Đánh giá thực trạng và định hướng sử dụng đất đai huyện An Lão, thành phố Hải Phòng (luận văn thạc sĩ) - Pdf 40

ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
TRƢỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC TỰ NHIÊN
----------

Ngô Thị Hà

ĐÁNH GIÁ THỰC TRẠNG VÀ ĐỊNH HƢỚNG SỬ
DỤNG ĐẤT ĐAI HUYỆN AN LÃO, THÀNH PHỐ
HẢI PHÒNG

LUẬN VĂN THẠC SĨ KHOA HỌC

Hà Nội - 2011

1


PHẦN MỞ ĐẦU
1. Tính cấp thiết của đề tài
Sử dụng nguồn tài nguyên đất đai một cách hợp lý và hiệu quả, là một trong những
vấn đề được các nước đặc biệt quan tâm hiện nay. Bởi vì đất đai là tài nguyên vô cùng
quý giá, là tư liệu sản xuất đặc biệt không gì có thể thay thế được, là môi trường sống, là
địa bàn phân bố các khu dân cư, xây dựng các công trình kinh tế, văn hoá, huyện hội, an
ninh quốc phòng. Đất đai bao gồm yếu tố tự nhiên và chịu sự tác động của các yếu tố
kinh tế, tâm lý huyện hội và ý thức sử dụng đất của mỗi con người. Đất đai có giới hạn
về không gian nhưng vô hạn về thời gian sử dụng.
Mác đã khẳng định: “Đất là kho tàng cung cấp cho con người mọi thứ cần thiết,
vì vậy trong quá trình sử dụng đất muốn đạt được hiệu quả kinh tế cao nhất thiết phải
có kế hoạch cụ thể về thời gian và lập quy hoạch về không gian.”
Định hướng sử dụng hợp lý tài nguyên đất đai thông qua các quy hoạch và
chiến lược phát triển, với mục tiêu hướng tới cao nhất là sử dụng hiệu quả, tiết kiệm

2010.
- Phân tích quan hệ giữa các hoạt động kinh tế - xã hội và biến động sử dụng
đất trong khu vực.
- Phân tích các yếu tố ảnh hưởng và dự báo xu thế biến động sử dụng đất
huyện An Lão, thành phố Hải Phòng.
- Phân tích thực trạng và tiềm năng đất đai của huyện, tạo ra tầm nhìn tổng
quát về phân bổ quỹ đất cho các ngành, các mục tiêu sử dụng đất đáp ứng yêu cầu
phát triển kinh tế, xã hội.
- Xây dựng bản đồ đơn vị đất đai, thích nghi đất đai, định hướng sử dụng đất
huyện An Lão, thành phố Hải Phòng.
- Đề xuất định hướng sử dụng đất đai phục vụ phát triển phát triển bền vững
huyện An Lão, thành phố Hải Phòng đến năm 2020.
4. Phạm vi nghiên cứu
Phạm vi không gian: Huyện An Lão, thành phố Hải Phòng.
Phạm vi khoa học: Nghiên cứu thực trạng và nguồn lực phát triển, đề xuất
định hướng sử dụng đất cho khu vực nghiên cứu giai đoạn 2012 – 2020 với tiêu chí
bảo vệ và cải thiện chất lượng môi trường (bền vững về môi trường), phát triển kinh
tế (bền vững về kinh tế) và đảm bảo công bằng xã hội (bền vững về xã hội).
5. Ý nghĩa khoa học và thực tiễn
5.1.Ý nghĩa khoa học: Kết quả nghiên cứu phân tích hiện trạng và biến động

3


sử dụng đất đai huyện An Lão làm cơ sở khoa học cho việc định hướng, quy hoạch
sử dụng đất trên địa bàn theo hướng phát triển bền vững.
5.2. Ý nghĩa thực tiễn: Các đề xuất định hướng sử dụng đất đai sẽ là tài liệu
tham khảo cho các cơ quan quản lý trong việc lập quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất
đảm bảo mục tiêu phát triển bền vững của huyện An Lão nói riêng, thành phố Hải
Phòng nói chung.

Phong chủ biên - NXB Nông nghiệp, Hà Nội, 1995), …
- Thu thập thông tin từ việc điều tra thực tế tại địa phương: Số liệu thống kê,
kiểm kê đất đai các năm 2000 đến 2010,…
8. Cấu trúc của luận văn: Ngoài phần mở đầu, kết luận, nội dung của luận văn
gồm 4 chương:
Chương 1: Cơ sở lí luận và phương pháp nghiên cứu.
Chương 2: Đặc điểm điều kiện tự nhiên, kinh tế - xã hội của huyện An Lão,
thành phố Hải Phòng.
Chương 3: Đánh giá hiện trạng sử dụng đất huyện An Lão, thành phố Hải Phòng.
Chương 4: Đề xuất định hướng quy hoạch sử dụng đất của huyện An Lão, thành
phố Hải Phòng đến năm 2020.

5


CHƢƠNG 1
CƠ SỞ LÍ LUẬN VÀ PHƢƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
1.1. Phân loại các nhóm đất sử dụng
Căn cứ vào mục đích sử dụng, đất đai được phân loại như sau (Điều 13 Luật
đất đai năm 2003):
1/ Nhóm đất nông nghiệp: Là đất được xác định chủ yếu để sử dụng vào sản
xuất nông nghiệp, bao gồm các loại đất:
a) Đất trồng cây hàng năm bao gồm đất trồng lúa, đất cỏ dùng vào chăn nuôi,
đất trồng cây hàng năm khác;
b) Đất trồng cây lâu năm;
c) Đất rừng sản xuất;
d) Đất rừng phòng hộ;
e) Đất rừng đặc dụng;
f) Đất nuôi trồng thuỷ sản;
g) Đất làm muối;

thế hơn so với các khu vực xa trung tâm đô thị hoặc các vùng miền núi.
- Yếu tố địa hình: Là một trong những yếu tố quyết định đến việc sử dụng
đất, đặc biệt đối với mục đích nông, lâm nghiệp. Sự khác nhau giữa địa hình các
vùng, khu vực dẫn đến sự khác nhau vế đất đai và khí hậu. Từ đó ảnh hưởng đến
sản xuất nông nghiệp và cơ cấu các loại cây trồng. Đối với đất phi nông nghiệp thì
địa hình phức tạp sẽ dẫn đến nhiều khó khăn cho việc xây dựng công trình và thi
công.
- Điều kiện khí hậu, thuỷ văn: Các yếu tố khí hậu ảnh hưởng trực tiếp đến sử
dụng đất cho mục đích sản xuất nông nghiệp và điều kiện sinh hoạt của con người.
Sự khác nhau về nhiệt độ giữa các vùng ảnh hưởng đến sự phân bố cây trồng và
thực vật. Cường độ chiếu sáng, thời gian chiếu sáng cũng tác động đến quá trình
quang hợp và sinh trưởng của cây trồng. Lượng mưa nhiều hay ít có ý nghĩa quan
trọng trong việc cung cấp nước tưới và giữ độ ẩm cho đất.
Hệ thống sông suối, ao hồ có vai trò rất quan trọng trong việc tổ chức sử
dụng đất đai, nhất là tại khu vực miền núi. Chúng vừa là nguồn cung cấp nước sinh
hoạt, nước tưới vừa là nơi tiêu nước khi có úng ngập.
- Yếu tố thổ nhưỡng: Điều kiện thổ nhưỡng quyết định rất lớn đến việc sử
dụng đất phục vụ cho mục đích phát triển nông nghiệp bởi vì mỗi loại cây trồng

7


thích hợp với các loại đất và chất lượng đất nhất định. Độ phì nhiêu của đất là yếu
tố tác động mạnh đến sinh trưởng của cây trồng và năng suất, sản lượng.
- Thảm thực vật: Thảm thực vật là một yếu tố môi trường có vai trò rất quan
trọng. Thảm thực vật bao gồm các vùng rừng nguyên sinh, rừng đầu nguồn, rừng
sản xuất, đồng cỏ, cây trồng hàng năm, cây trồng lâu năm,... Thảm thực vật tự nhiên
là yếu tố điều tiết khí hậu, chế độ nước của sông, suối, chế độ nhiệt, ẩm trong đất,
chế độ nước ngầm. Thảm thực vật còn là nguồn cung cấp lâm sản quý và là nguồn
thức ăn quan trọng cho chăn nuôi gia súc. Trong nhiều trường hợp, nó còn tạo nên

đất đai (Bảo vệ).
- Có thể tồn tại về mặt kinh tế (khả năng thực hiện).
- Có thể chấp nhận về mặt xã hội (khả năng chấp nhận).
Khái niệm về tính bền vững của một hệ thống quản lý sử dụng đất đã được
các nhà khoa học đưa ra, bao gồm 3 phương diện [5]: Bền vững về kinh tế (sử dụng
đất phải cho năng xuất cao và tăng dần; chất lượng cao và giảm rủi ro; được thị
trường chấp nhận), được sự chấp nhận của xã hội (đáp ứng được nhu cầu của người
sử dụng đất, thu hút lao động, giải quyết việc làm, nâng cao đời sống của người
dân) và bền vững về môi trường (giảm thiểu lượng đất mất hàng năm, ngăn chặn
được sự thoái hóa, ô nhiễm đất, bảo vệ được môi trường sinh thái).
1.4. Nội dung và phƣơng pháp đánh giá hiện trạng sử dụng đất
Đánh giá nói chung là sự ước lượng vai trò, giá trị của các đối tượng nghiên
cứu và tùy thuộc vào mục đích mà cùng một đối tượng có thể đánh giá bằng nhiều
cách khác nhau. Nói cách khác, nhiệm vụ đánh giá thường gắn với mục tiêu, đối
tượng nghiên cứu cụ thể và từ đó có những chỉ tiêu đánh giá và phương pháp đánh
giá thích hợp.
Tùy thuộc vào mức độ yêu cầu mà có thể phân chia đánh giá thành các hình
thức sau:
- Đánh giá định tính: đánh giá định tính đã có từ lâu, từ những cảm nhận đơn
giản, chủ quan người ta phân chia thành các mức độ ”tốt, xấu” và ”nhiều, ít”, cho
đến những phân tích, đánh giá một cách khoa học. Như vậy, đánh giá định tính cũng
có hai mức độ là: định tính theo cảm tính của thời kỳ trước đây và định tính trên cơ
sở nhận định có tính khoa học trong giai đoạn hiện nay. Đánh giá định tính là đánh
giá tiềm năng hay mức độ thích hợp của các điều kiện tự nhiên, tài nguyên thiên
nhiên cho các mục đích sử dụng nhất định. Kết quả đánh giá định tính thường
không cụ thể thành các con số mà chủ yếu là đưa ra nhận xét.

9



trường của lãnh thổ nghiên cứu.
4. Cơ cấu sử dụng đất đai phân theo đối tượng sử dụng, quản lí đất (các tổ
chức; hộ gia đình, cá nhân; nước ngoài và liên doanh với nước ngoài; UBND xã

10


quản lý và sử dụng; các đối tượng khác).
5. Bình quân diện tích đất đai trên đầu người (bình quân diện tích đất tự
nhiên 870m2/người; diện tích đất sản xuất nông nghiệp 408m2/người; diện tích đất
ở/hộ hoặc theo đầu người).
6. Hiệu quả kinh tế sử dụng đất:
- Hiệu quả kinh tế sử dụng đất sản xuất nông nghiệp: được xác định bằng
phương pháp phân tích chi phí - lợi ích với các chỉ tiêu chủ yếu bao gồm: tổng thu,
tổng chi, giá trị hiện ròng (lợi nhuận), hiệu quả đồng vốn (tỷ suất lợi ích chi phí).
- Hiệu quả kinh tế sử dụng đất lâm nghiệp (rừng trồng sản xuất) thể hiện qua
giá trị khai thác lâm sản.
- Hiệu quả kinh tế sử dụng đất sản xuất, kinh doanh: có thể đánh giá bằng
các chỉ tiêu sau:
+ Mức độ thuận lợi về vị trí cho các mục đích sản xuất công nghiệp, thương
mại, dịch vụ: được đánh giá bằng lợi nhuận theo vị trí đối với mục đích thương mại,
dịch vụ và giảm chi phí đối với sản xuất công nghiệp.
+ Mật độ xây dựng.
+ Giá đất.
+ Tiền thuê đất.
- Hiệu quả kinh tế sử dụng đất giao thông: được đánh giá bằng các chỉ tiêu:
+ Mức độ thuận lợi về giao thông đối với sản xuất kinh doanh và sinh hoạt.
+ Tỷ lệ đất giao thông trong cơ cấu sử dụng đất.
+ Mức đầu tư và thời gian hoàn vốn (đối với các công trình theo kiểu BOT).
- Hiệu quả kinh tế sử dụng đất ở: được đánh giá thông qua giá trị đất ở và

nghĩa, mục đích của từng phần lãnh thổ và đề xuất một trật tự sử dụng đất nhất
định.
Đánh giá đất đai là quá trình so sánh, đối chiếu những tính chất vốn có của
vạt/khoanh đất cần đánh giá với những tính chất đất đai mà loại yêu cầu sử dụng đất
cần phải có [FAO, 1976].
Trong đánh giá đất, vùng nghiên cứu được chia thành các đơn vị bản đồ đất
đai là những khoanh/vạt đất được xác định trên bản đồ với những đặc tính và tính
chất đất riêng biệt như chế độ nhiệt, độ dốc, loại đất, địa hình, chế độ tưới tiêu, ... [5].
Đánh giá đất đai là quá trình đoán định tiềm năng của đất cho một hoặc một số
loại hình sử dụng đất được đưa ra để lựa chọn [5]. Là xác định mức độ phù hợp của
các đơn vị đất đai đối với đối tượng quy hoạch phát triển; là đối chiếu nhu cầu sinh

12


thỏi ca loi hỡnh s dng vi cỏc c trng v cht lng t ai. Kt qu ca ỏnh
giỏ t ai s l ti liu quan trng trong quy hoch, s dng hp lý ti nguyờn t.
ỏnh giỏ t ai nhm tr li cỏc cõu hi sau:
- Khu vc t no phự hp nht cho mt loi hỡnh s dng ó c xỏc nh?
- i vi mt khu t nht nh thỡ loi hỡnh s dng t no l phự hp nht?
FAO a ra cỏc bc ỏnh giỏ t ai nh sau [5]:
1)Xác định mục tiêu

2) Thu thập tài liệu

3. Xác định loại hình
SDĐ

4) Xác định đơn vị đất
đai

tạo điều kiện bảo vệ đất và môi trường.
Trong quá trình sử dụng đất, không tránh khỏi sự lãng phí, chuyển đổi mục
đích bừa bãi nhất là chuyển từ đất nông nghiệp, lâm nghiệp (có rừng) sang đất xây
dựng, đất khai thác,... gây ra sự giảm sút của quỹ đất, lãng phí nguồn tài nguyên
sinh vật vốn tồn tại sẵn trên đó. Định hướng sử dụng đất ở đây sẽ là biện pháp hữu
hiệu giúp các cơ quan có thẩm quyền có cơ sở khoa học nhằm tổ chức lại việc sử
dụng đất đai, hạn chế sự chồng chéo gây lãng phí, tránh tình trạng chuyển mục đích
tuỳ tiện, làm giảm sút nghiêm trọng quỹ đất nông, lâm nghiệp, ngăn chặn các hiện
tượng tiêu cực, tranh chấp, lấn chiếm, huỷ hoại đất, phá vỡ sự cân bằng sinh thái,
gây ô nhiễm môi trường dẫn đến những tổn thất hoặc kìm hãm sản xuất, kinh tế- xã
hội và bất ổn về chính trị, an ninh quốc phòng ở từng địa phương, đặc biệt trong
giai đoạn chuyển đổi sang nền kinh tế thị trường.
Nhiệm vụ của công tác đánh giá, định hướng sử dụng đất đai đối với mỗi
quốc gia, từng vùng trong cả nước (về không gian) và ở các giai đoạn lịch sử khác
nhau (về thời gian) rất khác nhau. Trong giai đoạn hiện nay, nhiệm vụ cụ thể của
công tác đánh giá, định hướng sử dụng đất đai theo lãnh thổ hành chính là:
- Nghiên cứu, phân tích và tổng hợp hiện trạng sử dụng đất; đánh giá tiềm
năng đất đai, đặc biệt là đất chưa sử dụng; đề xuất phương hướng, mục tiêu trọng
điểm và các nhiệm vụ cơ bản về sử dụng đất (dựa trên cơ sở dự báo biến động sử
dụng đất đai, nhu cầu đất của các ngành kinh tế quốc dân, khả năng đáp ứng về số
lượng và chất lượng đất đai).
- Xử lý, điều hoà nhu cầu sử dụng đất giữa các ngành, đưa ra chỉ tiêu khống
chế để quản lý vĩ mô đối với từng loại sử dụng đất đai.
- Đề xuất định hướng phân phối hợp lý nguồn tài nguyên đất đai, điều chỉnh
cơ cấu và phân bố sử dụng đất đai.
- Đề xuất định hướng tổ chức một cách hợp lý việc khai thác, cải tạo, bảo vệ
đất đai.

14


sinh và các tính chất đất dựa trên cơ sở thang điểm chuẩn đã thống nhất.

15


Hệ thống các chỉ tiêu chủ yếu dùng trong đánh giá đất gồm:
-

Tính chất thổ nhưỡng và nông hoá của đất

-

Năng suất cây trồng

-

Sản lượng và tổng giá trị sản lượng

-

Lợi nhuận thuần tuý

-

Thu nhập chênh lệch

-

Hoàn vốn chi phí


gian, thời gian, tự nhiên, kinh tế và xã hội. Đặc điểm đánh giá đất đai của FAO là
những tính chất đất đai có thể đo lường hoặc ước lượng được. Những tính chất đó
được đối chiếu với yêu cầu sinh lý, sinh thái của cây trồng cụ thể. Cần thiết phải có
sự lựa chọn chỉ tiêu đánh giá thích hợp, có vai trò tác động trực tiếp và có ý nghĩa
tới đất đai của khu vực nghiên cứu. Đánh giá phân hạng đất đai không chỉ dựa vào
chất lượng đất mà còn dựa vào điều kiện kinh tế - xã hội và môi trường.
Phương pháp đánh giá đất của FAO dựa trên cơ sở phân hạng đất thích hợp,
cơ sở của phương pháp này là sự so sánh giữa yêu cầu sử dụng đất với chất lượng
đất, gắn với phân tích các khía cạnh kinh tế - xã hội và môi trường để lựa chọn
phương án sử dụng đất tối ưu.
Theo FAO, khả năng thích hợp đất đai là sự phù hợp của một đơn vị đất đai
đối với một loại hình sử dụng đất được xác định. Đất đai có thể được xem xét ở
điều kiện hiện tại hoặc trong tương lai sau khi cải tạo, thông thường dựa vào nhân
tố hạn chế nhất trong các tính chất đất để chia ra thành các mức độ: rất thích nghi
S1, thích nghi trung bình S2, kém thích nghi S3 và không thích nghi N.
Ở trong nước:
Theo hướng nghiên cứu này ngoài các công trình nghiên cứu ở nước ngoài
ra, ở Việt Nam có nhiều công trình nghiên cứu của các nhà khoa học đã góp phần
đáng kể vào công cuộc phát triển kinh tế xã hội của đất nước.
Năm 1984, Tôn Thất Chiểu và nhóm nghiên cứu đã dựa vào nguyên tắc phân
loại khả năng đất đai của Bộ Nông nghiệp Hoa Kỳ, chỉ tiêu sử dụng là đặc điểm thổ
nhưỡng và địa hình để phân hạng đất khái quát toàn quốc ở tỷ lệ 1:500000. Trên đó
bao gồm 7 nhóm: Đất đai được phân lập cho sản xuất nông nghiệp (4 nhóm), cho
lâm nghiệp (2 nhóm) và mục đích khác (1 nhóm).
Cuối thập kỷ 80, Việt nam bắt đầu nghiên cứu ứng dụng phương pháp đánh
giá sử dụng đất thích hợp của FAO. Song chỉ đánh giá các điều kiện tự nhiên (thổ
nhưỡng, thủy văn, tưới tiêu và khí hậu nông nghiệp).

17


Sự hình thành sử dụng đơn vị đất đai là kết quả tác động tương hỗ giữa các

18


hợp phần tự nhiên và con người theo thời gian và không gian. Việc nghiên cứu lịch
sử phát triển sử dụng đất đai khu vực nghiên cứu tạo cơ sở vững chắc cho mục tiêu
cuối cùng của quá trình nghiên cứu: đánh giá đất đai phục vụ định hướng sử dụng đất.
Quan điểm hệ thống:
Khi tiến hành nghiên cứu đánh giá đất đai cần đặt lãnh thổ nghiên cứu trong
một hệ thống thống nhất và hoàn chỉnh cả về tự nhiên và xã hội. Các dạng tài
nguyên thiên nhiên có trong khu vực đều có sự tương tác lẫn nhau để tạo thành một
hệ thống đầy đủ về cấu trúc và chức năng. Giữa các thành phần và bộ phận cấu tạo
nên hệ thống đều có những mối tương tác qua lại qua các dòng vật chất, năng lượng
và thông tin. Khi một thành phần hay bộ phận nào đó bị tác động thì kéo theo sự
thay đổi dây chuyền của các thành phần khác.
Quan điểm tổng hợp:
Theo quan điểm tổng hợp, phải nghiên cứu đất đai trong mối liên hệ chặt chẽ
với các yếu tố khác trong lãnh thổ, đó là các yếu tố địa chất, địa hình, khí hậu, thuỷ
văn, sinh vật và các tác động của con người. Do đó, khi đánh giá đất đai thì phải
nghiên cứu đầy đủ các mối liên hệ chứa đựng bên trong nó, những mối quan hệ qua
lại giữa các thành phần tạo thành đơn vị đất đó. Thường trong tư liệu về cơ sở lý
luận của khoa học địa lý, tính tổng hợp được xem xét dưới hai góc độ khác nhau:
- Tổng hợp với nghĩa là nghiên cứu đồng bộ, toàn diện về điều kiện tự nhiên
và tài nguyên thiên nhiên với quy luật phân hoá của chúng cũng như mối quan hệ
tương tác lẫn nhau giữa các hợp phần của tổng thể địa lý.
- Tổng hợp là sự kết hợp có quy luật, có hệ thống trên cơ sở phân tích đồng
bộ và toàn diện các yếu tố hợp phần của tổng thể lãnh thổ tự nhiên, đồng thời phát
hiện và xác định những đặc điểm đặc thù của các thể tổng hợp lãnh thổ địa lý.
Quan điểm phát triển bền vững

- Phương pháp hệ thông tin địa lý là phương pháp cho phép xử lý, phân tích
các dữ liệu, xây dựng và đưa ra mô hình sử dụng đất ở các mức độ chi tiết khác
nhau.

20


CHƢƠNG 2
ĐẶC ĐIỂM ĐIỀU KIỆN TỰ NHIÊN, KINH TẾ - XÃ HỘI HUYỆN AN
LÃO, THÀNH PHỐ HẢI PHÒNG
2.1. ĐIỀU KIỆN TỰ NHIÊN, TÀI NGUYÊN VÀ MÔI TRƢỜNG
HUYỆN AN LÃO, THÀNH PHỐ HẢI PHÒNG
2.1.1. Điều kiện tự nhiên
2.1.1.1. Vị trí địa lý
Huyện An Lão có tổng diện tích tự nhiên là 11.506,43 ha chiếm 7,6% diện
tích tự nhiên của toàn thành phố Hải Phòng. Huyện cách trung tâm quận Kiến An 8
km cách trung tâm thành phố Hải Phòng 18 km. Huyện An Lão ở trung tâm đất liền
của thành phố Hải Phòng có vị trí chiến lược và quan trọng của đồng bằng sông
Hồng, nằm trên trục chính của quốc lộ 10, tỉnh lộ 360, 354, 357. Đây là tuyến
đường huyết mạch nối liền một số đô thị chạy qua các tỉnh thành như thành phố
Thái Bình, thành phố Hải Phòng, thành phố Nam Định và thành phố Ninh Bình.
Với điều kiện thuận lợi về vị trí địa lý như trên và là huyện ven đô kế cận quận Kiến
An đang được phát triển thành quận thương mại và dịch vụ nên An Lão có lợi thế
để phát triển toàn diện. Huyện An Lão có toạ độ địa lý :
Kinh độ: Từ 106027’30” đến 106041’15”
Vĩ độ từ 20042’30” đến 20052’30”
- Phía Bắc An Lão giáp huyện An Dương
- Phía Nam giáp huyện Tiên Lãng
- Phía Đông giáp quận Kiến An
- Phía Đông Nam giáp Kiến Thuỵ

+ Độ ẩm không khí: độ ẩm trung bình cả năm là 85%. Độ ẩm không khí chịu
ảnh hưởng theo mùa, gió và thuỷ triều vùng ven biển. Độ ẩm trung bình lúc 13h là
90%, độ ẩm thấp nhất là tháng 1 là 73%, cao nhất là tháng 4 : 91%. độ ẩm thấp nhất
tuyệt đối: 56%.
+ Lượng bốc hơi hàng năm bình quân 700ml, trong tháng khô hanh chế độ
nước mất cân bằng, lượng bốc hơi lớn hơn lượng mưa nên sẩy ra khô hạn, thiếu
nước.
+ Lượng mưa bình quân cả năm là 1.740 mm (số đo trung bình từ 1965 1995). Lượng mưa trung bình hằng năm là: 1.820 mm.

22


+ Mùa mưa (tháng 5 - tháng 10) lượng mưa chiếm 80 - 90% lượng mưa cả
năm tập trung vào các tháng 6, tháng 7, tháng 8. Lượng mưa trung bình /tháng thời
gian này là trên 400mm, cao nhất 683,3 mm(1995). Mùa khô (tháng 10 đến tháng 3
năm sau), đầu mùa khô thường hanh, cuối mùa ẩm ướt và có mưa phùn từ tháng 2 tháng 4.
+ Lượng mưa trung bình thấp nhất trong năm là tháng 12, tháng 1 và tháng 2,
số đo trung bình là 20 mm.
+ Tổng số ngày nắng 150 - 160 ngày/năm, tháng 5 và tháng 7 có giờ nắng
cao nhất là 188 giờ/tháng.
+ Huyện An Lão chịu ảnh hưởng của 2 loại gió chính:
Gió mùa Đông Bắc vào mùa khô (từ tháng 10 đến tháng 3 năm sau) tốc độ
gió trung bình là 2,2 m/s.
Gió Đông Nam vào mùa mưa từ tháng 5 đến tháng 10, vận tốc gió trung bình
2,5 m/s. Mùa mưa luôn biến động do ảnh hưởng của bão, lũ, dòng triều. Gió mang
nhiều hơi nước. Tốc độ trung bình trong năm từ 1,7 - 4 m/s cực đại đạt 20 - 25 m/s
vào mùa mưa bão.
+ Bão lũ thường xuất hiện từ tháng 5 đến tháng 9, bình quân 3 - 5 trận/ năm.
Bão kèm theo mưa lớn, gió mạnh, gió giật gây lụt lội. Nước dâng cao nhất là khi
triều cường. Huyện An Lão rất nhạy cảm với bão lụt do bao bọc trực tiếp bởi hệ

liệu thống kê đất đai năm 2010 An Lão có tổng diện tích tự nhiên là 11.506,43 ha.
Do được bao bọc bởi hệ thống sông ngòi dày đặc, được sự bồi đắp phù sa
liên tục của sông Đa Độ đã làm giảm mức độ chua, mặn, diện tích đất chua, mặn
chiếm tỉ lệ nhỏ trong đất nông nghiệp. Nguồn nước ngọt của sông Đa Độ tưới tiêu
cho nội đồng trên phạm vi toàn huyện, cùng hệ thống thuỷ lợi được xây dựng khá
đồng bộ đã làm giảm mức độ chua mặn thấp hơn so với các huyện khác của Hải
Phòng. Đây là yếu tố rất thuận lợi cho canh tác ruộng 3 vụ, 2 vụ và tương lai là cơ
sở để phát triển các vùng cây công công nghiệp tập trung, cung cấp nguyên liệu cho
công nghiệp chế biến nông sản.
Đất đai của An Lão được hình thành do sự bồi tụ phù sa của các nhánh của sông
Thái Bình (gồm 3 sông chính là sông Văn Úc, Lạch Tray, Đa Độ) bao gồm:
+ Đất phù sa được bồi hàng năm (P), có diện tích khoảng 3.400 ha, phân bố
ở hầu hết các xã, trên địa hình vàn, vàn cao. Đất có thành phần cỏ giới trung bình,
hàm lượng dinh dưỡng khá. Đây là loại đất tốt, được sử dụng canh tác nhiều vụ
trong năm, trồng lúa, rau màu cho năng xuất cao.

24


+ Đất phù sa có tầng loang lổ đỏ vàng, có diện tích khoảng 1.300 ha, phân
bố ở hầu hết các xã trên địa hình cao vàn. Thành phần cơ giới trung bình hoặc nhẹ,
hàm lượng dinh dưỡng khá. Đất này có thể gieo trồng nhiều vụ trong năm, có khả
năng trồng cây ăn quả (cây vải) cho giá trị kinh tế cao, tập trung lớn ở một số xã :
Bát Trang, Trường Thọ...
2.1.2.2. Tài nguyên nước
- Nguồn nước mặt : Nguồn nước mặt gồm:
+ Lượng nước trong hệ thống sông ngòi huyện An Lão và đều thuộc hệ
thống sông Thái Bình mà chủ yếu là 3 con sông: Đa Độ, Sông Cung - Khúc Giản,
sông Cầu Sẽ, sông Cầu Nghệ. Trong đó sông Đa Độ có vị trí quan trọng nhất nó
cung cấp nước ngọt cho sinh hoạt và tưới tiêu ruộng đồng An Lão, huyện Kiến


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status