Đề cương quản lý nhà nước trong thương mại điện tử - Pdf 40

ĐỀ CƯƠNG QLNN
CÂU 1: Sự cần thiết và vai trò của quản lý nhà nước trong TMDT
1. Sự cần thiết của quản lý nhà nước trong TMDT
Thứ nhất, phải khắc phục những hạn chế của việc điều tiết của thị
trường, bảo đảm thực hiện mục tiêu phát triển kinh tế xã hội đã đề ra.
Thị trường không phải là nơi có thể đạt được sự hài hoà trong việc phân
phối thu nhập xã hội, trong việc nâng cao chất lượng cuộc sống xã hội, trong việc
phát triển kinh tế xã hội giữa các vùng… Cùng với việc đó, thị trường cũng không
khắc phục những khuyết tật của nền kinh tế thị trường, những mặt trái của nền
kinh tế thị trường đã nêu ở trên. Tất cả điều đó không phù hợp và cản trở việc thực
hiện đầy đủ những mục tiêu phát triển kinh tế-xã hội đã đề ra. Cho nên trong quá
trình vận hành kinh tế, sự quản lý nhà nước đối với kinh tế thị trường theo định
hướng xã hội chủ nghĩa là cần thiết để khắc phục những hạn chế, bổ sung chỗ
hổng của sự điều tiết của trhị trường, đảm bảo mục tiêu phát triển kinh tế xã hội.
Đó cũng là thực hiện nhiệm vụ hàng đầu của quàn lý nhà nước về kinh tế.
Thứ hai: Bằng quyền lực, chính sách và sức mạnh kinh tế của mình.
Nhà nước phải giải quyết những mâu thuẫn lợi ích kinh tế phố biến, thường
xuyên và cơ bản trong nền kinh tế quốc dân.
Trong quá trình hoạt động kinh tế, con người có mối quan hệ với nhau. Lợi
ích kinh tế là biểu hiện cụ thể của mối quan hệ đó. Mọi thứ mà con người phấn
đấu đền liên quan đến lợi ích của mình. Trong nền kinh tế thị trường, mọi đối tác
đều hướng tới lợi ích kinh tế riêng của mình. Nhưng, khối lượng kinh tế thì có hạn
và không thể chia đều cho mọi người, nếu xẩy ra sự tranh giành về lợi ích và từ
đó phát sinh ra những mâu thuẫn về lợi ích. Trong nền kinh tế thị trường có những
loại mâu thuẫn cơ bản sau đây:
- Mâu thuẫn giữa các doanh nghiệp với nhau trên thương trường.
- Mâu thuẫn giữa chủ và thợ trong các doanh nghiệp

1

Nguyễn Thị Nguyệt _K45I1


2

Nguyễn Thị Nguyệt _K45I1


- Nền KTTT thường xuyên thay đổi và chịu tác động của nhiều yếu tố do đó
chính sách cần thường xuyên thay đổi đề phù hợp với thị trường, đảm bảo tạo thị
trường ổn đinh, cạnh tranh công bằng giữa các chủ thể trong nền KT
- Khoa học công nghệ ngày càng phát triển, số lượng người làm về TMDT
cũng nhiều hơn. Do vậy nhu cầu và thói quen tiêu dùng của người dân cũng ngày
một thay đổi theo. Người ta bắt đầu hình thành thói quen tìm kiếm thông tin trên
mạng trước khi quyết định mua hàng hóa, dịch vụ nào đó. Nắm được nhu cầu này
mà các doanh nghiệp tạo dùng mọi cách để lôi kéo, thu hút khách hàng do vậy mà
không tránh khỏi được các gian lận, mánh khóe trong TM, ảnh hưởng đến quyền
và lợi ích của NTD.
- Ngày nay vấn đề thanh toán trong TMDT còn gặp phải nhiều khó khăn nhất
là bảo mật thông tin KH khi tiến hành giao dich: thông tin cá nhân và thông tin về
tài khoản của KH khó mà đảm bảo an toàn nếu như DN không có các kết nối an
toàn. Do vậy cần có sự can thiệp, điều tiết của Nhà nước để đảm bảo quyền lợi cho
NTD cũng như giảm thiểu các tranh chấp TM không đáng có, đồng thời tạo ra các
chế tài phù hợp, nghiêm ngặt để khắc phục các vấn đề trên.
- Do tính chất khó khăn và phức tạp của việc tham gia vào hoạt động của nền
kinh tế, nên các doanh nghiệp và doanh nhân rất cần có sự hỗ trợ của nhà nước (hỗ
trợ về ý chí, về tri thức, về phương tiện, về môi trường kinh doanh v.v )
2. Vai trò của quản lý nhà nước trong TMDT
Gồm 4 vai trò
1. Tạo lập ra môi trường cạnh tranh bình đẳng hơn trong TM
-


cũng phải đổi mới tư duy, công cụ và các chính sách quản lý, nâng cao trình độ
nhận thức, điều hành lãnh đạo chung trong TMDT để tạo ra môi trường cạnh
tranh tốt hơn, bình đẳng hơn.
2. Hỗ trợ các DN và giải quyết các mâu thuẫn trong tranh chấp TMDT
-

Các doanh nghiệp cần được nhà nước hỗ trợ trong nền kinh tế, cần có một
sự hỗ trợ nhất định. Nhà nước bằng những quyền lực, trách nhiệm, khả
năng của mình buộc phải hỗ trợ cho DN phù hợp với quy trình phát triển
của đất nước trong từng thời kỳ: Hỗ trợ, cung cấp cho hệ thống CNTT tốt,
hỗ trợ CSVCKT, xúc tiến TM

-

Giải quyết một số mâu thuẫn: Nhà nước phải can thiệp vào giải quyết một
số mâu thuẫn trên thị trường để cho TMDT càng ngày càng phát triển mạnh
hơn, cần thiết hơn là công cụ quan trọng phục vụ cho các DN trong việc
bán sản phẩm,..

-

Nhà nước phải dựa vào chuẩn mực các định chế cần thiết để thực hiện
cưỡng chế trong giải quyết các tranh chấp thương mại. Trong nền KTTT
phần lớn các giao dịch được thực hiện dựa trên CSHT do vậy khi những
định chế và quy định dễ dàng hơn là điều kiện cần thiết giúp cho TM nói
chung và TMDT nói riêng phát triển tốt, lành mạnh nhất trong nền tranh
chấp TM.
4

Nguyễn Thị Nguyệt _K45I1

giám sát phải có tâm và làm việc hết trách nhiệm.

-

Các mục tiêu của TM mang tính bền vững, bao gồm tăng trưởng, kiểm soát
và điều chỉnh thực hiện mục tiêu phát triển TMDT đòi hỏi phải có sự phối
hợp giữa các ngành từ trung ương đến địa phương.

-

Công tác kiểm tra, giám sát cần có bộ máy nhân sự phù hợp, có kỹ thuật,
trang thiết bị, công nghệ để phát hiện ra được những sai sót nhằm có biện
pháp khắc phục kịp thời và hiệu quả.

CÂU 2: Nội dung của quản lý nhà nước về TMDT
1. Công cụ kế hoạch hóa phát triển TMDT
* Khái niệm và sự cần thiết của công cụ kế hoạch hóa
-

Công cụ kế hoạch hóa là toàn bộ các phương tiện mà các cơ quan quản lý
nhà nước sử dụng để quản lý nhằm đạt được mục tiêu. Các công cụ chủ yếu
5

Nguyễn Thị Nguyệt _K45I1


của kế hoạch hóa gồm: Kế hoạch hóa các chính sách, luật pháp trong lĩnh
vực TMDT..
-


các nội dung và chiến lược quy hoạch trong TMDT nhằm từng bước đưa các
6

Nguyễn Thị Nguyệt _K45I1


chương trình mục tiêu chiến lược phát triển TMDT. Kế hoạch hàng năm nhằm cụ
thể hóa kế hoạch hàng năm nhằm thực hiện các mục tiêu cụ thể trong chiến lược
phát triển thực hiện mục tiêu tổng thể 5 năm.
Note: Lựa chọn thời gian 5 năm là do:
-

5 năm là một khoảng thời gian hợp lý để thực hiện được các quyết định
phát triển TMDT có thể đổi mới công nghệ phát triển

-

5 năm là thời gian cần thiết để đổi mới những chủ trương chính sách của
nhà nước. Do vậy lựa chọn 5 năm là hợp lý

-

Trong điều kiện phát triển khoa học công nghệ, 5 năm là thời gian trung
bình cần thiết để hoàng thành công trình xây dựng, CSVCKT để phát triển
đội ngũ hoặc cơ sở phát triển TMDT.

+ Quy hoạch chiến lược phát triển TMDT
-

Quy hoạch phát triển TMDT là 1 luận chứng khoa học về các phương án

giải quyết những tranh chấp TM dựa trên những quy định của luật pháp
hoặc những chính sách TM trong đó có TMDT

-

Là công cụ quan trọng để điều phối các hoạt động TMDT trên thị trường do
vậy nhà nước cần có thông tư, văn bản quy định chặt chẽ hơn vấn dề
TMDT dựa trên những luật lệ, văn bản quy định về TMDT

• Sự cần thiết của luật pháp trong TMDT
• Nội dung của công cụ luật pháp
-

Cơ chế tác động của công cụ luật pháp trong TMDT thể hiện ở 3 cơ chế:
Cơ chế dẫn dắt, cơ chế kích thích, cơ chế cưỡng chế.

-

Định hướng mục tiêu đạt được dựa trên những văn bản TMDT dẫn đến mục
tiêu nhà nước đạt được

-

NHờ công cụ luật pháp mà các DN cạnh tranh bình đẳng hơn và được pháp
luật thừa nhận

-

Những quy định luôn luôn chỉnh sửa để các chính sách được tốt hơn. Luật
pháp cần phải minh bạch, rõ ràng, câu từ cần dễ hiểu, chính sách rõ nghĩa

Các ngân hàng thương mại thực hiện chức năng kinh doanh tiền tệ, thực hiện
các dịch vụ tài chính, ngân hàng. Công cụ cơ bản để sử dụng trong hệ thống ngân
hàng là hệ thống luật, văn bản dưới luật, lãi suất, chiếc khấu, hệ thống thị trường
tài chính, tiền tệ.
Hoạt động của hệ thống ngân hàng giữ được vai trò là trung tâm tín dụng,
trung tâm tiền tệ, trung tâm thanh toán và từ đó có thể khống chế, kiểm soát, điều
chỉnh hoạt động của nền kinh tế quốc dân. Do đó, trong điều kiện kinh tế thị
trường, Ngân hàng giữ vai trò công cụ vĩ mô của Nhà nước.
Chính sách tiền tệ có tác động lớn đến các hoạt động thương mại nói chung
trong đó có TMDT, có tác động khuyến khích hoặc hạn chế đầu tư, phụ thuộc và
lãi suất. Do vậy chính sách tiền tệ ảnh hưởng trực tiếp hoặc gián tiếp đến các hoạt
động của thị trường làm tăng hoặc giảm sản lượng, khuyến khích hoặc hạn chế
đầu tư.
Có thể dễ dàng nhận thấy cung tiền và cầu tiền ảnh hưởng trực tiếp đến lãi suất
ngân hàng. Để phát triển kinh tế nhà nước đang cố gắng dùng mọi biện pháp để
giảm lãi suất, khuyến khích đầu tư, phát triển. Tuy nhiên trước tình trạng nền kinh
tế còn gặp nhiều khó khăn, thách thức đòi hỏi nhà nước cần đưa ra những chính
sách phù hợp để duy trì, ổn định và phát triển kinh tế như tái cấu trúc hệ thống
9

Nguyễn Thị Nguyệt _K45I1


ngân hàng, giảm thiểu nhân lực dư thừa trong hệ thống, tinh giảm nguồn lực sao
cho đạt hiệu quả nhất…đồng thời cũng đưa ra nhiều chính sách để giảm thiểu nợ
xấu, tăng nguồn vốn đầu tư,…
• Chính sách tỷ giá hối đoái
Chính sách tỷ giá cũng ảnh hưởng đến quan hệ TM đặc biệt là hoạt động xuất
nhập khẩu. Trước tình trạng nền kinh tế đang gặp khó khăn hiện nay, đồng tiền
ngày càng trở nên mất giá…tuy nhiên tỷ giá hối đoái của đồng Việt Nam mấy năm

Nhà nước cần quản lý chính sách giá cả cho phù hợp đặc biệt với những
sản phẩm độc quyền như điện, xăng, nước bằng cách đưa ra các mức giá
trần, giá sàn, và niêm yết giá,..Giá cả là một trong những yếu tố có tác động
10

Nguyễn Thị Nguyệt _K45I1


đến tổng cầu. Do vậy nếu nhà nước quản lý không tốt giá thì người tiêu
dùng luôn là người phải chịu thiệt thòi trong các hoạt động KT.
-

Cụ thể:

+ Nhà nước trực tiếp đối với một số ít sản phẩm cơ bản có tính chất chiến lược
phục vụ cho xã hội như: Than, dầu mỏ, điện, hàng không, bưu điện… Tuy nhiên,
từng bước thu hẹp tỷ trọng Nhà nước định giá và mở rộng tỷ trọng giá Nhà nước
chỉ đạo và giá thị trường điều tiết.
+Nhà nước chỉ đạo mức giá, quản lý gián tiếp là hình thức quản lý giá thông
qua việc xác định khung mức giá trong giá cả hàng hóa. Hình thức này, đòi hỏi
phải điều chỉnh thường xuyên giá cả để làm cho nó tiếp cận với giá thị trường.
+Khống chế từng mức giá cả có mục đích, đảm bảo sự ổn định cơ bản tổng
mức giá cả & biện pháp khống chế từng mức giá cả là hệ thống các biện pháp như:
biện pháp hành chính, biện pháp tài chính, biện pháp tiền tệ, biện pháp khống chế
lương & hối suất…
CÂU 3: Các chức năng của quản lý nhà nước về TMDT
Gồm 4 chức năng:
1. Chức năng định hướng, phát triển TMDT
- Quan tâm đào tạo, xây dựng nguồn nhân lực, làm tốt công tác quy hoạch, đào
tạo, bồi dưỡng cán bộ chuyên trách về TMĐT đáp ứng được yêu cầu công việc;

3. Chức năng lãnh đạo và điều hành các hoạt động TMDT
-

Nhà nước cần chú trọng đến các hoạt động lãnh đạo các hoạt động TMDT
để hoạt động sản xuất, kinh doanh diễn ra thông suốt, đi đúng hướng và đạt
được đúng các mục tiêu đã đề ra. Sự lãnh đạo đúng đắn và kịp thời sẽ tạo ra
được nhiều kết quả tốt.

-

Bên cạnh việc lãnh đạo cũng cần phải điều hành, kiểm tra, giám sát các
hoạt động TM để chúng hoạt động được tốt hơn và diễn ra theo đúng định
hướn đã đề ra.

4. Chức năng kiểm soát các hoạt động TMDT
Thông qua các hoạt động kiểm tra, giám sát các hoạt động kinh tế làm giảm
thiểu các gian lận TM và làm trong sạch môi trường kinh doanh, tạo ra môi trường
cạnh tranh bình đẳng hơn cho các DN đồng thời giúp các DN đi đúng hướng và
đạt được các mục tiêu kinh tế đã đề ra. Từ đó các giao dịch dienx ra tốt hơn, thông
tin TMDT trở nên nhanh chóng và chính xác hơn. Tất cả đều hướng đến mục tiêu
cuối cùng là lợi ích cho NTD.
CÂU 4: Công cụ kế hoạch hóa trong TMDT (xem câu 2)
CÂU 5: Công cụ luật pháp trong TMDT (xem câu 2)

12

Nguyễn Thị Nguyệt _K45I1


CÂU 6: Trình bày khái niệm, đặc điểm của quản lý nhà nước trong TMDT

Mục tiêu về quản lý Nhà nước tronng TMDt gắn liền với quá trình phát triển
kinh tế - xã hội tăng trưởng kinh tế như: tăng trưởng GDp, GNP, tạo cạnh tranh
bình đẳng, TMDT phát triển bền vững, giảm gian lận trong TM,…
Để đạt được mục tiêu này quản lý Nhà nước về TMDT cần phải có quy trình,
tổ chức (nguồn nhân lực) phải sử dụng các công cụ (chủ yếu là luật pháp), các
phương tiện để điều tiết các hoạt động TM đặc biệt là TMDT.
-

Điều tiết các hoạt động TMDT theo đúng mục tiêu (phấn đấu 2012 trở
thành nước công nghiệp),.. phù hợp với lợi ích, mong muốn từng thời kỳ

-

Quản lý nhà nước về TMDT bao gồm quản lý các chủ thể là thương nhân,
các Nsx, quản lý NTD. Thương nhân là người kích thích sản xuất, kích
13

Nguyễn Thị Nguyệt _K45I1


thích tiêu dùng, đưa sản phẩm tới tay người tiêu dùng thông qua các giao
dịch TMDT. Do vậy quản lý thương nhân để tạo ra thị trường cạnh tranh
bình đẳng hơn, giảm bớt các gian lận thương mại, bình ổn thị trường,…xây
dựng một môi trường TM ổn định, phát triển bền vững.
-

Ngoài ra cần nâng cao CSVC, CSHT đặc biệt là hệ thống CNTT đối với
các hoạt động TMDT.

Tóm lại: Quản lý Nhà nước về TMDT bao gồm việc kiểm tra, chấp hành chính

TM.

14

Nguyễn Thị Nguyệt _K45I1


2. Kết hợp sự quản lý về TMDT
- Trong quản lý TMDT phải có sự kết hợp chặt chẽ giữa các ban ngành: Bộ
tài chính định hướng phát triển TM ở quy mô, cơ cấu. Bộ văn hóa thông tin
quản lý thông tin truyền thông,…tất cả các ban ngành cần có sự kết hợp
chặt chẽ với nhau..
3. Phải có sự kết hợp hợp lý sự phát triển TMDT trong quá trình hội nhập
KT
-

Phát triển TMDT là sự phát triển cả về số lượng và chất lượng. nghĩa là
phải có sự tăng lên về số lượng và quy mô các DN hoạt động trong lĩnh vực
TMDT và chất lượng sản phẩm, dịch vụ tốt hơn, giá rẻ hơn,…Để được như
vậy nhà nước cần phải có chính sách bảo hộ, chính sách phát triển như cho
DN vay vốn, giảm thuế,..đồng thời Nhà nước cần tạo sự tự do, bình đẳng và
tạo môi trường kinh doanh lành mạnh cho mọi DN.

-

Nhà nước hỗ trợ, thúc đẩy TMDT phát triển, tạo ra môi trường cạnh tranh
lành mạnh hơn để cho TMDT phát triển và bảo vệ lợi ích của NTD khi họ
tham gia vào TMDT.

4. Đảm bảo tính hiệu quả về hiệu lục của Nhà nước về TMDT

-

Các quyết định, quản lý phải đảm bảo mục tiêu hài hòa, đảm bảo lợi ích và
tính ưu tiên để những chính sách, công cụ đó đạt hiệu lực cao hơn

16

Nguyễn Thị Nguyệt _K45I1




Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status