BẢNG NHỮNG CHỮ VIẾT TẮT
Chữ viết đầy đủ
Chủ nghĩa xã hội
Chủ nghĩa tư bản
Công nghiệp hoá, hiện đại hoá
Cơ cấu kinh tế
Khu vực phòng thủ
Quân sự- quốc phòng
Lực lượng sản xuất
Quan hệ sản xuất
Xã hội chủ nghĩa
Tư bản tư nhân
Tư bản nhà nước
Chữ viết tắt
CNXH
CNTB
CNH, HĐH
CCKT
KVPT
QS- QP
LLSX
QHSX
XHCN
TBTN
TBNN
2
dựng
khu
vực
phòng
thủ
tỉnh
hiện
nay.
Chương 2. ĐỊNH HƯỚNG VÀ CÁC GIẢI PHÁP CƠ BẢN NHẰM ĐẨY
MẠNH CHUYỂN DỊCH CƠ CẤU KINH TẾ NGÀNH Ở LÂM ĐỒNG GẮN
VỚI XÂY DỰNG KHU VỰC PHÒNG THỦ TỈNH ............................................
62
2.1. Định hướng chuyển dịch cơ cấu kinh tế ngành của tỉnh Lâm Đồng gắn
với tăng cường xây dựng khu vực phòng thủ tỉnh từ nay đến năm 2020.
...............................................................................................................
62
2.2. Một số giải pháp cơ bản nhằm đẩy mạnh chuyển dịch cơ cấu kinh tế
ngành ở Lâm Đồng gắn với xây dựng khu vực phòng thủ tỉnh hiện nay.
...............................................................................................................
75
khởi xướng và lãnh đạo. Cùng với cả nước, tỉnh đã đạt được những thành tựu
quan trọng trong phát triển kinh tế và củng cố quốc phòng- an ninh .
Tuy nhiên, do điều kiện vị trí địa lý, điểm xuất phát thấp, kinh tế về
cơ bản là nông nghiệp và du lịch- dịch vụ; thị trường chưa phát triển; các
nguồn lực mới được khai thác bước đầu. Do đó, Lâm Đồng hiện nay vẫn là
một trong những tỉnh nghèo của cả nước. Đời sống một bộ phận nhân dân
trong tỉnh nhất là đồng bào các dân tộc vùng sâu, vùng xa, vùng dân tộc ít
người còn gặp nhiều khó khăn; tiềm năng và thế mạnh của tỉnh chưa được
5
khai thác và sử dụng hiệu quả. Bên cạnh đó, tình hình an ninh - chính trị
trên địa bàn tỉnh vẫn diễn biến phức tạp, các thế lực thù địch thường xuyên
lợi dụng chính sách dân tộc, tôn giáo kích động đồng bào các dân tộc
chống phá chính quyền, xuyên tạc quan điểm và chủ trương của Đảng,
chính sách pháp luật của Nhà nước.
Để phấn đấu thoát khỏi tình trạng một tỉnh nghèo, đẩy nhanh nhịp độ tăng
trưởng kinh tế, khai thác tốt những thế mạnh và tiềm năng hiện có, đòi hỏi tỉnh phải
giải quyết nhiều vấn đề, trên tất cả các lĩnh vực : Kinh tế, Chính trị, Văn hoá- xã hội
và Quốc phòng- an ninh…trong đó có chuyển dịch CCKT. Đặc biệt, chuyển dịch
CCKT ngành là nội dung rất quan trọng để phát triển nhanh chóng kinh tế của tỉnh.
Kinh tế với quốc phòng có mối quan hệ biện chứng nhau. Cũng như vậy,
chuyển dịch CCKT (ngành) ở tỉnh Lâm Đồng có ảnh hưởng rất sâu sắc đến
nhiệm vụ xây dựng KVPT tỉnh và ngược lại, xây dựng KVPT tỉnh vững chắc sẽ
tạo ra môi trường ổn định cho kinh tế của địa phương phát triển. Vì vậy, việc
nghiên cứu chuyển dịch CCKT ngành ở Lâm Đồng và tác động của nó đến xây
dựng KVPT tỉnh có ý nghĩa rất quan trọng và cần thiết cả trên phương diện lý
luận và thực tiễn, đặc biệt là trong điều kiện hội nhập kinh tế quốc tế hiện nay
nhằm xác định đúng đắn mục tiêu, phương hướng, tỷ trọng, hình thức và biện
Việt Nam- một nền kinh tế đang trong quá trình chuyển đổi. Việc nêu lên những
đặc điểm này cho phép cách nhìn nhận các vấn đề rõ nét hơn, trong đó có các
chính sách chuyển dịch cơ cấu ngành kinh tế trong thời kỳ CNH ở nước ta. Tuy
nhiên, những vấn đề nêu trên chưa bao quát đầy đủ những khía cạnh và nội dung
của chuyển dịch cơ cấu ngành kinh tế, nhất là trong điều kiện nước ta đang mở
rộng hội nhập kinh tế quốc tế hiện nay. Bên cạnh đó, vấn đề mà các tác giả nghiên
cứu chỉ riêng trong lĩnh vực kinh tế mà chưa gắn kết với nhiệm vụ quốc phòng.
- Lê Du Phong, Nguyễn Thành Độ, chuyển dịch CCKT trong điều kiện hội
nhập với khu vực và thế giới, Nxb CTQG, Hà Nội- 1999. Nội dung cuốn sách đề
cập tương đối hệ thống vấn đề chuyển dịch CCKT nói chung trong điều kiện hội
7
nhập kinh tế quốc tế ở nước ta, phạm vi nghiên cứu rộng, có tính chất khái quát.
Trong đó, đặc biệt là làm rõ những nhân tố tác động đến quá trình chuyển dịch
CCKT cũng như những yêu cầu cơ bản trong điều kiện hội nhập. Vấn đề đi sâu
nghiên cứu kinh tế ngành chỉ được đề cập ở một số góc độ nhất định, chứ chưa
mang tính toàn diện. Đặc biệt là chưa đề cập tới vấn đề xây dựng nền quốc phòng
toàn dân, chiến tranh nhân dân hay xây dựng KVPT. Tuy vậy, cuốn sách có tính
cập nhật, sát thực với điều kiện hiện nay ở nước ta.
- Lê Minh Vụ, Phát triển kinh tế nông thôn hàng hoá và tác động của
nó đối với nhiệm vụ xây dung lực lượng vũ trang hiện nay. Luận án TS, Học
viện Chính trị- Quân sự. Trong phạm vi luận án này, tác giả tập trung làm rõ
những quan điểm của Đảng và Nhà nước đối với vấn đề nông nghiệp, nông
thôn và nông dân trong thời kỳ quá độ lên CNXH, làm rõ thực trạng, những
vấn đề nảy sinh trong quá trình phát triển kinh tế nông thôn trong điều kiện
đổi mới cơ chế kinh tế, phát triển kinh tế hàng hoá theo định hướng xã hội
chủ nghĩa, đề cập khái quát yêu cầu chuyển dịch CCKT nói chung để phát
triển kinh tế nông thôn đa dạng, hiệu quả. Đồng thời, bàn đến sự tác động của
học, Học viện Chính trị- Quân sự, Hà Nội, 2002. Trong đó, tác giả tập trung
bàn đến vai trò và tác động của chuyển dịch CCLĐ trong quá trình CNH,
HĐH đối với phát triển kinh tế và xây dựng KVPT tỉnh Nam Định trong thời
gian tái lập tỉnh từ năm 1996 đến nay, tác giả chưa nghiên cứu chuyển dịch
CCKT, nhất là CCKT ngành kinh tế. Tuy nhiên, vấn đề chuyển dịch CCLĐ là
một nội dung cần làm sáng tỏ trong quá trình chuyển dịch CCKT ngành. Bên
cạnh đó, còn có nhiều tác giả tập trung nghiên cứu phản ánh trên các tạp chí,
thời báo kinh tế… như: Phan Ngọc Mai Phương (2006) “Chuyển dịch cơ cấu
ngành kinh tế tỉnh Thái Nguyên theo hướng CNH, HĐH” kinh tế và dự báo,
số 05, tr. 29; Nguyễn Xuân Dũng (2007) “Về giải pháp thúc đẩy chuyển dịch cơ
cấu kinh tế nông nghiệp hiện nay”, Tạp chí Cộng sản, chuyên đề cơ sở, số 06;
Lê Thị Phương Mai (2003) “Chuyển dịch cơ cấu kinh tế ở tỉnh Hà Tây”, Tạp
9
chí Cộng sản, số 7; Nguyễn Sinh Cúc (2002) “Chuyển dịch cơ cấu kinh tế
vùng Đồng bằng Sông Cửu Long”, Tạp chí Cộng sản số 32; Lê Du Phong và
Nguyễn Thành Độ (1999), “Chuyển dịch cơ cấu trong điều kiện hội nhập với
khu vực và thế giới”, Nxb CTQG, Hà nội; Hồng Vinh (1998), “ Công nghiệp
hoá, hiện đại hoá nông nghiệp, nông thôn. Một số vấn đề lý luận và thực
tiễn”, Nxb CTQG, Hà Nội; Phạm Thị Quý (2002), “Chuyển đổi mô hình kinh
tế ở Việt Nam, thực trạng và kinh nghiệm”, Nxb CTQG, Hà Nội; Bùi Tất
Thắng (2006), “Chuyển dịch cơ cấu ngành kinh tế ở Việt Nam”, Nxb Khoa
học xã hội, Hà Nội; Nguyễn Xuân Kiên (2006), “Cơ cấu, chính sách thu hút
đầu tư của tỉnh Lâm Đồng”. Kinh tế và dự báo, số 12, tr. 47…
Các công trình nêu trên đã đóng góp đáng kể cả trên phương diện lý luận
và thực tiễn vào quá trình chuyển dịch CCKT theo hướng CNH, HĐH. Tuy nhiên,
từ trước đến nay chưa có công trình nào nghiên cứu có tính chất chuyên sâu một
lĩnh vực về sự tác động của chuyển dịch CCKT ngành đến xây dựng KVPT ở tỉnh
Thời gian khảo sát từ năm 2000 đến nay.
5. Cơ sở lý luận và phương pháp nghiên cứu
Luận văn nghiên cứu dựa trên quan điểm của chủ nghĩa Mác- Lênin, tư tưởng
Hồ Chí Minh; chủ trương và đường lối Kinh tế - Chính trị - Quân sự của Đảng cộng
sản Việt nam. Đồng thời có tham khảo các công trình nghiên cứu, bài viết của các
nhà khoa học liên quan đến chuyển dịch CCKT theo hướng CNH, HĐH nền kinh tế
quốc dân. Đồng thời bám sát Nghị quyết và các văn bản của Tỉnh uỷ, Hội đồng nhân
dân, Uỷ ban nhân dân, Sở nông nghiệp và phát triển nông thôn, sở Công nghiệp, sở
Văn hoá- Thể thao- Du Lịch và Bộ chỉ huy quân sự Tỉnh Lâm Đồng.
- Luận văn sử dụng các phương pháp duy vật biện chứng, duy vật lịch sử,
phương pháp hệ thống; phân tích và tổng hợp; quy nạp và diễn dịch; thống kê, so sánh
cùng một số phương pháp khác đang được vận dụng trong nghiên cứu môn khoa học
kinh tế.
6. Ý nghĩa của luận văn
11
- Kết quả nghiên cứu sẽ góp phần làm rõ thêm cơ sở lý luận và thực tiễn
về chuyển dịch CCKT ngành ở Lâm Đồng gắn với nhiệm vụ xây dựng KVPT
tỉnh.
- Luận văn có thể dùng làm tài liệu tham khảo trong các học viện, nhà
trường quân đội, phục vụ cán bộ lãnh đạo địa phương tỉnh Lâm Đồng và
những độc giả quan tâm đến vấn đề chuyển dịch CCKT ngành.
7. Kết cấu của luận văn
Gồm có phần mở đầu, hai chương(4 tiết), kết luận, các phụ lục và danh
mục tài liệu tham khảo.
Chương 1
CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN VỀ CHUYỂN DỊCH
dịch CCKT ngành trong quá trình CNH, HĐH đòi hỏi hoạt động nổ lực,
chủ động, có kế hoạch của Nhà nước và nhân dân lao động để thúc đẩy quá
trình CNH, HĐH và phát triển kinh tế - xã hội.
Quá trình toàn cầu hóa và hội nhập kinh tế quốc tế đang diễn ra sâu
rộng đối với tất cả các quốc gia, dân tộc trên thế giới trong đó có nước ta.
CNH, HĐH nhằm trang bị kỹ thuật, công nghệ tiên tiến, hiện đại cho nền
kinh tế; Đồng thời, chuyển dịch CCKT từ phiến diện, lạc hậu, ít hiệu quả
sang CCKT đa dạng, năng động và hiệu quả cao. Đó là cơ cấu kinh tế theo
mô hình công nghiệp - nông nghiệp - dịch vụ gắn với phân công lao động
và hợp tác quốc tế sâu rộng. Tuy nhiên, điều đó phải xuất phát từ điều kiện
cụ thể ở mỗi địa phương mà đề ra mục tiêu, phương hướng và cách thức
chuyển dịch cho phù hợp.
CCKT ngành, là tổng thể các ngành kinh tế với vị trí, tỷ trọng tương ứng
của chúng, cùng mối quan hệ hữu cơ giữa các ngành đó trong nền kinh tế quốc
13
dân. Nó phản ánh mối quan hệ tỷ lệ về số lượng và chất lượng giữa các ngành
cấu thành nền kinh tế và có quan hệ chặt chẽ với nhau. Sự thay đổi cấu trúc và
mối quan hệ tỷ lệ giữa các ngành tiến đến một cơ cấu hiện đại, hợp lý chính là sự
chuyển dịch CCKT ngành theo hướng CNH, HĐH. Đây không chỉ đơn thuần là
sự thay đổi vị trí, mà là sự biến đổi cả về chất lượng và số lượng giữa các ngành.
Sự chuyển dịch CCKT ngành thực chất là sự điều chỉnh lại cơ cấu, tỷ trọng giữa
các ngành nhằm hướng đến thực hiện các mục tiêu kinh tế - xã hội đã xác định.
Nội dung của chuyển dịch CCKT ngành theo hướng CNH, HĐH đòi hỏi phải
kết hợp được cả yếu tố khách quan và chủ quan nhằm hình thành một cơ cấu
kinh tế ngành hợp lý, đưa nền kinh tế phát triển ổn định, bền vững. Thiếu sự kết
hợp nhân tố khách quan và nhân tố chủ quan đều làm chậm quá trình phát triển
nền kinh tế nước ta.
đẩy mạnh CNH, HĐH chuyển dịch CCKT ngành không chỉ có mối quan hệ
chặt chẽ với CCKT mà còn có quan hệ chặt chẽ với quá trình đổi mới khoa
học- công nghệ. Như vậy, quan niệm trên cũng mới chỉ thấy được sự thay đổi
cấu trúc về mặt số lượng, chưa thấy được sự thay đổi về mặt chất lượng của
các ngành. Bên cạnh đó cũng cần thấy rằng, chuyển dịch CCKT ngành bao
giờ cũng nhằm mục đích nhất định và thông qua hoạt động thực tiễn của con
người. Do đó, để quá trình chuyển dịch CCKT ngành đạt hiệu quả cao, đòi hỏi phải
có sự kết hợp nỗ lực chủ quan của chủ thể trên cơ sở nhận thức đúng đắn quy luật
khách quan và điều kiện cụ thể của hoàn cảnh chi phối. Như vậy, với những điều
kiện kinh tế - xã hội của từng quốc gia, từng địa phương ở mỗi thời kỳ lịch sử khác
nhau, nội hàm của quá trình chuyển dịch CCKT ngành cũng không giống nhau.
Qua phân tích các quan niệm nêu trên, cho phép khẳng định: nội hàm của
quá trình chuyển dịch CCKT ngành theo hướng CNH, HĐH là quá trình sắp xếp,
bố trí lại số lượng, chất lượng cùng tỷ trọng giữa các ngành nhằm chuyển dịch
CCKT ngành từ trạng thái lạc hậu, mất cân đối, năng suất, chất lượng thấp sang
trạng thái hợp lý, năng động, hiệu quả kinh tế - xã hội cao. Vì vậy, theo tác giả:
15
chuyển dịch CCKT ngành là quá trình hoạt động nỗ lực, tự giác, có tổ chức, có kế
hoạch của con người trên cơ sở vận dụng đúng đắn quy luật khách quan, nhằm
làm thay đổi cấu trúc và mối quan hệ tỷ lệ giữa các bộ phận cấu thành CCKT
ngành trong nền kinh tế theo hướng tăng tỷ trọng các ngành công nghiệp và dịch
vụ, giảm tỷ trọng ngành nông nghiệp, trên cơ sở áp dụng công nghệ, phương tiện,
phương pháp tiên tiến, hiện đại, tạo ra hiệu quả kinh tế- xã hội cao, đảm bảo cho
nền kinh tế phát triển bền vững, ổn định và chủ động hội nhập kinh tế quốc tế.
Như vậy với quan niệm trên, chuyển dịch CCKT ngành theo hướng
CNH, HĐH là quá trình tác động tự giác, có tổ chức, có kế hoạch của Đảng,
Nhà nước và Nhân dân. Đó cũng chính là quá trình kết hợp chặt chẽ giữa
nghiệp, xoá đói, giảm nghèo, đẩy lùi các tệ nạn xã hội, tăng cường tiềm lực
quốc phòng, giữ vững ổn định chính trị, trật tự an toàn xã hội, bảo vệ vững
chắc độc lập, chủ quyền, toàn vẹn lãnh thổ và an ninh quốc gia.
Với ý nghĩa đó, việc chuyển dịch CCKT ngành không phải thụ động
ngồi chờ cho quá trình CNH, HĐH hoàn thành rồi mới tiến hành hoặc phụ
thuộc hoàn toàn vào chuyển dịch CCKT nói chung, mà quá trình đó phải diễn
ra đồng thời, tạo sự đồng bộ với các quá trình chuyển dịch CCKT, CNH,
HĐH, phát triển giáo dục- đào tạo và khoa học công nghệ. Do đó, quá trình
chuyển dịch đòi hỏi phải có sự phối hợp, nổ lực của mọi cấp, mọi ngành, mọi
người. Chỉ có cách tiếp cận đó mới có thể thực hiện được mục tiêu mà Đại hội
Đảng toàn quốc lần thứ X đề ra, phấn đấu đưa nước ta cơ bản trở thành một
nước công nghiệp theo hướng hiện đại vào năm 2020.
Trong CCKT nói chung, CCKT ngành giữ vai trò quan trọng nhất.
Chuyển dịch CCKT ngành và chuyển dịch CCKT tuy không hoàn toàn trùng
hợp, song về nội dung có những điểm giống nhau. Về thực chất, là phân công
lại lao động, làm thay đổi cấu trúc bên trong giữa các ngành và trong từng
ngành, làm thay đổi tỷ trọng giữa các bộ phận cấu thành CCKT. Tuy nhiên,
chuyển dịch CCKT ngành nói chung là phản ánh sự phát triển LLSX và sự
17
biến đổi giữa các ngành hay cơ cấu ngành ở tất cả các quốc gia, kể cả quốc
gia có nền kinh tế phát triển hay chưa phát triển; còn chuyển dịch CCKT
ngành trong thời kỳ CNH, HĐH phản ánh sự phát triển của LLSX và QHSX ở
các quốc gia đang trong quá trình đẩy mạnh CNH, HĐH.
Chuyển dịch CCKT ngành theo hướng CNH,HĐH ở nước ta vừa là kết
quả của quá trình đẩy mạnh CNH, HĐH nhưng lại vừa là nhân tố tích cực
thúc đẩy quá trình đó, góp phần đưa nền kinh tế nước ta tăng trưởng và phát
triển bền vững. Đây là vấn đề có tính qui luật của các quốc gia đi từ nền sản
theo hướng tăng tỷ trọng ở các ngành công nghiệp và dịch vụ, giảm dần tỷ trọng
ngành nông nghiệp. Quá trình đó, một mặt làm giảm số lượng và quy mô ngành
nông nghiệp. Mặt khác, làm tăng quy mô, tỷ trọng ngành công nghiệp và dịch
vụ, du lịch. Theo đó, cơ cấu vùng, cơ cấu khoa học- công nghệ, cơ cấu lao động
cũng chuyển dịch theo. Bởi lẽ, quá trình CNH, HĐH bao hàm cả sự thay thế lao
động thủ công bằng lao động sử dụng máy móc, với phương thức, phương tiện
tiên tiến, hiện đại, tạo năng suất cao. Từ thực tế đó, đòi hỏi tất yếu phải chuyển
dịch CCKT ngành theo hướng hiện đại mới có thể triển khai thành công quá
trình CNH, HĐH, thực hiện chiến lược hướng về xuất khẩu, từng bước chuyển
sang nền kinh tế tri thức.
Thứ hai, do yêu cầu phát triển kinh tế thị trường định hướng XHCN
Kinh tế thị trường là hình thức kinh tế tiến bộ, là trình độ phát triển cao
của kinh tế hàng hoá. Kinh tế tri thức được vận hành cả ở chế độ TBCN và
XHCN, là thành tựu chung của nhân loại. Kinh tế thị trường, đòi hỏi phải phát
huy tính năng động, sáng tạo của các chủ thể sản xuất kinh doanh mới có thể tạo
ra các sản phẩm hàng hoá có số lượng nhiều, chất lượng tốt, đáp ứng nhu cầu
trong nước và nước ngoài. Theo đó, các ngành nghề trong nền kinh tế cũng được
chuyển dịch theo hướng hiện đại nhằm nâng dần quy mô và tỷ trọng để khai thác
tốt nhất lợi thế ngành, vùng, khoa học - công nghệ và nguồn lao động. Phát triển
19
kinh tế thị trường định hướng XHCN nhằm tạo sự phát triển cân đối giữa các
ngành, vùng, phát huy lợi thế làm cho kinh tế phát triển nhanh, bền vững, đồng
thời khắc phục những khuyết tật của thị trường và cơ chế thị trường. Trong đó
tăng cường hơn nữa vai trò chủ đạo của kinh tế nhà nước, kinh tế nhà nước cùng
với kinh tế tập thể dần dần trở thành nền tảng của nền kinh tế quốc dân, bảo đảm
định hướng xã hội chủ nghĩa. Do vậy, chuyển dịch CCKT ngành sẽ được chuyển
dịch về số lượng, chất lượng giữa các ngành góp phần duy trì sự ổn định và tăng
tính lâu dài để khai thác, phát huy các thế mạnh và tiềm năng của địa
phương phục vụ phát triển kinh tế - xã hội, củng cố quốc phòng- an ninh.
Thứ tư, do yêu cầu tăng cường sức mạnh xây dựng KVPT tỉnh
Lâm Đồng là tỉnh nằm ở phía Nam Tây Nguyên, nếu xét dưới góc độ
kinh tế thuộc vùng Đông Nam bộ. Xét ở góc độ quân sự, tỉnh có vị trí chiến
lược trên địa bàn Tây Nguyên và liên hoàn với các tỉnh ven biển miền trung.
Với ý nghĩa đó, Đại hội Đảng bộ tỉnh Lâm Đồng lần thứ VII, nhiệm kỳ (20062010) xác định “ xây dựng nền quốc phòng toàn dân và thế trận an ninh nhân
dân vững chắc gắn với nhiệm vụ phát triển kinh tế - xã hội; tập trung vào các
vấn đề nhạy cảm, khu vực trọng điểm..” [6, tr. 39].
Thực hiện yêu cầu đó, việc tăng cường sức mạnh KVPT tỉnh ở Lâm
Đồng phải đồng thời với việc nâng cao sức mạnh các nhân tố chính trị - tinh
thần, kinh tế, văn hoá- xã hội và quân sự. Trong đó, chuyển dịch CCKT
ngành là một nhiệm vụ quan trọng nhằm tạo ra tiềm lực kinh tế - chính trị
cho xây dựng KVPT tỉnh, tạo sự cân đối mới về số lượng, chất lượng, tỷ trọng
giữa các ngành, phù hợp với tiềm năng, thế mạnh của tỉnh, thúc đẩy kinh tế
phát triển bền vững, tăng cường ổn định chính trị - xã hội, củng cố lòng tin
của nhân dân, tạo nguồn lực cho xây dựng KVPT tỉnh.
1.1.2. Nội dung chuyển dịch cơ cấu kinh tế ngành theo hướng công
nghiệp hoá, hiện đại hoá
1.1.2.1. Nội dung chuyển dịch CCKT nói chung
21
Cơ cấu kinh tế nói chung bao gồm: cơ cấu ngành, cơ cấu vùng, cơ cấu
thành phần, cơ cấu lao động và cơ cấu khoa học- công nghệ. Như vậy, cơ cấu
kinh tế là một phạm trù rộng lớn, phức tạp. Chỉ riêng về cơ cấu ngành kinh
tế, khi nghiên cứu người ta chỉ thường phân tích theo 3 nhóm ngành chính là:
- Nhóm ngành nông nghiệp: bao gồm các ngành nông – lâm- ngư nghiệp
- Nhóm ngành công nghiệp: bao gồm ngành công nghiệp và xây dựng
thời kỳ quá độ phải hình thành một nền kinh tế công nghiệp hiện đại với CCKT
công nghiệp- nông nghiệp và dịch vụ gắn với phân công lao động và hợp tác quốc
tế.
Tại Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ X, Đảng ta đã định hướng những
nội dung chuyển dịch CCKT trên những vấn đề cơ bản sau đây:
Một là, tạo sự chuyển biến mạnh mẽ trong lĩnh vực sản xuất nông
nghiệp, kinh tế nông thôn và nâng cao đời sống nhân dân. Theo đó, hiện nay
và những năm tới phải coi vấn đề nông nghiệp nông thôn và nông dân có tầm
chiến lược đặc biệt quan trọng.
Hai là, phát triển nhanh công nghiệp và xây dựng theo hướng nâng cao
chất lượng, sức cạnh tranh và hiện đại hoá.
Ba là, xây dựng đồng bộ kết cấu hạ tầng kinh tế - xã hội theo hướng hiện đại.
Bốn là, tạo bước phát triển vượt bậc của khu vực dịch vụ
Năm là, tạo bước ngoặt về hội nhập kinh tế quốc tế và hoạt động kinh
tế đối ngoại. [8, tr. 190, 204].
1.1.2.2. Nội dung chuyển dịch CCKT ngành theo hướng CNH, HĐH
Trên cơ sở nội dung Đại hội X nêu trên, tỉnh Lâm Đồng cũng chuyển
dịch theo hướng đó. Tuy nhiên, sự chuyển dịch CCKT ngành ở Lâm Đồng có
những nét riêng, được quy định bởi điều kiện địa lý, khí hậu, lịch sử, tài
nguyên nhân văn của tỉnh để phát triển những ngành có tính chất mũi nhọn
mà các địa phương khác không có như : du lịch- dịch vụ, lâm nghiệp, công
nghiệp khai thác, chế biến khoáng sản…Quá trình chuyển dịch phải đảm bảo
23
sự cân đối, phù hợp giữa các ngành bảo đảm tính ổn định có hiệu quả kinh tế xã hội cao, gắn kết chặt chẽ giữa quá trình chuyển dịch CCKT với nhiệm vụ,
nội dung xây dựng KVPT tỉnh; gắn nội dung chuyển dịch CCKT ngành của
tỉnh với khu vực và cả nước, phấn đấu đến năm 2010 ngành công nghiệp và
xây dựng chiếm tỷ trọng 25-26%; Dịch vụ chiếm 26-27%; Nông- Lâm- Thuỷ
tiểu, thủ công nghiệp gắn với tiêu thụ hàng hoá cho nông dân, tăng cường
công tác khuyến nông, khuyến lâm, chuyển giao khoa học- kỹ thuật làm tăng
năng suất, chất lượng và hiệu quả sản xuất kinh doanh, xây dựng một số mô
hình nông thôn kiễu mẫu theo hướng CNH, HĐH.
+ Đối với ngành du lịch, dịch vụ
Đây là thế mạnh nhất của địa phương. Do đó, phải huy động tối đa
nguồn lực trong nước và nước ngoài để phát triển toàn diện ngành du lịch với
tốc độ nhanh, khai thác hiệu quả lợi thế về điều kiện tự nhiên, sinh thái,
truyền thống văn hoá, lịch sử. Đa dạng hoá các sản phẩm du lịch, chú trọng
phát triển các loại hình du lịch sinh thái, nghỉ dưỡng, hội nghị, hội thảo, tham
quan…gắn với các khu bảo tồn, vườn quốc gia, các khu danh lam, thắng cảnh,
di tích lịch sử ở địa phương.
Tập trung đầu tư xây dựng các trung tâm thương mại, siêu thị tại
thành phố Đà Lạt. Đồng thời, nâng cấp hệ thống chợ trung tâm huyện, thị
trấn và các chợ nông thôn. Đa dạng hoá và có chiến lược phát triển các
ngành dịch vụ bưu chính viễn thông, dịch vụ vận tải…Đó là những nội dung
căn bản trong chuyển dịch CCKT ngành ở tỉnh Lâm Đồng trong giai đoạn
hiện nay và những năm tiếp theo.
Việc xác định nội dung chuyển dịch CCKT ngành ở Lâm Đồng như
trên sẽ có sự gắn kết với quá trình và nội dung chuyển dịch CCKT của đất
nước. Nội dung chuyển dịch đó thể hiện rõ nét đặc thù của một tỉnh đang đẩy
mạnh sự nghiệp CNH, HĐH. CCKT nói chung và CCKT ngành nói riêng
25
đang trong quá trình chuyển dịch sang một CCKT năng động, hiệu quả, năng
suất, chất lượng cao phù hợp với tiềm năng và thế mạnh của địa phương.
Cùng với cả nước, quá trình chuyển dịch CCKT ngành ở Lâm Đồng
trong những năm gần đây đang diễn ra theo xu hướng tiến bộ; tập trung phát