và tiêu thụ để duy trì hoặc khôi phục lại các chức năng quan trọng của nguồn vốn tự
nhiên trên hành tinh. Quá trình đó đòi hỏi các nhân tố môi trường phải được xem xét
là một yếu tố thiết yếu của sản xuất và không chỉ đơn thuần là một yếu tố tác động từ
bên ngoài. Trong thực tế, quá trình chuyển đổi này phụ thuộc vào công nghệ hiện đại
đang được thực hiện theo bốn lĩnh vực: mở rộng khái niệm về hiệu quả; chuyển đổi
năng lượng; kết hợp các giá trị của vốn tự nhiên trong đời sống kinh tế... Nghiên cứu
tổng luận của Bartelmus (2013) đã đưa ức tranh tổng thể về thực trạng của TTX
trên toàn thế giới. Theo đó, TTX hay phát triển bền vững là phép đo của sự phát triển
TTX là xu thế chủ đạo của khoa học công nghệ và sự phát triển của nền kinh tế thế
giới trong bối cảnh biến đổi khí hậu toàn cầu hiện nay.
* Xu hướng quốc tế và một số nội dung chính về tăng trưởng xanh
Đến nay, thực tế cho thấy TTX đã được xác định là trọng tâm trong chính
sách phát triển của nhiều quốc gia trên thế giới trong nỗ lực đạt được sự phát triển
bền vững và thích ứng với biến đổi khí hậu, đáng chú ý nhất là khu vực Đông Á
(Hàn Quốc, Nhật Bản) và Liên minh châu Âu (EU). Các quốc gia thuộc khu vực này
đã đi tiên phong trong việc thúc đẩy TTX với nhiều nội dung quan trọng thể hiện sự
cam kết mạnh mẽ hướng tới nền kinh tế xanh. Trung Quốc cũng đã có kế hoạch phát
triển quốc gia nhấn mạnh vào nền kinh tế tuần hoàn. Tại khu vực ASEAN, Lào,
Campuchia cũng đang nỗ lực xây dựng một kế hoạch hành động chi tiết sau khi ban
hành lộ trình TTX quốc gia; Thái Lan nhấn mạnh vào nền kinh tế đầy đủ với những
đặc điểm chính của nền kinh tế xanh.
TTX và kinh tế biển xanh đang trở thành mối quan tâm toàn cầu và được xem
là động lực để phục hồi, thúc đẩy kinh tế toàn cầu và là công cụ để PTBV. Các nỗ
lực quốc tế đã thể hiện rõ quan điểm và các bài học chia sẻ trong các Tuyên bố Đại
dương Manađô, Tuyên ố Manila về Biến đổi khí hậu và Quản lý tổng hợp vùng bờ
biển (2009), Tuyên bố Đại dương Rio+20, Chương trình Nghị sự Đại dương đến
2030 (2012), các Hội nghị thượng đỉnh Khu vực và Thế giới về Kinh tế Đại dương
và TTX vào cuối các năm 2012 và 2013 lần lượt ở Bali và Washington D.C.
Tại Hội nghị Diễn đàn Hợp tác Kinh tế Châu Á - Thái Bình Dương (APEC) tổ
chức tháng 11/2011 tại đảo Hawaii, Hoa Kỳ, các nhà lãnh đạo APEC đã thông qua
Tuyên bố Honolulu, trong đó, APEC xác định cần phải giải quyết các thách thức môi
trường và kinh tế của khu vực bằng cách hướng đến nền kinh tế xanh, cacbon thấp,
nâng cao an ninh năng lượng và tạo động lực mới cho tăng trưởng kinh tế và việc
làm. Để thúc đẩy các mục tiêu TTX, APEC sẽ thực hiện các biện pháp như giảm
45% mức độ sử dụng năng lượng của APEC vào năm 2035 so với năm 2005, kết hợp
các chiến lược phát triển về thải cacbon thấp vào các kế hoạch tăng trưởng kinh tế.
Đầu tháng 12/2011, hội nghị quốc tế về Biến đổi Khí hậu tại Nam Phi với 194
nước tham dự đã nhất trí thành lập quỹ Khí hậu xanh và các ước đi mới nhằm thực
2020 so với hiện nay .
Tại Trung Quốc, từ năm 2010, Chính phủ đã và đang thực hiện Chiến lược
phát triển mới: chuyển từ phương thức phát triển kinh tế tiêu hao nhiều tài nguyên
sang phương thức phát triển kinh tế sử dụng tiết kiệm tài nguyên và BVMT. Các
hành động cụ thể bao gồm: (i) ưu tiên tiết kiệm tài nguyên và hiệu quả sản xuất trong
phát triển nền kinh tế quốc dân; (ii) phát triển kinh tế tuần hoàn, kinh tế sản sinh
lượng cacbon thấp; (iii) tiết kiệm năng lượng, tiết kiệm nước, tiết kiệm nguyên liệu,
tiết kiệm đất; (iv)
Tại Hoa Kỳ, tiếp cận kinh tế cacbon thấp lấy tiêu chí hiệu quả kinh tế để thực
thi chính sách, động lực thị trường thúc đẩy đổi mới công nghệ. Thực thi bảo vệ môi
trường có khoa học và kế hoạch rõ ràng chia theo giai đoạn, trước hết người dân phải
hiểu, thứ đến phải có can thiệp khoa học và cuối cùng thực Trong nông nghiệp,
9
khuyến khích sản xuất nông sản hữu cơ, phát triển trang trại không sử dụng hoá chất
diệt côn trùng và các dịch vụ hỗ trợ khoa học kỹ thuật khác. Trong công nghiệp, vấn
đề được chú trọng nhất là tiết kiệm năng lượng và sử dụng năng lượng thay thế nhằm
hạn chế sử dụng nhiên liệu hoá thạch. cac onĐối với phát triển đô thị, nhà được thiết
kế theo dạng kiến trúc xanh, tiết kiệm năng lượng, sử dụng nước mưa tự nhiên, tận
dụng chất thải và nhiều sáng kiến khác.
Các nước đang phát triển có trình độ công nghệ thấp hơn các nước phát triển,
sản xuất chủ yếu dựa vào nông nghiệp, khai thác và xuất khẩu thô tài nguyên thiên
nhiên, lao động giá rẻ. Định hướng phát triển nền kinh tế xanh, sẽ là cơ hội cho các
nước tham gia để khôi phục nguồn tài nguyên tái tạo, duy trì và phát triển hệ sinh
thái tự nhiên và BVMT, tăng phúc lợi và giảm nghèo.
Như vậy, những bài học thực tiễn được phân tích ở trên cho thấy, TTX là con
đường tất yếu và là trọng tâm hiện nay trong chính sách phát triển quốc gia của nhiều
nước trên thế giới, tăng trưởng xanh vừa thúc đẩy tăng trưởng kinh tế, bảo đảm an
sinh, tăng cường phúc lợi xã hội vừa duy trì BVMT, bảo tồn đa dạng sinh học và
3 (khoá XI) đã xác định nhiệm vụ đổi mới mô hình tăng trưởng gắn với tái cơ cấu
nền kinh tế nhằm đưa đất nước phát triển nhanh, bền vững.
Từ các Nghị quyết, chủ trương, chính sách của Ðảng, Chính phủ đã an hành
a văn ản quan trọng có tính chất chiến lược: Quyết định số 432/QÐ-TTg ngày 124-2012 phê duyệt Chiến lược phát triển bền vững Việt Nam giai đoạn 2011-2020;
Quyết định số 1393/QÐ-TTg ngày 25-9-2012 phê duyệt Chiến lược quốc gia về TTX
thời kỳ 2011-2020 và tầm nhìn đến năm 2050 và Quyết định số 339/QÐ-TTg ngày
19-2-2013 phê duyệt Ðề án tổng thể tái cơ cấu kinh tế gắn với chuyển đổi mô hình
tăng trưởng theo hướng nâng cao chất lượng, hiệu quả và năng lực cạnh tranh giai
đoạn 2013-2020. Nội dung a văn ản này hầu như đã ao quát hết nội hàm, ý nghĩa,
mục tiêu, quan điểm, nguyên tắc, giải pháp, cách thức thực hiện,... là cơ sở pháp lý
thúc đẩy TTX ở Việt Nam.
Bên cạnh những định hướng phát triển, tăng trưởng xanh cũng được đề cập tới
trong một số công trình nghiên cứu gần đây ở Việt Nam.
Báo cáo của Chương trình Phát triển Liên Hợp Quốc (2014) về “TTX và chính
sách tài khoá về nhiên liệu hoá thạch ở Việt Nam” nhấn mạnh rằng những nỗ lực cải
cách gần đây cần được thúc đẩy đáng kể để đáp ứng các mục tiêu tham vọng của
Chiến lược TTX và để Việt Nam tiến tới một quỹ đạo tăng trưởng bền vững và bao
trùm hơn. Cải cách chính sách tài khóa nhiên liệu hóa thạch đòi hỏi phải cải cách
ngành năng lượng tổng thể, cải cách giá và một chiến lược truyền thông và tham vấn
để kêu gọi sự ủng hộ trên diện rộng đối với cải cách, dựa trên các công trình nghiên
cứu của nhiều đối tác nghiên cứu trong nước và các chuyên gia quốc tế, cũng như
thông qua đối thoại rộng khắp với các bên liên quan chính bao gồm các hộ, doanh
nghiệp, các đối tác phát triển và các nhà hoạch định chính sách.
Nguyễn Chu Hồi, Trung tâm Nghiên cứu Biển và Hải đảo, Ðại học Quốc gia
Hà Nội trong tác phẩm “Quy hoạch không gian biển và ven biển” nhận định: Quản lý
tổng hợp biển theo không gian đòi hỏi xác lập một cơ chế phối hợp liên ngành trong
quản lý biển và giải quyết dồng bộ các quan hệ phát triển khác nhau, trong đó quan
hệ giữa các mảng không gian cho phát triển kinh tế biển và tổ chức không gian biển
hợp lý cho phát triển kinh tế biển bền vững là một trong những nhiệm vụ quan trọng.
11
thể phát triển kinh tế xã hội quận Đồ Sơn, Hải An, Hồng Bàng, Dương Kinh, Ngô
Quyền đến năm 2020; Quy hoạch cải tạo, xây dựng Bến tàu thủy nội địa khu vực
Bến Bính; Quy hoạch phát triển công nghiệp Hải Phòng giai đoạn 2011 - 2020; Quy
hoạch Đô thị theo hướng chủ động ứng phó với biến đổi khí hậu; Quy hoạch chung
xây dựng Khu Kinh tế Đình Vũ - Cát Hải, TP. Hải Phòng đến năm 2025; Quy hoạch
tổng thể phát triển ngành công nghiệp tàu thủy,...
12
Việc ưu tiên xây dựng các đề án, dự án nghiên cứu triển khai theo định hướng
kinh tế biển xanh, TTX hướng tới PTBV biển, hải đảo và vùng ven biển có vai trò
quan trọng và ý nghĩa cần thiết cho khu vực trong hiện tại và tương lai.
1 2 CƠ SỞ LÝ LU N VỀ TỔ CHỨC KHÔNG GIAN THEO Đ NH HƢ NG
TĂNG TRƢỞNG XANH TẠI KHU VỰC VEN BIỂN
1.2.1. Tổ chức không gian lãnh thổ - kinh tế
Trên quan điểm địa lý đổi mới và phát triển, có thể coi tổ chức lãnh thổ là một
hành động dịa lý học có chủ ý nhằm hướng tới sự công bằng về mặt không gian. Xét
dưới khía cạnh quản lí đất nước, lãnh thổ - đó là ề mặt lãnh thổ thuộc quyền tài
phán của một quốc gia, bao gồm phần đất liền, nội thuỷ, lãnh hải vùng đặc quyền
kinh tế, lòng đất, vùng trời thuộc chủ quyền. Giới hạn của lãnh thổ là đường biên
giới quốc gia (trên đất liền và vùng lãnh hải). Lãnh thổ còn được quan niệm đầy đủ
hơn, đó là thể thống nhất, hay nói chung là một thực thể được tổ chức bởi các cộng
đồng xã hội. Ðó là nơi sinh sống của cộng đồng xã hội, được cộng đồng này chiếm
giữ để đảm bảo sự cung cấp các nhu cầu thiết yếu của nó, và sự tái sinh sản của
chính nó. Tổ chức lãnh thổ được hiểu như toàn ộ quá trình hay hành động của con
người nhằm phân bố các cơ sở sản xuất và dịch vụ, phân bố dân cư, sử dụng tự
nhiên, có tính đến các mối quan hệ, liên hệ của chúng, các sự phụ thuộc lẫn nhau của
chúng. Các hành động này được thực hiện phù hợp với các mục tiêu của xã hội trên
cơ sở các quy luật kinh tế trong hình thái KTXH tương ứng.
TTX hiện là một trong những vấn đề lý luận mang tính thời sự trên thế giới và
là trọng tâm được ưu tiên hàng đầu trong chính sách phát triển của nhiều quốc gia,
khu vực, vì sự phát triển bền vững. Tuy nhiên cho tới nay vẫn chưa có một định
nghĩa chuẩn về TTX trong các cuộc bàn luận chính sách và trong công chúng.
Khái niệm TTX lần đầu tiên được đưa ra cho khu vực Châu Á - Thái Bình
Dương năm 2005 trong ối cảnh đây là khu vực được coi là dễ bị tổn thương nhất
trước các biến cố về môi trường. Có nhiều nguyên nhân khiến khu vực này cần phải
nhanh chóng chuyển sang TTX. Trước hết ở đây có những ngành công nghiệp gây ô
nhiễm nặng nề do thường sử dụng công nghệ lạc hậu và hoạt động dưới một chế độ
kiểm soát ô nhiễm yếu, sản xuất công nghiệp trong khu vực giai đoạn 1995 - 2002 đã
tăng 40%, cao hơn nhiều so với mức bình quân 23% của thế giới. Thứ hai là sản xuất
nông nghiệp từ năm 1992 đến 2002 đã tăng 62% mà phần lớn là do sử dụng nhiều
hoá chất nông nghiệp vượt xa mức trung bình của thế giới. Thứ ba là sự tăng trưởng
của cư dân đô thị với 600 đến 800 triệu người trong khu vực được cho là không được
cung cấp đầy đủ về vệ sinh. Thứ tư, sự phát triển trong xử lý nước thải, quản lý chất
thải rắn và hạ tầng giao thông không theo kịp với sự tăng dân số đô thị. Cuối cùng là
nhu cầu về nước tăng đã gây áp lực đáng kể lên môi trường. Đây là khu vực chiếm
tới 2/3 số người nghèo của thế giới. UNESCAP đã gợi mở xu hướng TTX để giúp
các nước Châu Á và Thái Bình Dương hướng tới phát triển bền vững, tìm kiếm sự
hoà hợp giữa hai nhu cầu “tăng trưởng kinh tế” và “ ền vững về môi trường”, tạo ra
sự phối hợp cùng thắng (win - win) giữa môi trường và kinh tế và để cho môi trường
được coi như một cơ hội hơn là chi phí và gánh nặng đối với nền kinh tế.
Uỷ ban Kinh tế Xã hội khu vực Châu Á - Thái Bình Dương của Liên Hợp
Quốc (UNESCAP) định nghĩa: “TTX là chiến lược tìm kiếm sự tối đa hoá trong sản
lượng kinh tế và tối thiểu hoá gánh nặng sinh thái. Cách tiếp cận mới tìm kiếm sự hài
hoà giữa tăng trưởng kinh tế và tính bền vững môi trường bằng việc thúc đẩy những
thay đổi cơ bản trong sản xuất và tiêu dùng xã hội”. TTX khác với tăng trưởng
truyền thống là không lấy phương châm "phát triển trước, BVMT sau", mà lấy việc
phòng ngừa, lồng ghép BVMT, giảm phát thải cácbon trong sản xuất, kinh doanh
(i) Loại bỏ các rào cản cho TTX: Tăng cường kết nối chính sách, loại bỏ các rào cản
đối với hàng hóa và dịch vụ môi trường, loại bỏ các khoản trợ cấp có hại; (ii) Thúc
đẩy sự thay đổi: Xây dựng các chính sách tổng họp, bao gồm các chính sách dựa vào
thị trường và công cụ phi thị trường; Đẩy mạnh phổ biến và tăng cường công nghệ
xanh; Khuyến khích các phương pháp sản xuất và tiêu dùng sạch hơn, đổi mới các
chính sách tài chính; (iii) Hỗ trợ cho sự chuyển đổi: Hỗ trợ cho sự phân bổ lại lực
lượng lao động thông qua thị trường lao động và các chính sách lao động, nâng cao
kỹ năng cho người lao động...; (iv) Tăng cường họp tác quốc tế: Tăng cường cơ chế
tài chính cho các hàng hóa công cộng toàn cầu, hỗ trợ đối tượng cận nghèo cho TTX,
nhấn mạnh vào những vấn đề cạnh tranh, tăng cường chuyển đổi công nghệ. (v)
15
Phương pháp đạt được TTX: Phát triển một khung hạch toán mới và thiết lập các chỉ
số của TTX, phát triển phương pháp đo lường các tác động chính sách đặc thù,...
Như vậy, để tiến tới TTX đòi hỏi sự can thiệp của Chính phủ thông qua các chính
sách để thúc đẩy đổi mới, quản lý quá trình chuyển đổi sang phát triển nền kinh tế
xanh.
Chiến lược phát triển kinh tế của Liên minh châu Âu (EU) bao gồm ba nội
dung ưu tiên có quan hệ bổ sung cho nhau: (i) Tăng trưởng thông minh: Phát triển
kinh tế dựa vào tri thức và nghiên cứu đột phá cải tiến công nghệ; (ii) Tăng trưởng
bền vững: Thúc đẩy nền kinh tế sử dụng hiệu quả tài nguyên, xanh hơn và có khả
năng cạnh tranh cao hơn; (iii) Tăng trưởng bình đẳng: Khuyến khích nền kinh tế với
nhiều việc làm, tạo sự gắn bó trong xã hội và ình đẳng giữa các vùng miền. Các
hành động cụ thể bao gồm xây dựng một nền kinh tế có tính cạnh tranh cao, sử dụng
hiệu quả tài nguyên, tận dụng vị thế tiên phong của châu Âu trong công cuộc phát
triển những quy trình, công nghệ mới, bao gồm công nghệ xanh, áp dụng sâu rộng
lưới điện thông minh, sử dụng công nghệ thông tin, tận dụng mạng lưới toàn EU và
củng cố tính cạnh tranh của các doanh nghiệp vừa và nhỏ trong kinh doanh, cũng
như hỗ trợ khách hàng đánh giá đúng tầm quan trọng của việc tiết kiệm tài nguyên.
- TTX là một nội dung của phát triển bền vững, đảm bảo phát triển kinh tế
theo hướng nhanh, hiệu quả và bền vững, đồng thời góp phần quan trọng thực hiện
Chiến lược Quốc gia về biến đổi khí hậu.
- TTX phải do con người và vì con người, góp phần tạo việc làm, xóa đói
giảm nghèo, nâng cao đời sống vật chất và tinh thần của người dân.
- TTX dựa trên tăng cường đầu tư vào ảo tồn, phát triển và sử dụng hiệu quả
các nguồn vốn tự nhiên, giảm phát thải khí nhà kính, cải thiện nâng cao chất lượng
môi trường, qua đó kích thích tăng trưởng kinh tế.
- TTX phải dựa trên cơ sở khoa học và công nghệ hiện đại, phù hợp với điều
kiện Việt Nam, nguồn nhân lực chất lượng cao, kết hợp giữa nội lực với mở rộng
hợp tác quốc tế.
- TTX là sự nghiệp của toàn Đảng, các cấp chính quyền, các bộ, ngành và địa
phương; của các cơ quan, doanh nghiệp, đoàn thể xã hội, các cộng đồng dân cư và
mọi người dân”.
Từ những quan điểm nêu trên, nội hàm của TTX cần có sự đồng thuận giữa
các nước đang phát triển để cùng thực hiện từ sử dụng hiệu quả tiết kiệm tài nguyên,
BVMT, xóa đói giảm nghèo, đầu tư cho bảo tồn và phát triển, giảm thiểu phát thải
khí nhà kính đến sự nỗ lực của toàn xã hội, không chỉ các tổ chức chính quyền mà
còn cả người dân và doanh nghiệp cùng phải nhận thức đầy đủ và thực hiện,...
c) N dun ơ ản của chiến lược quốc gia về tăn trưởn xan
2011 - 2020, tầm n ìn ến năm 2050 và n ững vấn ề áp dụng
a
oạn
Chiến lược quốc gia về TTX ở Việt Nam thời kỳ 2011 - 2020 và tầm nhìn đến
năm 2050 đề ra mục tiêu tổng quát. Theo đó, TTX nhằm tiến tới nền kinh tế cacbon
thấp, làm giàu vốn tự nhiên trở thành xu hướng chủ đạo trong phát triển kinh tế bền
vững; giảm phát thải và tăng khả năng hấp thụ khí nhà kính dần trở thành chỉ tiêu bắt
quốc tế. Tại hội thảo “Diễn đàn chính sách tăng trưởng xanh đô thị Châu Á năng
động” do thành phố Hải Phòng và Tổ chức Hợp tác Phát triển Kinh tế (OECD) phối
hợp tổ chức, Hải Phòng được xác định là 1 trong 3 thành phố, cùng Bangkok (Thái
Lan), Joho Rans (Malaixia), được OECD lựa chọn hỗ trợ về chính sách và kinh phí
200.000 EUR triển khai trong hai năm 2014 - 2015. Trong bối cảnh phát triển mới,
định hướng tăng trưởng xanh của TP.Hải Phòng nhằm thu hút các nguồn lực đầu tư
phục vụ phát triển KTXH và BVMT.
1.2.3. Lý luận về tổ chức không gian theo định hƣớng tăng trƣởng xanh áp dụng
cho khu vực ven iển
Tổ chức không gian theo định hướng tăng trưởng xanh cho khu vực ven biển
trong phạm vi đề tài luận văn được dựa trên các cơ sở khoa học và pháp lý sau đây:
- Không gian biển và quy hoạch không gian biển: Khác với trên đất liền,
không gian kinh tế biển rộng mở, khá đa dạng và luôn tác động tương hỗ nhau cả về
mặt tự nhiên và phát triển theo các cấp độ khác nhau.
Trên cơ sở ình đồ tổ chức không gian biển - ven biển, việc quy hoạch không
gian cho từng khu vực biển, vùng ven biển thông qua tính toán đầy đủ các nguồn lực
(nội lực, ngoại lực), đặc biệt là các giá trị sinh thái của vùng quy hoạch, xác định thế
mạnh phát triển, hiện trạng khai thác, sử dụng vùng biển theo không gian và thời
18
gian, quy hoạch không gian biển để phân bổ không gian cho các hoạt động của con
nguời trong vùng quy hoạch, đạt được các mục tiêu KTXH và sinh thái.
Trên cơ sở quy hoạch sử dụng không gian, cần tiến hành xác định “chế độ
pháp lý” cho các mảng không gian phân chia cho các ngành, nguời sử dụng để bảo
đảm mức độ tuân thủ quy hoạch cao nhất, giảm thiểu mâu thuẫn lợi ích trong sử
dụng đa ngành và tối ưu hóa lợi ích kinh tế trong khi vẫn bảo toàn được chức năng
sinh thái và BVMT theo huớng phát triển bền vững ở vùng quy hoạch.
- Luật BVMT năm 2014: Luật này quy định quy hoạch BVMT phải đảm bảo
- Phân tích và đánh giá thực trạng quy hoạch, phân vùng chức năng phát triển
KTXH và quản lý môi trường khu vực nghiên cứu dưới góc độ TTX.
- Phân tích và đánh giá các vấn đề về KTXH và môi trường nổi cộm tại các
tiểu vùng chức năng.
- Đề xuất phương án tổ chức không gian theo định hướng TTX tại khu vực
nghiên cứu.
1 3 QUAN ĐIỂM, PHƢƠNG PH P VÀ C C Ƣ C NGHIÊN CỨU
1 3 1 Các quan điểm nghiên cứu
- uan
m tổng hợp:
Nghiên cứu này được thực hiện theo nhiều công đoạn, từ phân tích hiện
trạng, đánh giá iến động sử dụng đất, các yếu tố tự nhiên, kinh tế xã hội, cho đến
các định hướng phát triển và điều kiện môi trường cụ thể của địa phương. Các kết
quả nghiên cứu đưa ra vừa có tính khoa học, vừa phản ánh điều kiện khách quan, phù
21
hợp với các điều kiện đặc thù của lãnh thổ nghiên cứu, là tài liệu tham khảo cho các
cơ quan quản lý trong việc lập, điều chỉnh quy hoạch, kế hoạch tổ chức không gian
đảm bảo mục tiêu phát triển bền vững của các quận.
- uan
m phát tri n bền vững:
Với mục tiêu định hướng tổ chức không gian lâu dài được đặt ra cho các quận,
khu vực này có thể quy hoạch cũng như hoạch định chính sách một cách chính xác
phù hợp và hiệu quả nhất cho quá trình phát triển bền vững của vùng. Với quan điểm
nghiên cứu này, việc tổ chức không gian hợp lý, đảm bảo đầy đủ chức năng của
Phương pháp phân tích SWOT (còn gọi là ma trận SWOT) là phương pháp
phân tích các điểm mạnh (Strengths), điểm yếu (Weaknesses), cơ hội (Opportunities)
và rủi ro (Threats). Điểm mạnh và điểm yếu là sở trường và sở đoản là những yếu tố
hệ thống tạo nên (hoặc làm giảm) giá trị của các không gian được tổ chức. Trong khi,
cơ hội và rủi ro là các yếu tố tồn tại bên ngoài hệ thống tạo nên (hoặc làm giảm) giá
trị các không gian được tổ chức. Cơ hội và rủi ro xuất phát từ yếu tố địa lý, kinh tế,
chính trị, xã hội, hay văn hóa. Phân tích SWOT nhằm vào việc đánh giá và xác định
thách thức - cơ hội - điểm mạnh - điểm yếu trong định hướng tổ chức không gian.
-
ươn p
p t am vấn ý kiến chuyên gia:
Quá trình tham vấn được thực hiện ở 2 cấp quản lý Nhà nước về môi trường:
Bộ Tài nguyên và Môi trường và Sở Tài nguyên và Môi trường TP. Hải Phòng. Bản
đồ phân vùng chức năng, ản đồ tổ chức không gian và các bảng nội dung thuyết
22
minh sau khi xây dựng được gửi cho một số chuyên gia ở cấp Bộ và cấp Sở xem xét,
đánh giá và góp ý. Các nội dung tham vấn đề cập tới tính phù hợp về cơ sở pháp lý
và tính xác thực đối đối với điều kiện thực tiễn địa phương của bản đồ định hướng
TTX.
-
ươn p
p ản ồ và hệ t ôn t n ịa lý (GIS):
Thủy Nguyên, phía Tây Bắc giáp huyện An Dương, quận Lê Chân, phía Tây Nam
giáp huyện Kiến An, Kiến Thụy và phía Đông là iển Đông (hình 1.1). Khu vực
nghiên cứu có tổng diện tích khoảng 218,6 km2, bao gồm 45 phường chiếm 14,39%
diện tích toàn thành phố. Vị trí địa lý tạo cho khu vực nghiên cứu nhiều lợi thế trong
phát triển kinh tế xã hội. Nằm ở dải ven biển, khu vực có các đầu mối giao thông
quan trọng, bao gồm các tuyến đường bộ (điển hình là Quốc lộ 5 nối liền Hà Nội với
Hải Phòng), đường thuỷ (với mật độ cảng lớn như cảng Chùa Vẽ, cảng Cửa Cấm,
cảng Quân sự và một số cảng chuyên dùng khác), đường sắt (từ ga Lạc Viên đến
cảng Chùa Vẽ) và đường hàng không (sân ay Cát Bi). Địa bàn các quận được bao
quanh bởi hệ thống sông Lạch Tray, sông Cấm có cửa Nam Triệu đổ ra Vịnh Bắc
Bộ. Các đặc điểm trên là lợi thế quan trọng phục vụ phát triển kinh tế, xã hội (điển
hình là các hoạt động phát triển cảng biển, khu công nghiệp ven biển, đô thị...) của
các quận ven iển nói riêng và TP. Hải Phòng nói chung. Địa hình khu vực có tính
phân bậc thể hiện xu hướng thấp dần về phía nam. Theo Nguyễn Đức Đại (1996),
khu vực Hải Phòng có 4 kiểu địa hình chính: núi đá vôi, đồi núi thấp, đồi núi sót và
đồng bằng. Các quận ven iển chủ yếu là địa hình đồng bằng ven biển có độ cao từ
2-10 m, cao ở phía tây bắc, bắc và thấp dần về phía nam, đông nam tới bờ biển.
Trong khu vực có các hệ thống đứt gãy tân kiến tạo và kiến tạo hiện đại với 3
hướng chủ đạo: tây bắc - đông nam; đông ắc - tây nam và á vĩ tuyến. Các thành tạo
địa chất ở khu vực nghiên cứu được chia thành: các thành tạo đá gốc trước Đệ Tứ và
các trầm tích Đệ Tứ. Trong đó, các thành tạo trong khu vực nghiên cứu chủ yếu là
trầm tích Đệ tứ với nhiều nguồn gốc khác nhau: biển, biển - sông, sông biển, đầm lầy
- biển, hồ - đầm lầy. Trầm tích phổ biến là các loại hạt mịn như ùn, bột, sét bột, màu
tím, xám đen, xám nâu thùy thuộc vào từng loại nguồn gốc. Tại huyện Thủy Nguyên
có thể quan sát thấy các dải đồi đá vôi và đá phiến sét; tại quận Đồ Sơn quan
24
Hình 2.1. Bản đồ vị trí khu vực nghiên cứu trong thành phố Hải Phòng
25