Đánh giá khả năng kháng khuẩn của cecropin B đối với một số chủng vi khuẩn gây bệnh trên động vật (luận văn thạc sĩ) - Pdf 40

ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
TRƢỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC TỰ NHIÊN
----------

TRỊNH THU HẰNG

ĐÁNH GIÁ KHẢ NĂNG KHÁNG KHUẨN CỦA CECROPIN
B ĐỐI VỚI MỘT SỐ CHỦNG VI KHUẨN GÂY BỆNH TRÊN
ĐỘNG VẬT

LUẬN VĂN THẠC SĨ KHOA HỌC

Hà Nội - 2011

Luận văn thạc sỹ - Khoa Sinh học


MỤC LỤC
MỞ ĐẦU .......................................................................................................... 4
Chƣơng I: TỔNG QUAN TÀI LIỆU ............................................................ 6
1.1. GIỚI THIỆU VỀ CHẤT KHÁNG SINH ............................................ 6
1.1.1. Chất kháng sinh .......................................................................... 6
1.1.2. Sơ lƣợc lịch sử nghiên cứu CKS ................................................ 6
1.1.3. Phân loại CKS ............................................................................ 8
1.1.4. Cơ chế tác dụng của CKS .......................................................... 9
1.1.4.1. Ức chế tổng hợp thành tế bào........................................... 9
1.1.4.2. Phá hủy màng sinh chất ................................................. 11
1.1.4.3. Ức chế tổng hợp protein ................................................. 12
1.1.4.4. Ức chế các con đường trao đổi chất .............................. 13
1.1.4.5. Ức chế sự tổng hợp acid nucleic .................................... 14
1.1.5. Thực trạng kháng kháng sinh của các chủng VSV gây bệnh .. 15

2.2.1. Phƣơng pháp nuôi cấy và cấy chuyển nguyên bào sợi chuột .. 40
2.2.2. Phƣơng pháp thu môi trƣờng nuôi nguyên bào sợi chuột đã
đƣợc chuyển gen cecropin B: ........................................................ 41
2.2.3. Phƣơng pháp cô đặc môi trƣờng nuôi nguyên bào sợi chuột
đã đƣợc chuyển gen cecropin B .................................................... 42
2.2.4. Phƣơng pháp nhân nuôi và cất giữ vi khuẩn ............................ 42
2.2.5. Phƣơng pháp đục lỗ.................................................................. 43
2.2.6. Phƣơng pháp xác định hoạt tính kháng khuẩn ......................... 45
2.2.6.1. Phƣơng pháp xác định hoạt tính kháng khuẩn của chất
kháng sinh...................................................................................... 45
2.2.6.2. Phƣơng pháp xác định hoạt tính kháng khuẩn của peptide
cecropin B: .................................................................................... 46

2


2.2.6.3. Phƣơng pháp xác định hoạt tính kháng khuẩn của CKS
kết hợp với peptide cecropin B: .................................................... 47
2.2.6.4. Phƣơng pháp xác định hoạt tính kháng khuẩn của môi
trƣờng nuôi cấy nguyên bào sợi chuột chuyển gen cecropin B: ... 48
Chƣơng III: KẾT QUẢ VÀ THẢO LUẬN ................................................ 50
3.1. ĐÁNH GIÁ TÍNH KHÁNG KHÁNG SINH CỦA MỘT SỐ
CHỦNG VI KHUẨN GÂY BỆNH TRÊN NGƢỜI VÀ ĐỘNG
VẬT ..................................................................................................... 50
3.2. KẾT QUẢ THỬ NGHIỆM HOẠT TÍNH KHÁNG KHUẨN
CỦA PEPTIDE CECROPIN B ........................................................... 52
3.3. KẾT QUẢ THỬ NGHIỆM HOẠT TÍNH KHÁNG KHUẨN
CỦA CECROPIN B KẾT HỢP VỚI KHÁNG SINH......................... 55
3.3.1. Cecropin B gây nhạy cảm với kháng sinh ở chủng vi khuẩn
kháng thuốc ................................................................................... 55

trùng, hình thành các lỗ trên màng và tiêu diệt các tác nhân đó. Gen mã hóa
cho một số cecropin đƣợc thiết kế và tổng hợp đã cho thấy hiệu quả chống
bệnh ở động vật và thực vật do vi khuẩn gây nên. Gen cecropin đã đƣợc sử
dụng để tạo ra thực vật biến đổi gen (nhƣ khoai tây, thuốc lá) biểu hiện sự
tăng cƣờng tính kháng khuẩn hoặc nấm.
Họ cecropin gồm có ba nhóm chính là cecropin A, B và D [11]. Trong
đó cecropin B đƣợc biết đến với hoạt tính kháng khuẩn mạnh. Với tính hiệu
quả trong việc kiểm soát mầm bệnh sinh ra do tác nhân vi khuẩn và côn trùng,
cecropin B cũng có thể có hiệu quả trong kiểm soát các mầm bệnh do các tác

4


nhân này gây nên ở cá, cũng nhƣ ở nhiều loài động vật. Vì vậy mục đích
chính của nhóm nghiên cứu là thử nghiệm chuyển gen cecropin B vào tế bào
chuột nuôi cấy nhằm đánh giá khả năng tiếp nhận và biểu hiện gen kháng
khuẩn này. Một công việc quan trọng trong quá trình nghiên cứu là thử
nghiệm hoạt tính kháng khuẩn, cũng nhƣ các nồng độ kháng khuẩn tối ƣu của
cecropin lên một số chủng vi sinh vật gây bệnh trên động vật để làm cơ sở
đánh giá cecropin tái tổ hợp đƣợc sản xuất trong tế bào nuôi cấy.
Vì thế chúng tôi đã tiến hành “Đánh giá khả năng kháng khuẩn của
cecropin B đối với một số chủng vi khuẩn gây bệnh trên động vật”.

5


Chƣơng I: TỔNG QUAN TÀI LIỆU
1.1. GIỚI THIỆU VỀ CHẤT KHÁNG SINH
1.1.1. Chất kháng sinh
CKS (Chất kháng sinh - antibiotic) là các hợp chất hóa học do một số

penicillin còn ức chế sự sinh trƣởng của hàng loạt vi khuẩn gây bệnh khác,
nhƣ trực khuẩn gây bệnh bạch cầu, bệnh thận ...
Sự ra đời của penicillin đã kéo theo sự ra đời của hàng loạt các chất
kháng sinh khác. Sau khi phát hiện ra penicillin, các nhà khoa học trên toàn
thế giới đã tích cực tìm kiếm, nghiên cứu thêm nhiều loại CKS có nguồn gốc
từ VSV.
Năm 1944, Abraham Waksman, Schatz và Bugie đã phát hiện ra
streptomycin dẫn đến một kỷ nguyên mới trong điều trị bệnh lao và bệnh
viêm màng não. Đây là một CKS phổ rộng, kháng đƣợc cả vi khuẩn G(-) lẫn
vi khuẩn G(+). Tốc độ tìm kiếm CKS ngày càng đƣợc đẩy mạnh. Những năm
1940 – 1959 đƣợc coi là thời kỳ hoàng kim của CKS. Hàng loạt CKS đƣợc
tách chiết và xác định: actinomicin (Waksman, 1940), chloramphenicol
(Erhlich, 1947), chlotetracylin (Dugar, 1948). Ngày nay số lƣợng CKS đƣợc
phát hiện lên tới trên 15000 chất, trong đó hàng trăm chất đƣợc dùng trong y
học thực tiễn.
Cùng với sự phát triển mạnh mẽ của các ngành Vi sinh vật học, Hóa
sinh học, Di truyền học phân tử và đặc biệt là sự ra đời của Công nghệ sinh
học (1975) đã tạo điều kiện thuận lợi cho lĩnh vực nghiên cứu CKS đạt đƣợc
những thành tựu lớn lao.

7


1.1.3. Phân loại CKS
CKS có thể đƣợc phân loại theo nhiều cách tùy thuộc vào tiêu chí của
các nhà nghiên cứu. Các nhà nghiên cứu dƣợc liệu và các thầy thuốc muốn
phân loại theo hoạt tính sinh học của CKS (CKS kháng khuẩn, CKS kháng
nấm, CKS phổ rộng, CKS phổ hẹp, CKS kháng vi khuẩn G(-), CKS kháng vi
khuẩn G(+) ...). Các nhà hóa sinh, sinh học phân tử muốn phân loại theo cơ
chế tác động của CKS. Các nhà VSV muốn phân loại theo sản phẩm vi sinh


Chloramphenicol,

Thiamphenicol
- Nhóm Lincosamid: Lincomycin, Clindamycin
1.1.4. Cơ chế tác dụng của CKS
Cơ chế tác dụng của CKS là những cách thức mà CKS tác dụng lên
những vị trí khác nhau trong tế bào, qua đó ảnh hƣởng đến sự sinh trƣởng của
VSV. Các CKS có thành phần và cấu trúc hóa học đặc trƣng nên không có
một cơ chế tác dụng chung của các CKS đối với tất cả các VSV. Đặc tính và
cơ chế tác dụng của CKS phụ thuộc vào bản chất hóa học của từng chất, nồng
độ và cấu trúc hiển vi của VSV. Các chất có bản chất hóa học khác nhau thì
có ảnh hƣởng khác nhau lên VSV, còn các chất có bản chất hóa học gần giống
nhau thì có hoạt phổ tƣơng tự nhau. Một số CKS khi ở nồng độ thấp thì không
có tác dụng ức chế mà còn có tác dụng kích thích sinh trƣởng của VSV.
Ngoài ra cùng một CKS nhƣng ở các điều kiện khác nhau thì cơ chế tác dụng
lên VSV khác nhau.
Mỗi CKS có đích tác dụng và cơ chế tác dụng riêng nhằm ức chế hoặc
tiêu diệt hoàn toàn VSV kiểm định bằng cách tác động vào một hay nhiều
bƣớc của quá trình tổng hợp. Có thể phân loại thành các cơ chế tác động sau:
1.1.4.1. Ức chế tổng hợp thành tế bào
Thành tế bào vi khuẩn là cấu trúc bảo vệ tế bào vi khuẩn chống lại áp
suất thẩm thấu. Thành phần cấu trúc chủ yếu của thành tế bào là peptidoglican
(PG). PG là một đại phân tử cấu tạo bởi các chuỗi polysaccarit bao gồm đơn
phân là các dẫn xuất của đƣờng glucose nằm xen kẽ nhau và lặp lại một cách
liên tục (NAG – NAM). Để tạo thành mạng lƣới thực sự vững chắc, các chuỗi
polysaccarit của PG phải liên kết chéo với nhau thông qua một đoạn peptide
ngắn giữa các tetrapeptide của tiểu phần NAM. Để có thể sinh trƣởng và phân
9



khuẩn G(+). Tuy nhiên các vi khuẩn không có cầu D – alanin – D – alanin
kháng tự nhiên với các kháng sinh này.
Một CKS ức chế sự tổng hợp thành tế bào theo cách khác là bacitracin.
CKS này ngăn cản sự vận chuyển của các đơn vị PG mới từ tế bào chất đến vị
trí sinh trƣởng của thành tế bào. Cũng nhƣ các kháng sinh β – lactam,
vancomycin, cycloserin và bacitracin làm gián đoạn sự tổng hợp thành tế bào
làm cho tế bào vi khuẩn bị phân giải do áp suất thẩm thấu [45].
1.1.4.2. Phá hủy màng sinh chất
Một số CKS phá võ màng sinh chất của các tế bào đích bằng cách
tƣơng tác với màng sinh chất và làm tổn thƣơng tính nguyên vẹn của nó. Đây
là cơ chế hoạt động của một nhóm chất gọi là polyen. Amphotericin B là một
polyen có khả năng kháng nấm vì nó gắn với ergosterol – thành phần cấu tạo
nên màng sinh chất của nấm và tạo thành các lỗ rò trên màng. Do đó nội quan
của màng thất thoát ra môi trƣờng bên ngoài. Màng sinh chất của tế bào ngƣời
và động vật có thể bị tổn thƣơng bởi amphotericin B vì chúng chứa
cholesterol là các phân tử có cấu trúc tƣơng tự nhƣ ergosterol, mặc dù cách
liên kết của amphotericin B với cholesterol hơi khác so với ergosterol.
Màng sinh chất của hầu hết vi khuẩn không chứa sterol nên chúng có
khả năng đề kháng với amphotericin B. Tuy nhiên polyen vẫn có khả năng
kháng vi khuẩn theo các cơ chế khác. Polymycin là một ví dụ, CKS này đƣợc
tạo ra bởi vi khuẩn Bacillus polymyxa có khả năng kháng đặc hiệu với vi
khuẩn G(-). Polymycin phá vỡ màng sinh chất của vi khuẩn bằng cách gắn
vào phospholipid của màng, làm méo mó bề mặt tế bào và thay đổi cấu trúc
của màng dẫn đến sự rò rỉ ra bên ngoài các nội quan của tế bào, gây chết tế
bào.

11



Các tác nhân kháng khuẩn khác có đích tấn công là tiểu phần 50S của
ribosome. Chloramphenicol và một số CKS tƣơng tự phong bế vị trí hoạt
động của enzyme xúc tác cho sự tạo thành liên kết peptide giữa các acid amin
trong chuỗi polypeptide đang kéo dài, ngăn cản sự tạo thành acid amin hoàn
chỉnh. Clindamycin và các tác nhân kháng khuẩn macrolit bao gồm
erythromycin gắn vào tiểu phần 50S ngăn cản sự dịch chuyển của ribosome từ
codon này đến codon kế tiếp. Kết quả là quá trình dịch mã bị cản trở và sự
tổng hợp protein bị dừng lại.
1.1.4.4. Ức chế các con đường trao đổi chất
Hầu hết các CKS loại này đều có cấu trúc tƣơng tự các chất trao đổi
bình thƣờng của tế bào nhƣ acid amin, coemzyme nên đƣợc gọi là các chất
trao đổi tác dụng theo kiểu ức chế cạnh tranh. Ở nhiều VSV acid para –
aminobenzoic (PABA) là cơ chất cho phản ứng enzyme dẫn đến sự tổng hợp
tetrahydrofolic (THF), một dạng của acid folic đóng vai trò nhƣ một
coenzyme cần thiết cho quá trình sinh tổng hợp các purin và purimydin của
acid nucleic. Để tổng hợp THF PABA phải đƣợc acid dihidrofolic (DHF), rồi
từ DHF tổng hợp nên THF nhờ sự có mặt của các coenzyme xúc tác chuyển
PABA thành DHF. Kết quả là sự thiếu hụt DHF đã cản trở sự tổng hợp THF
gây ức chế sinh trƣởng VSV.
Một tác nhân kháng chất trao đổi khác là trimetholprim cũng can thiệp
vào quá trình tổng hợp acid nucleic. Tuy nhiên thay vì gắn vào enzyme
chuyển hóa PABA thành DHF, trimetholprim lại gắn vào enzyme chuyển
DHF thành THF. Các chất kháng chất trao đổi rất có giá trị trong y học vì
chúng ức chế các tế bào vi khuẩn và động vật nguyên sinh mà không tác dụng
lên tế bào ngƣời và động vật. Nguyên nhân là do ngƣời không tổng hợp THF

13


từ PABA nhƣ vi khuẩn mà thay vào đó ngƣời thu nhận các acid folic đơn giản

điều trị bệnh lao do vi khuẩn Mycobacterium tuberculosis gây ra. Clofazimin
gắn với DNA của vi khuẩn Mycobacterium leprae gây bệnh phong và làm cản
trở quá trình sao chép cũng nhƣ phiên mã bình thƣờng của tế bào vi khuẩn.
Nó cũng đƣợc dùng để điều trị bệnh lao và các bệnh truyền nhiễm khác do
các vi khuẩn họ Mycobacteriaceae gây nên.
Các kháng sinh khác lại hoạt động nhƣ các chất trao đổi bằng cách cản
trở chức năng của các acid nucleic. Chúng đƣợc gọi là các chất tƣơng đồng vì
cấu trúc giống với các nucleotide cấu tạo nên các acid nucleic. Chính đặc
điểm đó đã cho phép chúng kết hợp đƣợc với DNA và RNA của vi khuẩn gây
bệnh, làm thay đổi cấu trúc của chúng và dẫn đến làm dừng quá trình sao
chép, phiên mã, dịch mã. Các CKS này thƣờng đƣợc dùng để điều trị các
bệnh do virus gây ra.
1.1.5. Thực trạng kháng kháng sinh của các chủng VSV gây bệnh
Kháng kháng sinh (hay còn gọi là kháng thuốc) là tình trạng các VSV
nhƣ vi khuẩn, virut, nấm và ký sinh trùng thay đổi cách thức làm cho các
thuốc trị bệnh do chúng gây ra trở nên vô hiệu. Vi khuẩn kháng hầu hết kháng
sinh gọi là vi khuẩn siêu kháng thuốc (superbug). Vấn đề kháng thuốc chẳng
còn mới mẻ, nhƣng nó đã trở nên nguy hiểm, cấp bách, đòi hỏi sự nỗ lực hợp
nhất nhằm giúp nhân loại tránh quay ngƣợc lại thời kỳ chƣa có kháng sinh
(năm 1942).
CKS đã đƣợc sử dụng rộng rãi trong việc phòng chống bệnh cho cây
trồng, vật nuôi và bảo quản lƣơng thực, thực phẩm ngay từ những năm 50 –
60 [51], [55]. Đến năm 1980 sản lƣợng CSK trên thế giới khoảng 25.000
tấn/năm. Trong đó sản lƣợng penicillin các loại là 17.000 tấn, tetracylin 5.000
tấn, ... [17]. Đến nay, nhiều vi khuẩn đã kháng với penicillin, do thuốc bị lạm

15


dụng, sử dụng quá mức hay không đúng yêu cầu. Một số vi khuẩn không còn

lan và phát tán nhanh chóng. Hiện tại, các VSV kháng thuốc đang làm suy
yếu cuộc chiến chóng lại bệnh tật, nhƣ bệnh lao và bệnh sốt rét – những bệnh
đã ngăn chặn đƣợc từ nhiều thập kỷ trƣớc. Đồng thời các căn bệnh khác đã có
từ lâu lại đang xuất hiện và có khả năng không có thuốc chữa. Đây là vấn đề
của toàn xã hội. Các nhà nghiên cứu trên toàn thế giới đã và đang nỗ lực hết
sức để tìm ra những giải pháp cho vấn đề này.
1.2. PEPTIDE KHÁNG KHUẨN CECROPIN
1.2.1. Nguồn gốc của peptide kháng khuẩn
Peptide kháng khuẩn (antimicrobial peptide – AMP) còn đƣợc gọi là
peptide bảo vệ vật chủ, là một họ các protein có trọng lƣợng phân tử nhỏ, hoạt
tính kháng khuẩn phổ rộng [25]. Peptide kháng khuẩn là một thành phần bảo
tồn tiến hóa của các phản ứng miễn dịch bẩm sinh và đƣợc tìm thấy trong tất
cả các dạng sống, từ vi khuẩn tới thực vật, từ động vật không xƣơng sống đến
động vật có xƣơng sống, kể cả động vật có vú. Các Peptide kháng khuẩn có
thể tiêu diệt vi khuẩn G(+) và G(-) (bao gồm cả các chủng kháng đƣợc thuốc
kháng sinh thông thƣờng), mycobacteria (cả Mycobacterium gây bệnh lao),
virus, nấm và thậm chí đôi khi cả các tế bào ung thƣ [58].
Hầu hết các cơ quan trong cơ thể đều sản xuất ra peptide kháng khuẩn.
Loại peptide này là hàng rào phòng vệ đầu tiên chống lại sự nhiễm khuẩn,
hình thành nên một phần của hệ thống miễn dịch tự nhiên cho hầu hết mọi cơ
thể sống [14].
Các peptide kháng khuẩn có thể đƣợc kích thích sinh ra trong trƣờng
hợp phản ứng lại với các nguy cơ gây bệnh. Tầm quan trọng của những hoạt
động này trong hệ thống phòng vệ có thể thay đổi với các vùng khác nhau của
cùng một cơ quan cụ thể, cũng nhƣ đối với các cơ quan khác nhau. Cho tới

17


hiện tại, hàng trăm loại peptide kháng khuẩn đã đƣợc phát hiện, và chứng


18


Peptide kháng khuẩn đƣợc phân lập từ nhiều loài động vật có xƣơng
sống, bao gồm cá, lƣỡng cƣ, động vật có vú và nó có vai trò quan trọng trong
việc bảo vệ cơ thể. Hoạt động kháng khuẩn trực tiếp liên quan đến peptide
kháng khuẩn ở động vật có xƣơng sống có nhiều mức độ khác nhau phụ thuộc
vào điều kiện sinh lý. Ngoài ra các peptide kháng khuẩn còn tham gia điều
hòa miễn dịch và kiểm soát viêm nhiễm. Chúng đƣợc tìm thấy ở những vị trí
thƣờng xuyên gặp tác nhân gây bệnh nhƣ niêm mạc, da và các tế bào miễn
dịch. Cathelicidins là một nhóm lớn và đa dạng trong các peptide kháng
khuẩn ở động vật có xƣơng sống. Chúng đặc trƣng bởi đầu tận cùng NH 2 bảo
thủ và bị cắt trong quá trình hoàn thiện, hoạt động của chúng chủ yếu phụ
thuộc vào đầu COOH. Do đó, hầu hết cathelicidins đƣợc dự trữ ở trạng thái
không hoạt động trong các tế bào miễn dịch, chủ yếu là trong bạch cầu trung
tính. Cấu trúc của cathelicidins trƣởng thành rất đa dạng: xoắn

gấp nếp

giàu proline/arginine. Cathelicidins đƣợc phân lập từ nhiều loài động
vật có vú nhƣ chuột, thỏ, cừu, ngựa, và con ngƣời [26].
1.2.3. Cấu tạo của peptide kháng khuẩn
Peptide kháng khuẩn là một nhóm các phân tử đa dạng và độc đáo,
thƣờng có khoảng 12-50 axit amin, tích điện dƣơng, là phân tử lƣỡng tính (có
cả tính ƣa nƣớc và kị nƣớc). Chúng đƣợc chia thành các phân nhóm dựa trên
cơ sở thành phần và cấu trúc các axit amin. Những peptide này bao gồm hai
hoặc nhiều chuỗi giàu arginine, lysine (trong môi trƣờng axit có histidine) và
một tỷ lệ lớn (thƣờng trên 50%) các phần kỵ nƣớc [38], [58].
Peptide kháng khuẩn có 4 dạng cấu trúc chính: peptide lƣỡng tính (có

kích thƣớc phù hợp, Peptide kháng khuẩn chèn vào lớp màng lipid kép, hình
thành các kênh vận chuyển tự do dẫn đến làm dung giải màng tế bào vi khuẩn
[58].

/>
Hình 2. Mô hình hoạt động kháng khuẩn của các peptide kháng khuẩn
(Theo mô hình hoạt động của các peptide kháng khuẩn xoắn anpha, được đề xuất
bởi Phòng thí nghiệm Các peptide kháng khuẩn, khoa Hóa sinh học – Lý sinh học
và các Cao phân tử hóa học, trường Đại học Trieste, Italy)[58].

21


Một số mô hình khác nhau đã đƣợc đề xuất để giải thích làm thế nào
sau khi tiếp xúc, các peptide kháng khuẩn có thể chèn vào màng tế bào vi
khuẩn và tạo thành những lỗ trên màng, làm thay đổi tính thấm của màng.
Tính lƣỡng tính của peptide kháng khuẩn là chìa khóa quan trọng cho quá
trình này, các khu vực kị nƣớc tƣơng tác trực tiếp với các thành phần lipid của
màng tế bào, trong khi vùng ƣa nƣớc tƣơng tác với các nhóm đầu
photpholipid hoặc với các lỗ màng [26].
Khi xâm nhập vào tế bào, peptide kháng khuẩn liên kết với các thành
phần quan trọng trong tế bào, kích hoạt giải phóng enzyme tự phân giải, ức
chế tổng hợp DNA, RNA cũng nhƣ protein và ức chế hoạt động của một số
enzyme nhất định. Tuy nhiên, trong nhiều trƣờng hợp, cơ chế chính xác còn
chƣa biết đến [18].
Mô hình “tập hợp” (Hình 3A), peptide kháng khuẩn di chuyển qua
màng khi tập hợp với các mixen (vi hạt) – giống nhƣ phức hợp của peptide và
lipid. Mô hình “lỗ hình xuyến” (Hình 3B) đề xuất rằng peptide kháng khuẩn
chèn vuông góc với bề mặt màng với vùng ƣa nƣớc liên kết với đầu
photpholipid trong khi vùng kị nƣớc liên kết với lõi lipid. Trong quá trình


Peptide kháng khuẩn buforin II ở ếch di chuyển qua màng vi khuẩn và
gắn vào cả DNA và RNA trong tế bào chất vi khuẩn E.coli [26]. Tƣơng tự
peptide xoắn

nhƣ pleurocidin – một peptide kháng khuẩn có nguồn gốc từ

cá, và dermaseptin từ da ếch gây ức chế tổng hợp DNA và RNA mà không
gây mất ổn định màng tế bào E.coli (Hình 3E). Ức chế tổng hợp axit nucleic
cũng đƣợc chứng minh ở các nhóm Peptide kháng khuẩn khác nhƣ defesin
(cấu trúc gấp

) ở ngƣời, và indolicidin (cấu trúc mở rộng) ở bò [52].

Hơn nữa, một số eptide kháng khuẩn can thiệp vào quá trình tổng hợp
protein (Hình 3F). Hoạt tính ức chế hoạt động của enzyme: pyrhocidin đi vào
tế bào đích, liên kết với DNAK – một protein liên quan đến quá trình gấp
protein. Cụ thể, peptide ức chế hoạt động ATPase của DNAK, ngăn chặn
cuộn gấp protein dẫn đến tích tụ protein không biến đổi và tế bào chết (Hình
3G) [29], [42].
Peptide kháng khuẩn cũng ngăn cản quá trình hình thành các thành
phần của tế bào nhƣ thành peptidoglycan (Hình 3I). Vi khuẩn tổng hợp nên
các lantibiotic mersacidin ngăn cản quá trình chuyển glycoside của lipid II,
bƣớc cần thiết trong tổng hợp peptidoglycan [26]. Nisin, một lantibiotic khác,
cũng liên kết với lipid II do đó ức chế tổng hợp thành tế bào. Ngăn cản tổng
hợp peptidoglican cũng là đích tác động của vancomycin, nhƣng nisin tƣơng
tác với các phân tử riêng biệt trong lipid II do đó chúng vẫn hoạt động chống
lại vi khuẩn kháng vancomycin [15], [31].

24


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status