BÀI TẬP NHÓM NHỎ 4
MÔN HỌC: QUẢN TRỊ MARKETING
ĐỀ BÀI:
Phân tích về thực trạng định hướng Marketing ( Marketing orientation)
trong hoạt động của các doanh nghiệp/ tổ chức Việt Nam, và tác động của
nó đối với tới kết quả hoạt động kinh doanh của Doang nghiệp ( về tài chính
và phi tài chính)
BÀI LÀM
I . ĐẶT VẤN ĐỀ:
Việt Nam trở thành thành viên thứ 150 của WTO đã tạo ra những cơ hội và
thách thức mới cho nền kinh tế nói chung và ngành ngân hàng nói riêng. Trong
những năm qua, hệ thống ngân hàng đã chịu sự tác động sâu và rộng của nền
kinh tế, đặc biệt tác động của quá trình hội nhập và toàn cầu hóa. Hệ thống ngân
hàng đã có những chuyển biến sâu sắc, quy mô kinh doanh ngày càng mở rộng
cả về số lượng lẫn thị phần và không ngừng đa dạng hoá các sản phẩm dịch vụ,
các ngân hàng nước ngoài ồ ạt vào Việt Nam. Nghiên cứu thực trạng hoạt động
ngân hàng cho thấy hoạt động ngân hàng gắn liền với sự phát triển của nền kinh
tế và trở thành bộ phận quan trọng trong cơ chế vận hành kinh tế của mỗi quốc
gia. Sự thành công và phát triển của ngân hàng góp phần đẩy nhanh tốc độ phát
triển của nền kinh tế. Chính vì vậy việc nâng cao năng lực cạnh tranh và phát
triển các sản phẩm dịch vụ ngân hàng, chiếm lĩnh thị phần đáp ứng yêu cầu hội
nhập quốc tế là một tất yếu, là mục tiêu hướng tới của các ngân hàng. Để thực
hiện mục tiêu đề ra, hoạt động Marketing ngân hàng là hết sức cần thiết
Marketing là hoạt động của doanh nghiệp, là điều kiện hết sức quan trọng không
chỉ là một chức năng trong hoạt động kinh doanh, nó còn là một triết lý dẫn dắt
toàn bộ hoạt động của doanh nghiệp để doanh nghiệp đi đến thành công. Qua
kiến thức thu được trong quá trình học tập, hiểu biết và trao đổi nhóm. Nhóm 4
xin mạnh dạn lựa chọn đề tài: “ phân tích về thực trạng định hướng
hình nên không dẫn đến chuyển quyền sở hữu, khó nắm giữ, đặc biệt khó khăn
trong việc đánh giá chất lượng sản phẩm trước khi mua, trong quá trình mua và
sau khi mua.. Yếu tố thứ hai tạo sự khác biệt trong công tác Marketing ngân
hàng là dịch vụ tài chính do đó mang tính chất không tách rời, chúng vừa được
tạo ra và tiêu dùng đồng thời nên chu kỳ sống thường ngắn và mang tính chịu
trách nhiệm liên đới vì vậy để giám bớt sự không chắc chắn khi sử dụng sản
phẩm dịch vụ ngân hàng , khách hàng buộc phải tìm kiếm các dấu hiệu chứng tỏ
chất lượng sản phẩm thông qua như địa điẻm giao dịch, mức độ trang bị công
nghệ, đòi hỏi về mức độ uy tín của ngân hàng và đội ngũ nhân viên.
Marketing ngân hàng là loại hình Marketing hướng nội2
Marketing ngân hàng mang tính phức tạp bởi sự đa dạng và nhạy cảm của dịch
vụ ngân hàng. Quá trình cung ứng sản phẩm dịch vụ ngân hàng có sự tham gia
đồng đều của cả cơ sở vật chất, khách hàng và nhân viên ngân hàng. Nhân viên
là yếu tố quan trọng trong quá trình cung ứng chuyển giao sản phẩm dịch vụ
ngân hàng tới khách hàng thông qua đó tạo dựng lòng tin, sự hài lòng khách
hàng. Những biện pháp nhằm nâng cao hiệu quả hoạt động của toàn thể nhân
viên theo hướng phục vụ khách hàng ngày một tốt hơn được gọi là Marketing
hướng nội.
Marketing ngân hàng là loại hình Marketing quan hệ3
Hoạt động ngân hàng được thực hiện trên mối quan hệ tin tưởng lẫn nhau, cùng
có lợi và theo hướng phát triển lâu bền, do đó hoạt động Marketing đỏi hỏi phải
tập trung nguồn lực vào việc hoàn thiện các mối quan hệ trao đổi giữa khách
hàng và ngân hàng, đặc biệt là duy trì khách hàng hiện tại, đồng thời có nhiều
biện pháp thu hút khách hàng tương lai, đảm bảo cho hoạt động ngân hàng được
xây dựng trên mối quan hệ kinh doanh tốt, đó là sự hiểu biết, tin tưởng, sự phụ
thuộc lẫn nhau và hỗ trợ nhau cùng phát triển.
3.Nhân tổ ảnh hưởng đến Marketing Ngân hàng:
Việc xác định hướng đi cho Marketing ngân hàng phụ thuộc vào các yếu tố sau:
tích cực trong công tác Marketing như: thường xuyên tổ chức chương trình
khuyến mại phát hành thẻ, huy động tiết kiệm dự thưởng, khuyến mại, lãi xuất
cao, áp dụng chính sách chăm sóc như: ưu đãi lãi suất, miễn giảm phí. Một số
ngân hàng đã mở phòng VIP để tiếp khách hàng mang lại hiệu quả lớn cho NH,
tặng hoa, gửi thiếp chúc mừng nhân ngày lễ, tết…. thông qua các hình thức như
gặp mặt trực tiếp, phương tiện thông tin đại chúng, truyền hình, báo, đài, băng
rôn, Internet,…mỗi hình thức đều vươn tới các đối tượng khách hàng khác nhau
nên các NHTM thường áp dụng đồng thời nhiều phương thức quảng cáo để thu
hút khách hàng. Bước đầu đã mang lại hiệu quả như thu hút được nhiều khách
khách hàng, tăng sức cạnh tranh, phát triển hình ảnh ngân hàng trong nền kinh tế
thị trường, chiếm lĩnh được thi phần, mở rộng mạng lưới, tuy nhiên còn ở mức
độ khiêm tốn chưa khai thác hết được tiềm năng. Các ngân hàng đã và đang đi
tìm thương hiệu cho mình, mỗi ngân hàng đã có logo, và slogan riêng như:
BIDV là “ chia sẻ cơ hội hợp tác thành công”; “ ACB luôn hướng đến sự hoàn
hảo để phục vụ khách hàng”, “ thành công của khách hàng là thành công của
Ngân hàng Đông Á”…… Các ngân hàng đã tạo được nét đặc sắc, chuyên biệt
trong cung cấp sản phẩm dịch vụ:
•
Vietcombank : được đánh giá là ngân hàng hàng đầu trong tài trợ xuất
nhập khẩu, thanh toán quốc tế nổi bật trong lĩnhvực liên quan đến ngoại tệ
•
Argibank: chuyên trong lĩnh vực đầu tư phát triển nông thôn và cho vay
hộ nông dân và mạng lưới hoạt động.
•
- Xây dựng thương hiệu nhưng không đúng kỹ thuật mà mới dừng lại ở xác
định solgan, logo chưa đi từ khách hàng, chưa thực sự được xác định từ tâm trí
khách hàng.
- Đa dạng hoá sản phẩm dịch ngân hàng, từng bước ứng dụng khoa học công
nghệ và hiện đại hoá ngân hàng. Không ngừng nghiên cứu phát triển các sản
phẩm dịch vụ mới trên nền tảng công nghệ sẵn có, tuy nhiên chưa taọ được sự
khác biệt.
- Đào tạo đội ngũ cán bộ: có chú trọng công tác đào tạo nhưng chưa đồng đều
- Xác định thị trường mục tiêu: Hướng tới thị trường bán lẻ, phát triển dich
vụ nhằm nâng cao tỷ trọng thu dịch vụ trong tổng cơ cấu nguồn thu.
•
Tăng cường công tác tuyên truyền, quảng cáo tiếp thị.
•
Mở rộng mạng lưới và hệ thống ATM….
Hoat động Marketing ngân hàng trong thời gian qua vẫn trong vòng luẩn quẩn,
còn mang tính “thời vụ” và hoạt động một cách tự phát có xu hướng “ bắt
chước” các ngân hang Cổ phần, liên doanh nước ngoài mà không thực hiện đầy
đủ các bước từ việc lập kế hoạch cho đến nghiên cứu thị trường, định vị sản
phẩm dịch vụ. Hoạt động Marketing ngân hàng trong thời gian qua đã phát triển
mạnh mẽ tuy nhiên còn thiếu sót, chưa bài bản, sự đầu tư chưa đúng, lãng phí
không phát huy được hết tiềm năng tác dụng của hoạt động Marketing
* Nguyên nhân
Ảnh hưởng của tính chất hoạt động ngân hàng các sản phẩm dịch vụ ngân
hàng giống nhau ít có sự khác biệt đều mang những tính năng và tiện ích giống
nhau, nguồn nhân lực về công tác Marketing còn yếu, công tác tổ chức nghiên
Sử dụng tư vấn từ các công ty truyền thông, thương hiệu chuyên nghiệp
để có những chiến lược, mục tiêu cụ thể. Hơn hết, cần xác định rõ sản
phẩm nổi trội của riêng ngân hàng mình hơn các đối thủ khác ở điểm nào,
từ sự khác biệt này nên sử dụng, lựa chọn, phân bổ ngân sách trên các
phương tiện truyền thông, các vùng miền để có thể đạt được hiệu quả cao
nhất.
4. Tác động của Marketing tới hoạt động kinh doanh ngân hàng:
4.1 Tác động về lĩnh vực phi tài chính:
Hoạt động Marketing ngân hàng đòi hỏi một quá trình tiếp cận hiệu quả
đòi hỏi phải tạo lập được “văn hoá” mang tính định hướng Marketing
trong một ngân hàng mà ở đó các nhân viên thấm nhuần sự cần thiết phải
phục vụ tốt khách hàng và bằng cách nào để đạt được điều đó. Điều đó
góp phần tạo ra sự chuyên nghiệp trong công việc và tạo được uy tín cho
ngân hàng, thoã mãn nhu cầu khách hàng, tạo sự ưu tiên trong việc lựa
chọn ngân hàng cung cấp sản phẩm dịch vụ cho khách hàng.
Hoạt động Marketing ngân hàng đòi hỏi việc nghiên cứu môi trường kinh
doanh , phân tích nguồn lực nội tại để từ đó xác định được mục tiêu hướng
tới, lựa chọn được sản phẩm đáp ứng thoả mãn nhu cầu khách hàng, dự
báo được những rủi ro có thể xẩy ra tạo điều kiện cho ngân hàng ra quyết
định kinh doanh thành công nâng cao năng lực cạnh tranh và uy tín trên
thị trường.
4.2 Tác động về lĩnh vực tài chính:
Thông qua hoạt động Marketing ngân hàng các nhà quản lý xác định: được
chiến lược cung cấp các sản phẩm dịch vụ ngân hàng đúng nhu cầu trên thị
trường, chiến lược giá mang lại tối đa lợi ích kinh tế thông qua kênh phân phối
và chiến lược khuyếch trương quảng cáo để chiếm lĩnh thị phần tăng doanh thu
qua đó ngân hàng vừa tối đa hoá lợi nhuận, vừa nâng cao năng lực cạnh tranh
trên thị trường.
12.000
Vietcombank Hưng yên
3.700
5.700
8.700
Sacombank Hưng yên
3.600
5.900
8.500
Vietinbank Hưng yên
2.200
2.700
3.400
III. KẾT LUẬN
Trong bối cảnh toàn cầu hoá, biến động khó lường của nền kinh tế cùng với
sự cạnh tranh gay gắt của các ngân hàng trong và ngoài quốc doanh, sự thâm
nhập của các ngân hàng nước ngoài và nhu cầu thay đổi hàng giờ, với phương