Thực trạng thực hiện xuất khẩu trong các doanh nghiệp FDI tại Việt Nam thời gian vừa qua - Pdf 87

Mở đầu
1. Tính cấp thiết của đề tài:
Chiến lợc mở cửa để đa dần nền kinh tế nớc ta hội nhập vào nền kinh tế
khu vực và thế giới đã đợc Đảng và Nhà nớc ta chủ trơng thực hiện cách đây
hơn 13 năm. Một trong nhiều nội dung quan trọng của chính sách mở cửa là
(chủ trơng) những giải pháp thu hút FDI, đặc biệt quan trọng là chính sách, các
giải pháp nhằm thu hút FDI vào lĩnh vực sản xuất hàng xuất khẩu có vai trò
then chốt trong chiến lợc phát triển kinh tế của Việt Nam.
Thu hút FDI vào lĩnh vực phát triển hàng xuất khẩu không chỉ nhằm tăng
thêm vốn đầu t phát triển sản xuất mà còn tạo thêm nhiều công ăn việc làm cho
ngời lao động, cung cấp cho nớc nhà những máy móc kỹ thuật và quy trình
công nghệ tiên tiến, sản xuất ra nhiều mặt hàng có chất lợng cao, góp phần tăng
kim ngạch xuất khẩu của đất nớc, tăng nguồn thu ngoại tệ góp phần ổn định nền
tài chính tiền tệ quốc gia, thúc đẩy kinh tế phát triển
Chính vì vậy, việc xây dựng môi trờng đầu t hấp dẫn để thu hút FDI vào
lĩnh vực sản xuất hàng xuất khẩu có vai trò vô cùng quan trọng trong việc phát
triển nền kinh tế Việt Nam trớc thềm thế kỳ 21. Đồng thời cũng là nhân tố quan
trọng để đa đất nớc ta từ một quốc gia nghèo nàn lạc hậu trở thành một nớc
công nghiệp, để đa chủ trơng của Đảng ta xây dựng một nớc Việt Nam giàu
mạnh, xã hội công bằng văn minh sớm trở thành hiện thực.
2. Mục đích của đề tài.
Mục đích nghiên cứu nhằm đánh giá khái quát và phân tích tổng thể về
đặc điểm, xu hớng đầu t trực tiếp nớc ngoài vào lĩnh vực sản xuất hàng xuất
khẩu của Việt Nam.
Nghiên cứu thực trạng, xác định tiềm năng xuất khẩu hàng hoá của Việt
Nam nói chung và của các doanh nghiệp FDI tại Việt Nam nói riêng. Từ nội
dung nghiên cứu về những thuận lợi và khó khăn trong quá trình xuất khẩu
hàng hoá để rút ra những bài học thực tiễn góp phần nhỏ bé vào công cuộc phát
triển hàng xuất khẩu của nớc nhà. Qua đây làm sáng tỏ quá trình thu hút có kết
quả FDI tại Việt Nam.
Đề án phân tích cụ thể những giải pháp đầy mạnh hoạt động xuất khẩu

Một thực tế cho thấy một quốc gia cũng nh một cá nhân không thể sống
riêng lẻ tự cung tự cấp mà có thể đầy đủ. Nền thơng mại quốc tế có tính chất
sống còn cho phép đa dạng hoá các mặt hàng tiêu dùng để có số lợng nhiều
hơn, chất lợng cao hơn, có thể tiêu thụ cùng với ranh giới của khả năng sản xuất
trong nớc cao hơn khi thực hiện chế độ tự cung tự cấp không buôn bán.
Cùng với sự tiến bộ của khoa học kỹ thuật thì phạm vi chuyên môn hoá
ngày càng tăng, số sản phẩm dịch vụ phục vụ nhằm đáp ứng nhu cầu của con
ngời ngày một nhiều hơn, đồng thời sự phụ thuộc lẫn nhau giữa các nớc cũng
tăng lên. Nói cách khác, chuyên môn hoá thúc đầy nhu cầu mậu dịch và ngợc
lại, một quốc gia không thể chuyên môn hoá sản xuất nếu không có hoạt động
trao đổi mua bán với quốc gia khác. chuyên môn hoá là biểu hiện sinh động của
quy luật lợi thế so sánh. Quy luật này nhấn mạnh sự khác nhau về chi phí sản
xuất, coi đó là chìa khoá của các phơng thức thơng mại. Quy luật này cũng
khẳng định nếu mỗi nớc chuyên môn hơn vào các sản phẩm mà nớc đó có lợi
thế tơng đối hay hiệu quả sản xuất so sánh cao nhất thì thơng mại có lợi cho cả
hai bên.
Sự khác biệt nhau về sản xuất cũng giải thích phần nào việc buôn bán
giữa các nớc, nên sẽ có lợi thế khi mỗi nớc chuyên môn hoá để sản xuất các mặt
hàng thích hợp cho xuất khẩu và nhập các mặt hàng cần thiết từ các nớc khác
nhau. Chuyên môn hoá quy mô lớn làm cho chi phí sản xuất giảm.
Hoạt động xuất khẩu có thị trờng khá rộng, khó kiểm soát, thành phần
trung gian trong hoạt động xuất khẩu chiếm tỷ trọng khá lớn, hàng hoá phải vận
chuyển qua biên giới, cửa khẩu. Các quốc gia khi tham gia vào hoạt động xuất
khẩu đều phải tuân theo các tập quán thông lệ quốc tế cũng nh các quy định ở
địa phơng nơi họ đa hàng hoá đến. Đồng tiền thanh toán thờng là ngoại tệ mạnh
hoặc đổi lại hàng hoá.
Hoạt động xuất khẩu ở nớc ta là một trong những vấn đề đợc coi trọng
hàng đầu trong quá trình đổi mới nền kinh tế. Do vậy Đảng và Nhà nớc đã có
chủ trơng mở rộng, phát triển kinh tế đối ngoại trong đó chú trọng đến lĩnh vực
thơng mại hàng hoá dịch vụ.

mặc xuất khẩu phát triển, kéo theo sự phát triển của ngành dệt, ngành trồng
bông, các ngành sản xuất phụ kiện phục vụ cho gia công hoặc phát triển xuất
khẩu gạo, chẳng hạn những ngành trồng lúa thựchiện mở rộng diện tích, tăng vụ
để tăng sản lợng gạo xuất khẩu, mà các ngành khác nh dệt bao đay để đựng
gạo, ngành trồng đay, ngành xay xát, ngành chăn nuôi đều phát triển theo.
Thứ ba, xuất khẩu có vai trò kích thích đổi mới trang thiệt bị và công
nghệ sản xuất: Bởi vậy để đáp ứng yêu cầu cao của thị trờng thế giới về quy
cách chất lợng sản phẩm thì một mặt sản xuất phải đổi mới trang thiết bị công
nghệ, mặt khác ngời lao động phải nanag cao tay nghề, học hỏi những kinh
nghiệm sản xuất tiên tiến. Thực tiễn ở ngành may mặc hoặc may da xuất khẩu
sau những năm mất đi thị trờng Đông ÂU và Liên Xô cho thấy, muốn tìm thị tr-
ờng mới ở các nớc t bản đòi hỏi hàng loạt những xí nghiệp gia công phải thay
đổi máy móc xay xát của ta rất thô sơ, gạo không cần đánh bóng, sàng lọc
tấm thì nay chuyển sang xuất khẩu gạo để đủ tiêu chuẩn xuất khẩu thì hệ
thống máy xay xát phải thay đổi.
Thứ t, xuất khẩu đóng góp vào việc chuyển dịch cơ cấu kinh tế, thúc đẩy
sản xuất phát triển, cơ cấu sản xuất và tiêu dùng trên thế giới đã và đang thay
đổi vô cùng mạnh mẽ. Đó là thành quả của cuộc cách mạng khoa học công
nghệ hiện đại. Sự chuyển dịch cơ cấu kinh tế trong quá trình công nghiệp hoá
phù hợp với xu hớng phát triển của kinh tế thế giới là tất yếu đối với nớc ta. Có
hai cách nhìn nhận về tác động của xuất khẩu đối với sản xuất và chuyển dịch
cơ cấu kinh tế. Một là, xuất khẩu chỉ là việc tiêu thụ những sản phẩm thừa do
sản xuất vợt quá nhu cầu nội địa. Trong trờng hợp nền kinh tế còn lạc hậu và
chậm phát triển nh nớc ta, sản xuất về cơ bản còn cha đủ tiêu dùng nên chỉ thụ
động chờ ở sự thừa ra của sản xuất thì xuất khẩu sẽ vẫn cứ nhỏ bé và tăng tr-
ởng chậm chạp. sản xuất và sự thay đổi cơ cấu kinh tế sẽ rất chậm chạp. Hai là
coi thị trờng và đặc biệt thị trờng thế giới là hớng quan trọng để tổ chức sản
xuất. Điều đó có tác động tích cực đến chuyển dịch cơ cấu kinh tế, thúc đẩy sản
xuất phát triển. Sự tác động này đến sản xuất thể hiện ở:
- Xuất khẩu tạo điều kiện cho các ngành khác có cơ hội phát triển thuận

ngày một phong phú thêm nhu cầu tiêu dùng của nhân dân.
Tóm lại, đẩy mạnh xuất khẩu đợc coi là vấn đề có ý nghĩa chiến lợc để
phát triển kinh tế và thực hiện công nghiệp hoá đất nớc.
II. Xuất khẩu trong các doanh nghiệp FDI.
1. Doanh nghiệp FDI.
1.1. Khái niệm:
Doanh nghiệp là chủ thể kinh tế độc lập, có t cách pháp nhân, thực hiện
các hoạt động kinh doanh trên thị trờng nhằm mục đích làm tăng giá trị ts của
chủ sở hữu.
Doanh nghiệp FDI là doanh nghiệp sử dụng vốn dới dạng tiền hoặc hiện
vật của các tổ chức cá nhân nớc ngoài vào hoạt động sản xuất kinh doanh nhằm
thu lợi nhuận.
1.2.Phân loại
Đầu t nớc ngoài đợc thông qua nhiều hình thức nh: hợp đồng hợp tác
kinh doanh, doanh nghiệp liên doanh, doanh nghiệp 100% vốn đầu t nớc ngoài,
hợp đồng xây dựng kinh doanh chuyển giao (BOT), hợp đồng phân chia
sản phẩm (PSC), cho thuê thiết bị.
Ngoài ra các nhà đầu t nớc ngoài còn đợc đầu t vào các khu công nghiệp,
khu chế xuất, khu công nghệ cao dới các hình thức hợp đồng hợp tác kinh
doanh, liên doanh hoặc doanh nghiệp 100% vốn nớc ngoài.
Dới hình thức sẽ là 2 loại hình doanh nghiệp FDI phổ biến nhất.
* Liên doanh: Là hình thức đầu t do hai bên cùng nhau góp vốn theo một
tỷ lệ nhất định để thành lập một doanh nghiệp mới có hội đồng quản trị và ban
giám đốc điều hành riêng và chịu trách nhiệm về kết quả sản xuất kinh doanh
của doanh nghiệp, ăn chia lợi nhuận và gánh chịu rủi ro theo tỷ lệ vốn góp.
Về thực chất đấy là sự chung vốn giữa nhà đầu t trực tiếp nớc ngoài với
nhà đầu t nớc sở tại để hình thành nên một doanh nghiệp thống nhất về cơ cấu
tổ chức, kinh tế kỹ thuật. Nói cụ thể hơn, đó là sự góp riêng thành một vốn
chung, tạo nên một cơ sở vật chất chung để thực hiện một nhiệm vụ chung,
cùng hởng lãi và chịu sẻ rủi ro theo phần vốn góp.

doanh nghiệp nội địa có loại hoạt động trong khu công nghiệp, khu chế xuất,
khu công nghệ cao, khu mậu dịch tự do.
Mỗi loại hình đầu t nói trên có những mặt u điểm và nhợc điểm nhất định
đối với nhà đầu t cũng nh đối với nớc chủ nhà. Các nhà đầu t thờng thích hình
thức độc lập, tức là bỏ 100% vốn để hình thành doanh nghiệp. Nhng đôi khi độc
lập cũng sẽ gây khó khăn và có hi phải gánh giụ nhiều rủi ro đặc biệt khi đầu t
vào một môi trờng mới, mà ở đó mọi luật lệ cha rõ ràng hoặc hay thay đổi.
Trong trờng hợp này nhà đầu t thờng chọn biện pháp mềm dẻo hơn đó là liên
doanh.
Tuy nhiên khi những tính toán này không đợc các nhà đầu t nớc ngoài
chấp nhận sẽ dẫn đến tình trạng bên đối tác nớc ngoài rút lui, đi tìm thị trờng
đầu t khác thông thoáng hơn, có lợi cho họ hơn và nh vậy mục tiêu đề ra là thu
hút FDI sẽ không thực hiện đợc. Vì thế phải tính toán sao cho cả hai bên cùng
có lợi.
2. Mục đích thu hút FDI.
Đảng và Nhà nớc ta rất quan tâm đến hoạt động xuất khẩu, ngay từ thời
gian đầu thực hiện đờng lối đổi mới nền kinh tế với 3 chủ trơng kinh tế lớn
trong đó có chủ trơng sản xuất hàng xuất khẩu. Tại văn kiện hội nghị lần thứ 7
ban chấp hành Trung ơng khoá VII đã khẳng định Thực hiện chiến lợc về xuất
khẩu là chính, đồng thời thay thế nhập khẩu những sản phẩm trong nớc sản
xuất có hiệu quả hay xuất khẩu càng phát triển khả năng thu hút đầu t
nớc ngoài càng lớn . đã cho ta thấy một chủ tr ơng nhất quán, một quyết tâm
mạnh mẽ mong muốn đẩy mạnh hoạt động xuất khẩu hàng hoá để phát triển
kinh tế đất nớc.
* Thu hút FDI nhằm tăng cờng thêm nguồn vốn cho đầu t sản xuất hàng
xuất khẩu với bất cứ một chơng trình kinh tế nào đợc đề ra, muốn đạt đợc hiệu
quả thì việc đòi hỏi đầu tiền là một hệ thống chủ trơng chính sách và pháp luật
đợc đề ra một cách đồng bộ và hoàn chỉnh phù hợp với điều kiện kinh tế trong
nớc và xu hớng phát triển của thế giới, mặt khác phải có tài chính để triển khai
thực hiện chơng trình kinh tế đó. Cũng nh các chủ trơng kinh tế khác, chính

các nhà đầu t triển khai các lĩnh vực hoạt động đặt nền móng cho việc làm ăn
lầu dài tại Việt Nam, các lĩnh vực đó bao gồm: Triển khai xây dựng cơ sở hạ
tầng nh nhà xởng, điện nớc bỏ vốn ra nhập khẩu máy móc kỹ thuật và quy
trình công nghệ, nhập khẩu nguyên nhiên vật liệu mà tại nớc ta cha có điều kiện
để đáp ứng Nh vậy ngay từ đầu khi bắt tay vào việc triển khai dự án đầu t, các
doanh nghiệp FDI tại Việt Nam đã tham gia vào hoạt động nhập khẩu, số kim
ngạch nhập khẩu này đợc tính chung cho tổng số kim ngạch nhập khẩu của Việt
Nam mà Nhà nớc ta không phải bỏ ra hết tổng số ngoại tệ nhập khẩu, đây là
một u điểm mà đầu t trực tiếp Nhà nớc mang lại cho nớc đợc nhận đầu t. Nhập
khẩu của doanh nghiệp FDI không để nhằm thoả mãn nhu cầu tiêu dùng trong
nớc mà nhằm để sản xuất ra hàng hoá phục vụ tiêu dùng và xuất khẩu. Khi Nhà
nớc ta có chủ trơng khuyến khích các doanh nghiệp hớng mạnh về xuất khẩu
nh giảm thuế và một số khoản đóng góp, có quỹ hỗ trợ xuất khẩu các nhà đầu
t Nhà nớc đã tranh thủ các u đãi của Nhà nớc ta để đẩy mạnh xuất khẩu. Do có -
u thế hơn các doanh nghiệp trong nớc, nên kết quả xuất nhập khẩu đã nhanh
chóng đạt đợc những kết quả đáng khích lệ, nhất là kim ngạch xuất khẩu bởi
sản phẩm có sức cạnh tranh cao trên thơng trờng quốc tế.
Chỉ sau một thời gian ngắn triển khai các dự án đầu t, các doanh nghiệp
FDI tại Việt Nam đã từng bớc tăng nhanh kim ngạch xuất khẩu hàng hoá ra thị
trờng bên ngoài và đã góp phần đóng góp ngày càng tăng đáng kể vào tổng số
kim ngạch xuất khẩu của Việt Nam.
Tuy kim ngạch xuất khẩu cha tơng xứng với kim ngạch xuất khẩu nhập
khẩu, thời gian đầu kim ngạch xuất khẩu tại các doanh nghiệp FDI tại Việt
Nam cha có và kim ngạch nhập khẩu lại gia tăng nhanh chóng, đến những năm
gần đây kim ngạch nhập khẩu vẫn tăng và đồng thời kim ngạch xuất khẩu hình
thành và gia tăng với tốc độ nhanh hơn sơ với tốc độ của kim ngạch nhập khẩu,
đây là một tín hiệu đáng mừng, nó chứng minh cho một điều là tăng nhập khẩu
để đẩy mạnh xuất khẩu. Tăng nhập khẩu thiết bị má móc để phát triển sản xuất,
tăng nhập khẩu nguyên nhiên liệu trong nớc cha có điều kiện đáp ứng để sản
xuất ra hàng hoá phục vụ tiêu dungf xã hội và thế giới xuất khẩu khi kim ngạch

doanh nghiệp FDI, nó có thể đem lại hiệu quả kinh tế cao cũng nh gây ra sự tổn
thất lớn cho doanh nghiệp.
Thứ hai, xuất khẩu cho phép phát huy nội lực của nền kinh tế, sự sáng tạo
của mọi ngời, tổ chức, địa phơng trong xã hội bởi vì xuất khẩu dễ thu đợc hiệu
quả cao do đợc nhiều cá nhân và tổ chức thực hiênj, các luồng thông tin đợc
khai thông, các mỗi quan hệ đợc sử dụng có hiệu quả.
Thứ ba, việc xuất khẩu trong điều kiện nền kinh tế hàng hoá nhiều thành
phần tất yếu dẫn đến cạnh tranh, theo dõi, kiểm soát lẫn nhau rất chặt chẽ giữa
các chủ thể tham gia xuất khẩu. Chính nhờ sự cạnh tranh này làm cho chất lợng
hàng hoá đợc nâng cao, áp dụng đợc tiến bộ khoa học kỹ thuật.
Cuối cùng xuất khẩu dẫn đến sự liên kết chặt chẽ giữa các nhà sản xuất
và các nhà khoa học một cách thiết thực từ phía các nhà sản xuất, nó khơi
thông nhiều nguồn chất xám cả trong và ngoài nớc.
4. Nhân tố đẩy mạnh xuất khẩu.
* Yếu tố pháp luật: Hoạt động xuất khẩu diễn ra với sự tham gia của các
chủ thể ở các quốc gia khác nhau. ở mỗi quốc gia đều có những bộ luật riêng,
tốc độ luật pháp, hành pháp, t pháp phụ thuộc vào trình độ phát triển kinh tế ở
các quốc gia đó. Các yếu tố luật pháp không chỉ chi phối hoạt động kinh doanh
ở trên chính các quốc gia đó mà nó còn ảnh hởng tới các hoạt động kinh doanh
quốc tế.
Để có thể tham gia vào hoạt động thơng mại quốc tế thì trớc hết doanh
nghiệp phải hiểu rõ môi trờng pháp luật ở chính quốc gia mình và quốc gia của
đối tác cùng các thông lệ quốc tế hiện hành, vì chính các cơ hội mới cho doanh
nghiệp để tăng doanh số bán hàng, tăng lợi nhuận kinh doanh, khai thác đợc các
cơ hội trong kinh doanh, mở rộng hoạt động trên thị trờng thế giới.
* Yếu tố kinh tế: Yếu tố kinh tế bao gồm các yếu tố sau; chính sách tiền
tệ, chính sách tài chính, vấn đề lạm phat, thuế quan. Yếu tố kinh tế ảnh hởng
tới cơ cấu tổ chức và hiệu quả hoạt động của doanh nghiệp. Còn ở tầm vĩ mô,
yếu tố kinh tế tác đọng đến đặc điểm và sự phân bố của các cơ hội kinh doanh
quốc tế và quy mô thị trờng quốc tế.

và thị trờng nội địa bởi sự cạnh tranh cua Nhà nớc với chính sách kinh tế có lợi
cho doanh nghiệp trong nớc bằng các hình thức nh hàng rào thuế quan. Nhng
ngợc lại, sự không ổn định về chính trị sẽ làm chậm tốc độ tăng trởng kinh tế và
kim ngạch hãn các mỗi quan hệ quốc tế.
Nhiều nơi trên thế giới hiện nay, sự bất ổn định về chính trị và các cuộc
chiến tranh sắc tộc diễn ra liên tục. Tại đây sự an toàn trong kinh doanh là
không cao hoặc không có. Điều này đã làm cho các doanh nghiệp đang hoạt
động tại đó phải tạm ngừng hoạt động kinh doanh của mình. Họ phải đánh giá
lại các cơ hội kinh doanh trên thị trờng và phân bổ lại nguồn lực sang các thị tr-
ờng khác nơi có độ an toàn cao hơn.
Một xã hội phát triển khi mà Chính phủ thể hiện sự quan tâm của mình
tới đời sống của nhân dân. Cũng nh vậy, các doanh nghiệp muốn đạt đợc mục
tiêu kinh tế thì phải thoả mãn đợc nhu cầu của ngời tiêu dùng. Do đó sự quan
tâm của xã hội đợc thể hiện qua mục tiêu về xã hội nh Nhà nớc tăng cờng các
quy định về cạnh tranh, các quy định về tiêu chuẩn sản phẩm, nhãn hiệu, an
toàn vệ sinh.
Nền kinh tế kế hoạch hoá tập trung chuyển dần sang nền kinh tế thị tr-
ờng, Việt Nam cũng nh các nớc tiến hành mở cửa nền kinh tế với sự hỗ trợ về
giá của Nhà nớc, tạo ra một cơ chế định giá theo thị trờng. Sự chuyển đổi này
ảnh hởng tới cờng độ cạnh tranh giữa các doanh nghiệp đang hoạt động và mở
ra các cơ hội kinh doanh mới trong các thị trờng bị hạn chế trớc đây. Các doanh
nghiệp không có phản ứng linh hoạt sẽ chịu quy luật đào thải của sự cạnh tranh.
Vậy các yếu tố chính trị có ảnh hởng tới việc mở rộng phạm vi tiêu thụ
sản phẩm và mở ra các cơ hội kinh doanh mới cho doanh nghiệp. Song chính
các yếu tố chính trị cũng có thể là chiếc rào chắn giới hạ sự tự do hoạt động của
các doanh nghiệp trên thị trờng thế giới.
*Yếu tố văn hoá xã hội: Các yếu tố văn hoá xã hội có thể là lối sống,
phong tục, tập quán, tôn giáo, tín ngỡng, thị hiếu của ng ời tiêu dùng.
Các yếu tố văn hoá xã hội tác động mạnh mẽ tới nhu cầu thị trờng làm
nền tảng cho sự xuất hiện thị hiếu tiêu dùng, nó có tính chất quyết định đến

cái gì mà nhà sản xuất có. Có nh vậy thì hàng hoá của doanh nghiệp mới có thể
thu hút đợc khách hàng.
* Yếu tố đồng tiền thanh toán: Phơng tiện thanh toán luôn gắn liền với
hoạt động xuất khẩu. Ngoại tệ mạnh là phơng tiện thanh toán chủ yếu trong
quan hệ thơng mại quốc tế. Nếu dồng ngoại tệ biến động thì cũng sẽ ảnh hởng
đến các bên tham gia. Một hoặc một số các bên tham gia sẽ bị thiệt cũng nh lợi
tuỳ theo đồng tiền giao dịch mất giá hay đợc gia so với đồng tiền của mình.
Đồng tiền giao dịch cần đợc ổn định để cho các bên tham gia cùng có lợi.
5. Khả năng xuất khẩu trong các doanh nghiệp FDI.
Luật đầu t nớc ngoài đã đợc thực thi 13 năm đến nay đã có trên 70 nớc và
vùng lãnh thổ, với nhiều tập đoàn kinh tế tài chính lớn đầu t vào nớc ta. Có
thể khẳng định rằng chủ trơng thu hút đầu t trực tiếp của nớc ngoài là đúng đắn,
góp phần phát triển kinh tế quốc gia, từng bớc hội nhập kinh tế quốc tế.
Về phơng diện xuất khẩu, các doanh nghiệp FDI chủ động đầu ra, trờng
vốn, công nghệ cao, mô hình quản lý tiên tiến, gọn nhẹ, có hiệu quả đã đóng
góp ngày càng nhiều vào xuất khẩu toàn quốc cả về trị số tuyệt đối và tỷ trọng.
Năm 1995 là 440 triệu USD bằng 8% kim ngạch cả nớc, đến năm 2000 hai chỉ
số tơng ứng là 3,3 tỷ USD và 22% 6 tháng đầu năm 2001 kim ngạch vợt xuất
khẩu của FDI cả năm 1997 (các số liệu trên không kể phần xuất khẩu dầu thô
của liên doanh Dầu Khí Việt Xô).
Do cơ chế chính sách đã luôn đợc cải tiến luật đầu t nớc ngoài tại Việt
Nam ban hành năm 1987 cùng với các văn bản kèm theo liên tục đợc sửa đổi,
bổ xung theo hớng thông thoáng hơn qua các năm 1990, 92,96 và gần đây, trên
nền tảng luật đầu t nớc ngoài (sửa đổi) tháng 6/2001. Nghị định 24 của Chính
phủ và thông t 22 của bộ thơng mại đã mở rộng khung hoạt động xuất khẩu
củacc doanh nghiệp FDI nh: bãi bỏ việc duy kế hoạch xuất khẩu, đợc mua hàng
hoá để xuất khẩu, các doanh nghiệp chế xuất đợc tiêu thụ nội địa, xuất khẩu tại
chỗ và các doanh nghiệp FDI từng b ớc đợc hởng các lợi ích tơng ứng các
doanh nghiệp Việt Nam nh đợc xét thởng về thành tích xuất khẩu. Do đó tỉ lệ
đầu t nớc ngoài vào Việt Nam ngày càng nhiều, xuất khẩu ngày một gia tăng.

1996
1997
1998
1999
2000
2.087
2.580
2.985
4.054
5.448
7.255
9.185
9.361
11.523
15.308
-13,2
23,7
15,7
35,8
34,4
33,2
26,6
1,9
23,1
23,9
Nguồn: Niên giám thống kê 1998 và Báo cáo của bộ thơng mại.
Tính chung thời kỳ 1991-1999, kim ngạch xuất khẩu tăng bình quân
20,4%, cao hơn tốc độ tăng trởng kinh tế (đạt khoảng 7,5%). Kim ngạch xuất
khẩu tính trên đầu ngời tăng nhanh, năm 1991 mới đạt 30 USD, năm 1995 đạt
73USD, năm 1997 là 119 USD, năm 1999 là 150 USD và đến năm 2000 con số


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status