Nghiên cứu ảnh hưởng của men bacifo đến khả năng sinh trưởng, phòng hội chứng tiêu chảy ở lợn f1 từ 60 150 ngày tuổi tại trại chăn nuôi binh minh huyện mỹ đức hà nội - Pdf 40

ĐẠI HỌC THÁI NGUYÊN
TRƢỜNG ĐẠI HỌC NÔNG LÂM
----------------------

NGUYỄN VĂN QUANG
Tên đề tài:
“NGHIÊN CỨU ẢNH HƢỞNG MEN BACIFO ĐẾN KHẢ NĂNG SINH
TRƢỞNG, PHÒNG HỘI CHỨNG TIÊU CHẢY Ở LỢN F1
(YORKSHIRE X LANDRACE) TỪ 60 - 150 NGÀY TUỔI TẠI TRẠI CHĂN
NUÔI BINH MINH, HUYỆN MỸ ĐỨC, HÀ NỘI”

KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP ĐẠI HỌC

Hệ đào tạo: Chính quy
Chuyên ngành: Thú Y
Khoa: Chăn nuôi Thú y
Khóa học: 2011 – 2016

Thái Nguyên – 2015


ĐẠI HỌC THÁI NGUYÊN
TRƢỜNG ĐẠI HỌC NÔNG LÂM
----------------------

NGUYỄN VĂN QUANG
Tên đề tài:
“NGHIÊN CỨU ẢNH HƢỞNG MEN BACIFO ĐẾN KHẢ NĂNG SINH
TRƯỞNG, PHÒNG HỘI CHỨNG TIÊU CHẢY Ở LỢN F1
(YORKSHIRE X LANDRACE) TỪ 60 - 150 NGÀY TUỔI TẠI TRẠI CHĂN
NUÔI BINH MINH, HUYỆN MỸ ĐỨC, HÀ NỘI”

tốt nghiệp.
Trong quá trình thực tập vì chưa có nhiều kinh nghiệm thực tế, chỉ dựa vào kiến
thức đã học cùng với thời gian hạn hẹp nên báo cáo không tránh khỏi sai sót.
Kính mong được sự góp ý nhận xét của quý thầy cô để giúp cho kiến thức của
em ngày càng hoàn thiện và có nhiều kinh nghiệm bổ ích cho công việc sau này.
Em xin chân thành cảm ơn.
Thái Nguyên, ngày tháng

năm 2015

Sinh viên

Nguyễn Văn Quang


ii

DANH MỤC BẢNG
Trang
Bảng 3. 1 Sơ đồ bố trí thí nghiệm .............................................................................19
Bảng 4. 1 Kết quả công tác phục vụ sản xuất ...........................................................31
Bảng 4. 2 Khối lượng cơ thể của đàn lợn qua các kỳ cân (kg/con). .........................32
Bảng 4. 3 Sinh trưởng tuyệt đối của lợn qua các thời kỳ cân (g/con/ngày) ..............34
Bảng 4. 4 Sinh trưởng tương đối của lợn thí nghiệm và đối chứng qua các giai đoạn
(%) ...........................................................................................................35
Bảng 4. 5 Tiêu thụ thức ăn/con/ngày. .......................................................................37
Bảng 4. 6 Tiêu tốn thức ăn/kg tăng khối lượng (kg) .................................................37
Bảng 4. 7 Tỷ lệ lợn mắc bệnh tiêu chảy theo lứa tuổi ..............................................38
Bảng 4. 8 Ảnh hưởng của men Bacifo đến tỷ lệ mắc tiêu chảy của đàn lợn ............39
Bảng 4. 9 Ảnh hưởng của men Bacifo đến kết quả điều trị bệnh tiêu chảy của đàn

Số thứ tự

TA

Thức ăn

TT

Thể trọng

TTTA

Tiêu tốn thức ăn


v

MỤC LỤC
Trang
PHẦN 1: MỞ ĐẦU ....................................................................................................1
1.1. Đặt vấn đề ............................................................................................................1
1.2.Mục tiêu của đề tài ................................................................................................2
1.3. Ý nghĩa của đề tài .................................................................................................2
1.3.1. Ý nghĩa khoa học ..............................................................................................2
1.3.2. Ý nghĩa thực tiễn ...............................................................................................2
PHẦN 2: TỔNG QUAN TÀ I LIỆU .........................................................................3
2.1. Cơ sở khoa học .....................................................................................................3
2.1.1. Đặc điểm sinh trưởng và phát triển của lợn ......................................................3
2.1.2. Đặc điểm sinh lý tiêu hóa của lợn. ....................................................................4
2.1.3. Hệ vi sinh vật trong đường tiêu hóa của lợn. ....................................................7



1

PHẦN 1
MỞ ĐẦU
1.1. Đặt vấn đề
Trong những năm gầ n đây chăn nuôi lơ ̣n giữ mô ̣t vi ̣trí quan tro ̣ng trong
ngành nông nghiệp của Việt nam . Con lơ ̣n đươ ̣c xế p hàng đầ u trong số các vâ ̣t nuôi ,
cung cấ p phầ n lớn thực phẩ m cho người tiêu dùng và phân bón cho sản xuấ t nông
nghiê ̣p. Ngày nay chăn nuôi lợn có tầm quan trọng đặc biệt

, làm tăng kim ngạch

xuấ t khẩ u đây cũng là nguồ n thu ngoa ̣i tê ̣ đáng kể cho nề n kinh tế quố c dân

. Mặt

khác lợn là loài gia súc có vòng đời ngắn, tăng trọng nhanh, có thể tận dụng được
thức ăn sẵn có trong phụ phẩm nông nghiệp, góp phần giải quyết công ăn việc làm,
xóa đói giảm nghèo, tăng thu nhập và là cơ hội làm giàu cho nông dân.
Nước ta với điều kiện khí hậu nóng ẩm, mưa nhiều cũng như tiến bộ khoa
học kỹ thuật còn hạn chế, do vậy mà dịch bệnh vẫn phát sinh hàng loạt và lây lan
thành những ổ dịch lớn. Bên cạnh những dịch bệnh nguy hiểm đối với chăn nuôi
lợn như: Bệnh dịch tả, bệnh Tụ huyết trùng, bệnh Đóng dấu lợn, bệnh Lở mồm long
móng. Thì một vấn đề đáng lo ngại cho những người chăn nuôi ở đây là hội chứng
tiêu chảy ở lợn. Đây là hội chứng thường xuyên sảy ra ở cả lợn nội và lợn ngoại làm
cho lợn còi cọc, chậm phát triển hoặc tỷ lệ chết cao hơn.
Để nâng cao tốc độ tăng khối lượng của lợn và khắc phục những hậu quả do
tiêu chảy gây ra, nhiều nhà nghiên cứu đã chế tạo ra các chế phẩm sinh học từ các vi

Việc bổ sung men tiêu hóa bacifo để tăng khả năng sinh trưởng, phòng hội
chứng tiêu chảy trên đàn lợn thương phẩm, làm giảm tỷ lệ chết, giảm tỷ lệ còi cọc,
nâng cao hiệu quả chăn nuôi.


3

PHẦN 2
TỔNG QUAN TÀ I LIỆU
2.1. Cơ sở khoa học
2.1.1. Đặc điểm sinh trưởng và phát triển của lợn
Sinh trưởng là quá trình tích lũy các chất hữu cơ cho đồng hóa và dị hóa, sự
tăng chiều cao, chiều dài, bề ngang, khối lượng của các bộ phận và toàn bộ cơ thể
của con vật trên cơ sở tinh di truyền của đời trước.
Về mặt sinh học: Sinh trưởng được xem như là quá trình tổng hợp protein
nên người ta thường lấy việc tăng khối lượng làm chỉ tiêu đánh giá quá trình sinh
trưởng, sự sinh trưởng thực sự là các tế bào của các mô cơ có sự tăng thêm về số
lượng, khối lượng và các chiều. Sự sinh trưởng của con vật được tính từ lúc trứng
được thụ tinh cho đến lúc cơ thể trưởng thành và được chia làm 2 giai đoạn: Giai
đoạn bào thai và giai đoạn ngoài bào thai. Các đặc tính của các bộ phận hình thành
quá trình sinh trưởng tuy là một sự tiếp tục, thừa ảnh hưởng các đặc tính di truyền
của bố mẹ, nhưng hoạt động mạnh hay yếu là do sự tác động của yếu tố môi trường.
Khi nghiên cứu về sinh trưởng ta không thể không đề cập tới quá trình phát
dục. Theo Lê Huy Liễu và cs (2004) [6], sự phát dục là một quá trình thay đổi về
chất lượng, sự hoàn chỉnh của các tính chất, chức năng của các bộ phận cơ thể vật
nuôi. Nhờ vậy mà vật nuôi hoàn thiện được các chức năng của cơ thể sống. Phát
dục trải qua nhiều giai đoạn bắt đầu từ lúc rụng trứng cho tơi khi cơ thể trưởng
thành. Theo Hà Thị Hảo và Trần Văn Phùng (2002) [3], lợn là loại gia súc có khả
năng sinh trưởng nhanh, cho năng xuất thịt cao và phẩm chất thịt, mỡ tốt. Ta thấy
nếu lấy khối lượng lúc sơ sinh là 1kg thì lúc 7-8 tháng tuổi lợn có thể đạt tới 100kg

ăn vào, muốn được cơ thể sử dụng cho mục đích duy trì sự sống, sinh trưởng và
phát triển, sinh sản trước tiên phải qua con đường tiêu hóa ở đó chúng được phân
giải thành những chất đơn giản nhất và được hấp thu qua niêm mạc ruột, đi vào
máu, cung cấp cho mô tế bào của các bộ phận trên cơ thể hoạt động, trong đó có cả
quá trình đồng hóa và dị hóa.
Cơ quan tiêu hóa của lợn phát triển hơn các cơ quan khác theo tuổi một cách
rõ rệt, khi còn ở trong bào thai bộ máy tiêu hóa đã hình thành đầy đủ nhưng chưa
hoàn thiện, dung tích còn bé và trong 2-3 tháng đầu cơ quan tiêu hóa của chúng
phát triển nhanh chóng.


5

Hệ thống tiêu hóa của lợn gồm 4 bộ phận chính tham gia vào quá trình tiêu
hóa cơ học và hóa học là: Miệng, dạ dày, ruột non, ruột già.
Ở miệng có sự tham gia của các men tiêu hóa hóa học có chứa trong nước
bọt là men amylaza và men maltaza có tác dụng thủy phân tinh bột (gạo, ngô, bột
củ, sắn, khoai) thành đường glucoza. Ngoài ra, nước bọt còn chứa dịch nhày muxin,
các muối cacbonat, sulphat. Độ pH của nước bọt = 7,2. Trong nước bọt còn có chứa
chất diệt khuẩn lyzozym ở các tuyến mang tai, tuyến dưới hàm và tuyến dưới lưỡi
tiết ra làm sạch và làm trung hòa các chất tránh gây độc hại cho cơ thể, tẩm ướt thức
ăn. Sau đó thức ăn được chuyển xuống dạ dày và tiếp tục quá trình tiêu hóa.
Ở dạ dày tiết ra dịch vị, các men tiêu hóa. Khi thức ăn xuống tới dạ dày cơ
trơn nhào trộn thức ăn cùng với các men tiêu hóa Protein của dạ dày. Dưới sự tác
dụng của axitclohydric (HCl) men pepsin hoạt động. HCl làm trương nở Protein
làm tăng bề mặt tiếp xúc với men pepsin diệt khuẩn và giữ độ axit ở dạ dày pH =
1,5-2,5. Dịch tiêu hóa trong dạ dày lợn ở các giai đoạn là khác nhau. Theo A.V.K.
Vasnhixya (1951) [21], cho biết: Lợn con ở 20 ngày tuổi lượng dịch vị phân tiết ra
trong một ngày đêm là 150-300ml và lượng phân tiết dịch vị tăng theo lứa tuổi. Ở
lợn bú sữa tiết dịch vi ban ngày là 31%, ban đêm là 69%. Ở lợn sau cai sữa 60-90

thành các sản phẩm dưỡng chấp chứa trong ruột, độ pH = 8,2-8,7, co 98% là nước, 2% là
vật chất khô có tác dụng tiêu hóa gluxit, protit, lipit.
Sự phân tiết dịch vị ở các giai đoạn tuổi là khác nhau. Theo A.V.K.
Vasnhixkya (1951) [21], lợn con 20-30 ngày tuổi lượng phân tiết dịch vị trong một
ngày đêm là 150ml và sự phân tiết dịch vị tăng theo lứa tuổi, 3 tháng tuổi là 3,5 lít
và từ 7 tháng tuổi trở lên là 10 lít/ngày đêm. Sự biến đổi khả năng phân tiết dịch tụy
trái với sự biến đổi dịch vị, trong thời kỳ thiếu HCl hoạt tính của dịch tụy rất cao để
bù lại khả năng tiêu hóa kém của dạ dày.
Ở ruột non ngoài sự tiêu hóa nhờ các dịch trong xoang ruột. Theo Hoàn Toàn
Thắng, Cao Văn (2005) [7], tiêu hóa do dịch trong xoang ruột chỉ chiếm 20-50%,
còn chủ yếu tiêu hóa ở mang chiếm 50-80%. Tiêu hóa ở màng được tiến hành nhờ
cấu tạo của màng nhầy ruột non có lớp tế bào dung mao. Trên bề mặt của mỗi
nhung mao có riềm bàn chải được tạo thành từ vô số các vi nhung mao, làm cho
diện tích của ruột non tăng thêm 30 lần.
Phần cuối cùng của bộ máy tiêu hóa là ruột già dài khoảng 4-5m, bao gồm
manh tràng, kết tràng và trực tràng. Ở ruột già không tiết men tiêu hóa mà chỉ tiết
dịch nhầy, ruột già có tiêu hóa một ít nhờ men thức ăn theo từ ruột non với tỷ lệ rất
nhỏ như: Cellulose 14%, protein 12%. Ruột già chủ yếu là tiêu hóa chất xơ do vi
sinh vật ở màng phân tạo ra các sản phẩm chính là axit lactic, có tác dụng ức chế vi


7

khuẩn phát triển và vi khuẩn gây thối. Theo Lê Hồng Mận và Bùi Đức Lũng (2003)
[10], trong điều kiện bình thường 1g chất chứa ruột già có từ 1- 10 tỷ vi sinh vật các
loại. Lượng protein thô và gluxit (tinh bột, đường) bị các vi sinh vật lên men “thối”
sinh hơi phân giải thành những sản phẩm có mùi hôi thối độc như: Indol, phenol và
các khí HS, CO, H và một phần lớn được thải qua đường hậu môn,còn lại chúng
được hấp thu qua màng ruột già và gan, ở gan chúng được khử độc thành các hợp
chất indical rồi thải qua đường nước tểu.

non vẫn có tác dụng diệt khuẩn, dịch mật và dịch tụy tạng bài tiết ra qua tá tràng
cũng có tác dụng sát khuẩn. Ruột non chứa một số ít vi khuẩn của dạ dày xuống.
Trong ruột non chủ yếu có: E. coli, cầu khuẩn, trực khuẩn hiếu khí, yếm khí có nha
bào (Clostridium perfringens), ở gia súc non còn có thêm Streptococcus lactic, trực
khuẩn Lactic Lactobacterium bularium (Nguyễn Vĩnh Phước, 1980) [12].
* Hệ vi sinh vật ở ruột già.
Hệ vi sinh vật chủ yếu là E.coli, cầu khuẩn, trực khuẩn có nha bào
(Enterococcus, Clostridium perfringens ở ruột kết), gia súc trưởng thành E. coli
chiếm 75% trở lên, trong ruột già có hệ vi sinh vật chưa thực hiện được bằng triệu
chứng lâm sàng như: Phó thương hàn, sẩy thai truyền nhiễm, uốn ván (Nguyễn
Vĩnh Phước, 1980) [12].
Trong hệ tiêu hóa của động vật hệ vi sinh vật luôn luôn ổn định, đảm bảo cân
đối cho hoạt động tiêu hóa khi đó phần lớn những vi sinh vật có lợi là vi khuẩn
Lactic, vi khuẩn này chiếm 90% hoạt động hữu ích tạo sự cân bằng cho đường ruột.
Nếu sự cân bằng bị phá vỡ thì những vi khuẩn có hại cạnh tranh phát triển gây rối
loạn đường tiêu hóa, gây tiêu chảy. Những loại vi khuẩn thường gặp nhất là: E. coli,
Samonella và Clostridium perfringens…
2.1.4. Những hiểu biết về bệnh tiêu chảy
Sau khi vi khuẩn xâm nhập vào cơ thể qua đường tiêu hóa, chúng sẽ xâm
nhập qua đường niêm mạc ruột, phát triển rất nhanh chóng trong tế bào biểu mô
ruột. Ở đó chúng gây viêm, sưng phù các tế bào, ngăn cản sự hấp thu các chất dinh
dưỡng ở ruột non của lợn dẫn đến tiêu chảy. Nếu cơ thể lợn còn yếu vi khuẩn sẽ vào
các hạch lympho gây viêm, sưng phù các hạch, sau đó vi khuẩn xâm nhập vào máu
và tiết độc tố làm cơ thể nhiễm độc có thể dẫn tới trạng thái hôn mê và chết.
Theo Phạm Khắc Hiếu (1997) [4], gia súc sơ sinh ra đời ngay trong môi
trường luôn có vi khuẩn gây bệnh, ngay cả gia súc mạnh khỏe trong đường tiêu hóa
có chứa tới 10 vi khuẩn các loại, nguy hiểm nhất cho lợn con và bê nghé là các vi


9

ấm, nhiệt độ ban ngày và đêm biên đọ chênh lệch quá xa, ẩm độ chuồng cao, nuôi


10

dưỡng kém, do lây truyền từ con khác sang, tiêm phòng không đảm bảo, tiêu trùng
chuồng giữ hai lứa kém, cơ năng tiêu hóa của lợn còn yếu, hệ thần kinh hoạt động
chưa chưa hoàn chỉnh, sức chống đỡ bệnh tật của cơ thể kém.
* Triệu chứng lâm sàng của bệnh tiêu chảy ở lợn sau cai sữa.
Bệnh tiêu chảy ở lợn con được thể hiện ở 3 thể lâm sàng chủ yếu là: Thể
nhiễm trùng, thể ỉa chảy, thể phù.
Khi lợn con mắc bệnh tiêu chảy thì thường lợn ăn ít dần đi, bệnh kéo dài thì
bệnh tóp lại, lông xù hoặc trụi nhẵn, đuôi rũ, đít dính phân bê bết, 2 chân sau rúm
lại và run rẩy. Lợn bị bệnh hay khát nước thường tìm nước chuồng để uống, nếu
không đảm bảo nước đầy đủ đôi khi lợn nôn ra cám chưa tiêu hóa.
Bệnh nặng con vật mệt lử, bỏ ăn, chân và toàn thân run rẩy, đi lại không
được, nằm một chỗ, đặc biệt là 2 chân sau bị liệt, mắt lõm sâu lờ đờ màu trắng đục,
khô. Lợn khát nước nhiều. Bệnh ở giai đoạn này chủ yếu là do vi khuẩn Clostridium
Perfringens gây ra, tỷ lệ chết ít, khi khỏi thì còi cọc chậm lớn, nhưng nếu kế phát
với một số bệnh khác thì bệnh tiến triển 10-15 ngày lợn chết.
Bệnh tích: Xác chết gầy, bụng tóp lai, lông da xơ xác hoặc trụi nhẵn, thân
lạnh. Ruột viêm từng mảnh mầu đen, niêm mạc xung huyết hoặc xuất huyết, ruột
rỗng chứa đầy hơi viêm cata. Gan hơi sưng hoặc không, màu nâu vàng nhạt, túi mật
thường căng. Phổi ứ huyết, đôi khi có hiện tượng sưng nhẹ.
* Phòng bệnh
Đặc điểm bộ máy tiêu hóa của lợn con phát triển nhanh nhưng khả năng
chống đỡ bệnh tật của đường ruột và dạ dày còn yếu. Do đó cần chú ý vệ sinh
chuồng trại, máng ăn, máng uống áp dụng các biện pháp kỹ thuật phòng chống bệnh
đường tiêu hóa cho lợn.
Dùng men bacifo bổ sung vào khẩu phần ăn cho lợn nái trước và sau đẻ 2

gây bệnh cho cả lợn sơ sinh và lợn lớn sau cai sữa. Các chủng sinh độc tố có thể gây
ngộ độc thức ăn cho người.
Clostridium perfringens typ A là vi khuẩn gram (+), tạo nha bào, là vi khuẩn
yếm khí không di động có kích thước 1-5,5 4-8. Chúng tạo thành bào tử có hình
trứng cân xứng hoặc lệch tâm. Theo Nguyễn Thị Liên, Nguyễn Quang Tuyên
(2004) [9], cho rằng: Giống Clostridium có kích thước nha bào thường lớn hơn bề
ngang thân vi khuẩn, nên khi hình thành nha bào thân vi khuẩn bị biến dạng tùy
theo vị trí của nha bào thân vi khuẩn: nằm giữa thân, nằm ở gần đầu và nằm ở một
đầu mà vi khuẩn có hình thoi, hình dùi trống, hình cái vợt, nha bào có thể tồn tại
ngay trong tế bào vi khuẩn hoặc độc lập. Trên mặt thạch máu khuẩn lạc của typ A
có 2 vòng dung huyết bao quanh, vòng dung huyết ngoài do toxin alpha tạo ra, vòng
trong do toxin theta tạo ra. Vi khuẩn không sản sinh toxin beta và các toxin chủng
khác thường dùng trong định loại.


12

 Đặc điểm dịch tễ học của bệnh.
Theo Đào Trọng Đạt và cs (1995) [2], về đặc điểm dịch tễ học của bệnh do
Clostridium perfringens typ A ở lợn được nghiên cứu còn ít nên có nhiều điểm chưa
rõ, bình thường vi khuẩn tồn tại ở chất chứa trong đường ruột và đất, vi khuẩn được
phân lập thấy ở tất cả các trang trại chăn nuôi và kháng thể Clostridium perfringens
typ A được phát hiện rộng rãi ở lợn thịt và lợn nái.
 Đường nhiễm bệnh và quá trình phát sinh.
Đường lây nhiễm chủ yếu là từ thức ăn, nước uống và phân của những con
mắc bệnh. Ở lợn sơ sinh thì bệnh thường xảy ra ngay ở những giờ đầu tiên vi khuẩn
truyền từ mẹ sang con, 25% bệnh tiêu chảy trong 5 ngày đầu là do Clotridia, khi
nhiễm bệnh vi khuẩn phát triển nhanh chóng trong đường ruột, chúng giải phóng ra
các độc tố gây hoại tử và tan máu, con vật nhiễm độc và chết.


Để giảm thấp nhất thiệt hại do vi khuẩn này gây ra trong chăn nuôi thì việc
phòng bệnh là chủ yếu bằng cách:
+ Đối với lợn nái đẻ phải dọn phân thường xuyên khỏi khu vực lợn nái đẻ và
hạn chế lợn thải Clostridial bằng phương pháp bổ sung men bacifo vào thức ăn để
bảo vệ lợn con sơ sinh.
+ Đối với lợn thịt: Vệ sinh chuồng trại, thu dọn phân sạch sẽ, giữ nền chuồng
luôn khô ráo.
Bổ sung các loại men ức chế sự phát triển của vi khuẩn.
Dùng thuốc kháng sinh phổ kháng khuẩn rộng như:
ampidexalone liều 1ml/10kg thể trọng, tiêm bắp 3-5 ngày liên tục.
2.1.5.Những hiểu biết về men Bacifo
Men Bacifo là sản phẩm của hãng Bayer.
* Nguồn gốc:
Bacifo là chất bổ xung co nguồn gốc Bacitracin.
+ Nguồn gốc Bacitracin.
Baccitracin có hoạt tính kháng sinh của polipeptit được triết xuất từ quá trình
lên men của loại vi khuẩn Bacillus lichenifomis, vi khuẩn này được phân lập vào
năm 1943 từ vết thương của một cô gái tên là Magaret Tracy.
Bacitracin


Bacillus



Tracy

Bacitracin có công thức hóa học là C 66 H 103 N 17 O 16 S



- Bacifo giảm stress hữu hiệu cho vật nuôi, ổn định hệ vi sinh vật trong
đường ruột, ngăn chặn sự phát triển của vi sinh vật có hại, kích thích vi khuẩn
Lactobacillus có lợi phát triển và làm mỏng của vách ruột giúp hấp thu dinh dưỡng
tốt hơn. Nếu dùng thường xuyên men Bacifo bổ sung vào thức ăn cho lợn sẽ không
phải dùng khánh sinh để phòng bệnh tiêu chảy.
* Liều lượng và cách dùng.
- Heo các giai đoạn trộn 1kg Bacifo/250kg thức ăn.


15

Heo nái trộn 1kg Batifo/30-40kg thức ăn, cho ăn trong 2 tuần trước và 3 tuần sau
khi sinh để phòng bệnh viêm ruột hoại tử do Clostridium trên lợn con.
Chú ý Khi sử dụng men batifo: Thức ăn đã nấu chín chỉ được trộn khi đã để
nguội dưới 40  , phải đảm bảo việc đưa men tiêu hóa theo thức ăn, sử dụng đúng
hướng dẫn, chăm sóc quản lý tốt.
2.2. Tình hình nghiên cứu trong và ngoài nƣớc

2.2.1. Tình hình bổ sung men trong nước
Theo tài liệu hội thảo kỹ thuật Chăn nuôi heo và các sản phẩm sử dụng trong
chăn nuôi heo (2006) [16].
* Men Bacifo là tăng sự đồng đều
- Thí nghiệm trên 128 heo khối lượng ban đầu là (23kg) thấy:
Khối lượng trung bình:

Nhóm bổ sung men đạm: 107,2 kg/con.
Nhóm không bổ sung men đạm: 104,9kg/con.
Khác biệt là: 2,3kg

Độ sai lệch: Nhóm bổ sung men là 2,5.

tiêu chảy ở lợn con ngoài kháng sinh đặc hiệu với vi khuẩn đường ruột (Trimzon,
Berberin) có hiệu quả điều trị từ 89-95%, việc bổ sung điện giải vừa tăng hiệu quả điều
trị và tăng tỷ lệ khỏi bệnh từ 90-98,5%. Con vật mau hồi phục đảm bảo số lượng và
chất lượng con giống.
2.2.2. Tình hình bổ sung men trên thế giới

- Tác giả Lutter (1983) [21], thông báo: Dùng Ogamin (liều lượng 5g/con)
cho uống có tác dụng tốt đối với việc phòng bệnh đường tiêu hóa. Tác giả lưu ý
rằng khi sử dụng kháng sinh phải phối hợp một cách hợp lý.
Theo tài liệu hội thảo kỹ thuật Chăn nuôi heo và các sản phẩm sử dụng trong
chăn nuôi heo (2006) [16].
- Thí nghiệm năm 1981 tại Mỹ. Chia làm 4 nhóm thí nghiệm mỗi nhóm 6 con.
Khối lượng ban đầu là 23kg nuôi trong thời gian 90 ngày, kết quả như sau:
* Hiệu quả tăng trọng khi bổ sung men Bacifo .

+ Tăng trọng trung bình/ngày:

Nhóm không bổ sung men là 0,75kg.
Nhóm có bổ sung men là 0,81kg.
Chênh lệch là: 0,06kg/ngày.

+ Hiệu quả sử dụng thức ăn trung bình/ngày:
Nhóm không bổ sung men là 3,15kg.
Nhóm có bổ sung men là 3kg.
Chênh lệch là: 0,15kg/ngày.
- Hiệu quả sử dụng men Bacifo trong điều kiện nhiệt độ cao.


17


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status