Nội dung
Trang
Trang bìa
Thông tin cá nhân
Mục lục
1. PHẦN MỞ ĐẦU
1.1 Lý do chọn đề tài
1.2. Điểm mới của đề tài.
1.3. Phạm vi đề tài.
2. PHẦN NỘI DUNG
2.1. Thực trạng dạy và học cảm thụ văn học thông qua việc phân tích
giá trị biểu cảm của các biện pháp NTTT trong chương trình ngữ văn 6.
2.2. Nguyên nhân của thực trạng
2.3. Giải pháp (Nội dung đề tài, SKKN, ...)
3. KẾT LUẬN
1.Ý nghĩa đề tài
2. Những kiến nghị, đề xuất
TÀI LIỆU THAM KHẢO
MỤC LỤC
1. PHẦN MỞ ĐẦU
1.1. Lí do chọn đề tài.
Văn học là một bộ môn nghệ thuật sáng tạo ngôn từ đầy giá trị. Có thể coi
mỗi tác phẩm văn học là một viên ngọc sáng trong cuộc sống. Nó bay bổng tạo
nên những khúc nhạc làm cho cuộc sống đời thường thêm chất thơ. Vậy làm
thế nào cho học sinh mình cảm nhận được chất thơ của cuộc sống muôn hình
1
tu từ là một trong những phương pháp giúp học sinh cảm thụ tác phẩm văn học
một cách tốt nhất. Từ việc nắm bắt lí thuyết đến quá trình vận dụng trong từng
bài tập cụ thể sẽ giúp học sinh phát huy tối đa và có hiệu quả việc cảm thụ văn
học qua những đoạn thơ, đoạn văn cụ thể.
Nói đến biện pháp nghệ thuật tu từ đó là phạm vi khá rộng rãi và các em
đã được làm quen ở bậc tiểu học như so sánh, nhân hóa…Tuy vậy ở tiểu học
các em chỉ mới dừng lại ở mức độ phát hiện, nhận diện chúng thông qua một
số ví dụ cụ thể chứ chưa biết vận dụng vào phân tích giá trị biểu cảm của các
biện pháp nghệ thuật tu từ để viết nên những đoạn văn, bài văn hay. Chính vì
vậy hầu hết các em thường lệ thuộc nhiều vào những bài văn mẫu, bài viết của
các em thường mang tính rập khuôn, thiếu tư duy, sáng tạo, thiếu dấu ấn cá
nhân.
Bước vào lớp 6 là lớp đầu cấp, các em còn nhiều bỡ ngỡ với phương pháp
học ở THCS đặc biệt là việc tiếp cận phương pháp học tập bộ môn Ngữ văn
hoàn toàn mới so với tiểu học.
2
Là một giáo viên nhiều năm liền được được phân công dạy lớp đầu cấp
tôi nhận thấy: Đa số các em nắm các biện pháp tu từ chưa chuẩn xác, còn bị
nhầm lẫn giữa các phép tu từ với nhau dẫn đến hiểu sai, vận dụng sai.
Một số em khả năng vận dụng, phân tích giá trị của các biện pháp nghệ
thuật tu từ trong một số đoạn thơ, đoạn văn còn nhiều hạn chế. Nhiều em trong
quá trình viết bài tập làm văn hầu như các em rất ít khi sử dụng biện pháp nghệ
thuật tu từ vào bài viết. Chính vì thế bài văn thường rất khô khan, các hình
ảnh, sự vật được đề cập đến còn đơn điệu tẻ nhạt, thiếu sức thuyết phục.
Để giúp các em phát huy được năng lực cảm thụ văn học thông qua việc
phân tích giá trị của các biện pháp nghệ thuật tu từ trong những đoạn văn thơ
cụ thể và biết cách vận dụng linh hoạt, thành thạo các biện pháp tu từ trong khi
viết bài tập làm văn, giúp các em học tốt hơn bộ môn Ngữ văn 6 tôi mạnh dạn
thụ văn học một cách sâu sắc hơn.
Việc áp dụng phương pháp mới này trong dạy học của bản thân và đồng
nghiệp đã có nhiều sự thay đổi theo chiều hướng tích cực.
1.3. Phạm vi áp dụng của đề tài .
Việc khai thác các biện pháp NTTT trong chương trình Ngữ văn ở bậc
THCS chiếm một vị trí rất quan trọng, nội dung đa dạng, phong phú. Song
trong điều kiện thời gian có hạn, với đề tài này tôi chỉ nghiên cứu trong phạm
vi kiến thức các biện pháp NTTT (so sánh, nhân hóa, ẩn dụ, hoán dụ)) ở
chương trình Ngữ văn lớp 6.
Sáng kiến kinh nghiệm được áp dụng nghiên cứu thực hiện tại lớp 6A,B
trường THCS nơi tôi đang trực tiếp giảng dạy.
2. NỘI DUNG
2.1. Thực trạng trong việc dạy và học cảm thụ văn học thông qua các
biện pháp nghệ thuật tu từ trong chương trình Ngữ văn lớp 6.
Nhìn một cách bao quát, việc dạy học bộ môn Ngữ văn ở lớp đầu cấp
hiện nay ở nhà trường chúng tôi đã có một số chuyển biến khá tích cực so với
những năm trước đây. Chất lượng giờ lên lớp, chất lượng chấm bài đã có
4
những tiến bộ nhất định. Đặc biệt một bộ phận giáo viên- nhất là những người
vừa có trình độ, vừa có tâm huyết với nghề đã có ý thức tìm tòi, thể hiện
phương pháp giảng dạy mới và ít nhiều họ đã gặt hái được những thành quả
bước đầu rất đáng trân trọng.
Bên cạnh đó các em học sinh lớp 6 nhìn chung rất ngoan, biết nghe lời, có
ý thức xây dựng nề nếp học tập tốt.
Tuy vậy để nhìn nhận một cách thấu đáo việc dạy học và tiếp cận bộ môn
Ngữ văn lớp 6, đặc biệt là phương pháp rèn kĩ năng cảm thụ văn học cho học
sinh thông qua các biện pháp nghệ thuật tu từ, tôi nhận thấy trong quá trình
2.1.2.Về phía học sinh:
Khi tìm hiểu cụ thể từng đối tượng học sinh, tôi nhận thấy: Đa số học sinh
chưa yêu thích môn văn, hiểu tác phẩm văn học không sâu sắc. Giờ học văn
luôn trở thành nỗi lo sợ, nặng nề về mặt tâm lí ở một số học sinh.
Hầu hết năng lực cảm thụ văn học của các em còn nhiều hạn chế, việc
nắm bắt, nhận diện các biện pháp nghệ thuật tu từ còn nhầm lẫn dẫn đến việc
hiểu sai hoặc hiểu chưa rõ về giá trị nghệ thuật cũng như nội dung của các
phép tu từ. Đặc biệt khả năng vận dụng các kiến thức đã học về biện pháp
NTTT vào việc phân tích ý nghĩa văn bản và tạo lập một số đoạn văn, bài văn
còn gặp nhiều khó khăn, bỡ ngỡ.
Nhiều em vốn từ nghèo, kĩ năng diễn đạt vụng về, lười suy nghĩ, lệ thuộc
nhiều vào sách tham khảo, vào các bài văn mẫu.
Một số em thiếu ý thức học tập, chưa xác định được động cơ học tập rõ
ràng, việc học bài và làm bài còn qua loa, đối phó.
Một số em do hoàn cảnh gia đình khó khăn nên điều kiện học tập còn
nhiều thiếu thốn cũng làm ảnh hưởng không nhỏ đến chất lượng giờ dạy.
Dẫu biết rằng “có bột mới gột nên hồ” nên ngay từ khi nhận lớp tôi đã
tiến hành phân loại đối tượng học sinh. Kết quả khảo sát chất lượng và yêu
thích môn văn của học sinh vào đầu năm của học sinh như sau:
a. Học sinh yêu thích môn học
Yêu thích: 25%
Bình thường: 32,21%
Không
42,79%
b. Kết quả khảo sát chất lượng :
TT
2,8
4,2
SL
10
09
19
%
28,6
25,0
26,8
TB
SL
15
16
31
Yếu
%
42,9
44,4
43,7
SL
08
10
18
27,8
25,4
huyết với nghề, thiếu sự đầu tư cho bài dạy nên chưa khơi dậy được mạch
nguồn cảm xúc sau mỗi bài học, chưa truyền được ngọn lửa đam mê văn
chương đến trái tim người học.
Một nguyên nhân khách quan khác là do sĩ số lớp học khá đông nên rất
khó cho giáo viên trong việc theo sát, kèm cặp từng đối tượng học sinh trong
một tiết dạy.
Bên cạnh đó do trường học nằm trên địa bàn thuộc vùng khó khăn, đa số
các em đều là con gia đình thuần nông nên ngoài giờ học trên lớp các em còn
phải phụ giúp gia đình vì thế phần nào ảnh hưởng đến chất lượng học tập.
2.3. Giải pháp
2.3.1. Rèn kĩ năng nhận biết và phân tích tác dụng của các biện pháp nghệ
thuật tu từ trong một số đoạn thơ, văn.
Một trong những biện pháp giúp học sinh có năng lực cảm thụ văn học tốt
là giúp các em nhận biết được các biện pháp nghệ thuật tu từ và tác dụng của
nó trong các tác phẩm văn học. Các biện pháp NTTT thường gặp trong các bài
văn, bài thơ ở chương trình Ngữ văn lớp 6 đó là : So sánh, nhân hóa, ẩn dụ,
hoán dụ. Để cảm thụ văn học thông qua việc khai thác, phân tích giá trị biểu
cảm của các biện pháp NTTT trong một số bài, đoạn văn, thơ cụ thể đòi hỏi
học sinh thực hiện tốt các yêu cầu sau đây:
Hiểu được khái niệm, cấu tạo về các biện pháp NTTT (So sánh, nhân hóa,
ẩn dụ, hoán dụ).
Phát hiện những tín hiệu nghệ thuật được tác giả thể hiện trong bài văn,
bài thơ. (các từ ngữ, hình ảnh tiêu biểu, đặc sắc). Thông qua hệ thống câu hỏi
xoáy vào trọng tâm nội dung cần khai thác giúp học sinh nhận diện đúng
những biện pháp nghệ thuật tu từ được sử dụng. Để làm tốt được điều đó tôi
hướng dẫn các em cần:
* GV định hướng cho sinh cảm nhận được: Quê hương là cái trừu tượng
được so sánh với chùm khế ngọt, là hình ảnh quen thuộc, gần gũi với làng quê,
gắn bó với con người Việt Nam. Đặc biệt là gắn liền với những kĩ niệm của
thời thơ ấu mỗi người. Nhà thơ Đỗ Trung Quân đã biến cái vô hình thành cái
hữu hình. Một sự so sánh bề ngoài thì “ nổi” thì “ ngang bằng” nhưng thực ra
lại là “ chìm”, là “không ngang bằng”. Quả thật quê hương là tất cả, mỗi người
có thể cảm nhận về quê hương theo những cảm xúc, kí ức riêng. Qua đó cho ta
thấy hình ảnh quê hương trong tâm trí của người Việt nam nói chung và trong
lòng nhà thơ nói riêng luôn gần gũi, thanh bình và không bao giờ quên được.
9
Ví dụ 2: “ Dượng Hương Thư như một pho tượng đồng đúc, các bắp thịt
cuồn cuộn, hai hàm răng cắn chặt, quai hàm bạnh ra, cặp mắt nảy lửa ghì
trên ngọn sào giống như một hiệp sĩ của Trường Sơn oai linh, hùng vĩ”
*Học sinh xác định được :
Biện pháp nghệ thuật được sử dụng trong câu thơ trên là : Nghệ thuật so sánh
Hình ảnh so sánh :
Dượng Hương Thư như một pho tượng đồng đúc…
Dượng Hương Thư giống như một hiệp sĩ của Trường Sơn oai linh, hùng
vĩ.
* GV định hướng viết đoạn văn cảm thụ: (Thông qua hình ảnh so sánh đó
dượng Hương Thư hiện lên như thế nào? )
Hình ảnh dùng để so sánh này gợi cho người đọc liên tưởng đến vẻ đẹp thể
chất khỏe mạnh, rắn rỏi và sự dũng mãnh, quả cảm của dượng Hương Thư như
một người anh hùng khi vượt thác. Có thể coi đây là hình ảnh so sánh đẹp
nhất, độc đáo nhất góp phần đề cao sức mạnh của con người lao động trên
sông nước miền Trung đồng thời vừa biểu hiện tình cảm quý trọng của tác giả
đối với người lao động trên quê hương của mình. Và thông qua hình ảnh dùng
chỗ nào? hay ở chỗ nào?
- Trẻ em- búp trên cành.
Trẻ em và búp non đều đang lớn,
đang phát triển. Hình ảnh đưa ra
làm chuẩn để so sánh (búp trên
cành) rất đẹp và ý nghĩa, giúp ta
- Ở câu 2 tác giả so sánh bà với
liên tưởng đến trẻ em chan chứa hy
gì? - So sánh ấy đúng và hay ở
vọng.
chổ nào?
- Bà - quả ngọt chín
Bà và quả ngọt đều có lâu rồi, già
rồi. Hình ảnh đưa ra làm chuẩn để
so sánh (quả ngọt chín rồi) giúp ta
liên tưởng đến hình ảnh bà rất đáng
quý có ích cho cuộc sống.
- Học sinh đọc kĩ đề bài.
* Giáo viên sửa chữa, uốn nắn cho học sinh:
Ví dụ: Bằng nghệ thuật so sánh giúp ta hiểu kĩ và hiểu sâu hơn đối tượng đem
so sánh. Đối tượng đem so sánh ở hai câu trên là hoàn toàn đúng và hay.
Mặc áo giáp đen
Ra trận
Muôn nghìn cây mía
Múa gươm
Kiến
Hành quân
Đầy đường.”
( Mưa- Trần Đăng Khoa.)
Hãy nêu những cảm nhận của em về nét độc đáo của cảnh vật trước cơn mưa
được gợi tả trong đoạn thơ trên.
* Học sinh xác định được :
Nghệ thuật được sử dụng : Nghệ thuật nhân hóa .
* GV định hướng học sinh cảm nhận :
12
Đọc đoạn thơ ta có cảm giác như sắp có một trận chiến dữ dội xảy ra trong trời
đất. Từ ông trời đến nghìn cây mía, đàn kiến, tất cả đều ra trận, đều múa
gươm, đều hành quân. Hình ảnh ông trời mặc áo giáp đen chính là cảnh những
đám mây đen che phủ cả bầu trời như một lớp áo giáp của một dũng tướng ra
trận. Hình ảnh muôn nghìn cây mía lá sắc, nhọn quay cuồng trong cơn gió
được hình dung như những lưỡi gươm khua lên trong tay các chiến sĩ của một
đội quân đông đảo. Kiến từng hàng kéo đi như những chiến sĩ đang hành quân
khẩn trương. Quả thật với việc sử dụng thành công nghệ thuật nhân hóa tác giả
đã thổi linh hồn con người vào những sự vật (ông trời, mía ,kiến) làm cho
chúng mang những đặc điểm, hành động của con người. Và tài tình hơn là các
hình ảnh nhân hóa được “liệt kê” nối tiếp nhau nhưng không nhàm chán mà
càng làm cho bức tranh “Mưa” hiện lên sống động như thật. Cả thế giới thiên
mạnh nào. “Tre xanh không đứng khuất mình bóng râm”. Nó yêu bầu trời biết
bao nhiêu, bầu trời trong xanh, hiền hòa sắc nắng, nó vươn lên đầy ý chí và tạo
cho mình một ý chí hiên ngang, bất khuất. Cuộc sống còn kham khổ nhưng
không thể át được niềm vui, niềm lạc quan trong cuộc sống “cây kham khổ
vẫn hát ru lá cành”. Tiếng gió vi vu, tiếng sáo diều rộn rã hay đó chính là tiếng
hát ngợi ca cuộc sống thanh bình. Tre vẫn đứng đấy hiên ngang và bất khuất,
dù cho gió táp, mưa sa, dù cho gió giật bão bùng, tre vẫn đoàn kết, gắn bó bên
nhau “tay ôm tay níu tre gần nhau thêm”.
Từ tình yêu thương gắn bó đoàn kết tre trở thành bức tường thành vững
chắc bảo vệ quê hương.
Như vậy chỉ bằng một đoạn thơ ngắn Nguyễn Duy đã thổi linh hồn con
người vào cây tre, làm cho nó hiện lên như những con người thực thụ mang
những nét phẩm chất đáng quý của con người Việt Nam
Từ các ví dụ đó, giáo viên định hướng cho các em khi sử dụng nghệ thuật
nhân hóa hợp lý sẽ tạo cho sự vật vô tri trở nên sinh động, gợi hình ảnh biểu
cảm . Qua đó giáo dục các em biết vận dụng biện pháp nhân hóa vào viết văn
miêu tả làm cho câu văn, bài văn hay và sáng tạo hơn.
c, Phép tu từ ẩn dụ
14
Giúp các em hiểu thế nào là nghệ thuật ẩn dụ. Biết tìm những câu văn, thơ có
sử dụng nghệ thuật ẩn dụ. Từ đó hiểu được tác dụng của việc sử dụng phép tu
từ ẩn dụ trong văn, thơ.
- Ẩn dụ là gọi tên sự vật, hiện tượng này bằng tên sự vật, hiện tượng khác có
nét tương đồng với nó nhằm tăng sức gợi hình, gợi cảm cho sự diễn đạt.
Ví dụ 1:
“Thuyền về có nhớ bến chăng
ảnh so sánh ngầm sâu sắc, tế nhị giúp người đọc hình dung ra hình ảnh Bác Hồ
(nghĩa bóng) là một con người rực rỡ, ấm áp như ánh mặt trời xua tan màn
đêm nô lệ, soi sáng và dẫn dắt dân tộc Việt Nam ta suốt những năm tháng
chống Pháp, chống Mỹ và tiến lên chủ nghĩa xã hội.Thông qua hình ảnh ẩn dụ
này tác giả bộc lộ tình cảm yêu mến, khâm phục vị lãnh tụ vĩ đại của dân tộc
Việt Nam.
Từ ví dụ đó, giáo viên giúp các em hiểu được khi sử dụng nghệ thuật ẩn dụ
hợp lý sẽ tạo cho sự vật trở nên sinh động, gợi hình ảnh biểu cảm. Qua đó
giáo dục các em biết vận dụng biện pháp ẩn dụ vào viết văn miêu tả làm cho
câu văn, bài văn hay và sáng tạo hơn.
d, Phép tu từ hoán dụ
Giúp các em hiểu thế nào là nghệ thuật hoán dụ. Biết tìm những câu văn, thơ
có sử dụng nghệ thuật hoán dụ .Từ đó hiểu được tác dụng của việc sử dụng
phép tu từ hoán dụ trong văn, thơ.
Hoán dụ là gọi tên sự vật, hiện tượng, khái niệm bằng tên của một sự vật,
hiện tượng, khái niệm khác có quan hệ gần gũi với nó nhằm tăng sức gợi hình,
gợi cảm cho sự diễn đạt.
Ví dụ 1:
“Bàn tay ta làm nên tất cả
Có sức người sỏi đá cũng thành cơm”
* Học sinh xác định được :
Nghệ thuật được sử dụng : Nghệ thuật hoán dụ
Hình ảnh ẩn dụ :
+ Bàn tay: chỉ sức lao động của con người
+ Sỏi đá: chỉ những gian khổ, khó khăn
+ Cơm: chỉ những thành quả đạt được.
chia tay giữa người ra đi và người ở lại trong câu thơ của Tố Hữu cho ta hình
dung một tình cảm lặng lẽ nhưng bình dị, tha thiết.
17
Từ các ví dụ đó, giáo viên định hướng cho các em khi sử dụng nghệ thuật
hoán dụ hợp lý sẽ tạo cho sự vật trở nên sinh động, gợi hình, gợi cảm, nêu bật
được những đặc điểm của người, sự vật được nói đến. Qua đó giáo dục các
em biết vận dụng biện pháp hoán dụ vào viết văn miêu tả làm cho câu văn,
bài văn hay và sáng tạo hơn.
2.3.2. Rèn luyện kỹ năng đặt câu, viết đoạn văn, bài văn có sử dụng các biện
pháp nghệ thuật tu từ.
Đây là một trong những yếu tố cần thiết đối với mỗi học sinh khi viết
bài tập làm văn, đặc biệt là văn miêu tả. Việc vận dụng linh hoạt các biên pháp
nghệ thuật đã được học vào các bài viết tập làm văn sẽ góp phần giúp các em
phát huy tối đa năng lực cảm thụ văn học, đồng thời làm cho bài viết trở nên
sinh động và sáng tạo hơn. Mỗi một câu văn, đoạn văn giáo viên cần định
hướng, kích thích các em tìm, viết những lời văn hay, cho các em luyện tập
diễn đạt bằng hình thức giáo viên đưa ra một loạt hình ảnh, yêu cầu học sinh
dùng lời văn kết hợp biện pháp nghệ thuật so sánh, nhân hoá...sử dụng những
từ láy gợi hình gợi cảm để diễn đạt .
Câu văn, đoạn văn cần được diễn đạt một cách hồn nhiên, trong sáng và bộc
lộ cảm xúc chân thành; biết vận dụng linh hoạt, khéo léo các biện pháp nghệ
thuật tu từ, cần tránh mắc các lỗi về chính tả, dùng từ, đặt câu; tránh diễn giải
dài dòng hoặc sa vào phân tích quá kĩ.
* Rèn kĩ năng viết những câu văn sinh động, gợi cảm, giàu hình ảnh và
nhạc điệu:
Muốn viết được câu văn hay, ngoài việc dùng từ chính xác, câu văn cần phải
có hình ảnh. Có hình ảnh, câu văn sẽ có màu sắc, đường nét, hình khối,...
nhiều cách như sau :
- Con sông nằm uốn khúc giữa cánh đồng xanh mướt lúa khoai. (Vẻ đẹp thuần
tuý).
- Con sông khoan thai nằm phơi mình trên cánh đồng xanh mướt lúa khoai.
(Vẻ đẹp khoẻ khoắn).
- Con sông hiền hoà chảy qua cánh đồng xanh mướt lúa khoai. ( Vẻ đẹp hiền
hoà).
- Con sông lặng lẽ dấu mình giữa cánh đồng xanh mướt lúa khoai. (Vẻ đẹp
trầm tư).
19
Như vậy, ý của câu văn hoàn toàn phụ thuộc vào ngụ ý của người viết.Với mỗi
một cách diễn đạt khác nhau lại cho một giá trị biểu cảm khác nhau.
*Rèn kĩ năng viết đoạn văn
Cái hay của một đoạn văn thể hiện rõ nét nhất ở ý. Ý càng mới mẻ, càng sâu
sắc, độc đáo thì đoạn văn càng có sức thuyết phục. Ý phải diễn đạt thành lời. Ý
hay mà không biết cách diễn đạt thì lời văn trở nên sáo rỗng. Lời văn hay là lời
văn chân thành, trong sáng, giản dị, có hình ảnh, có âm thanh, có nhạc
điệu,...và có cách sắp xếp (bố cục) chặt chẽ. Đặc biệt là phải biết vận dụng linh
hoạt các biện pháp tu từ vào bài làm.
Trên cơ sở rèn luyện kĩ năng đặt câu, giáo viên định hướng cho học sinh viết
đoạn văn miêu tả có sử dụng các biện pháp nghệ thuật tu từ thông qua một số
bài tập cụ thể.
Bài 1: Hãy viết một đoạn văn (từ 5-7 câu) tả cảnh hoặc tả cây cối có sử dụng
các biện pháp tu từ đã học, có câu mở đầu là:
a) Mỗi khi mùa xuân về...
b) Mùa hè sang...
c) Thu đến...
d) Khi trời chuyển mình sang đông...
Trăng tuôn suối mát để những tâm hồn khao khát ngụp lặn”.
Dựa vào hiểu biết về bầu trời, ánh trăng em hãy viết một đoạn văn tả cảnh đẹp
của bầu trời đêm trung thu có sử dụng các biện pháp tu từ so sánh, nhân hóa.
Đoạn văn tham khảo.
Vầng trăng vàng thẳm đang từ từ nhô lên sau lũy tre làng xanh thẫm. Trăng
tuôn chảy những ánh vàng trên khắp làng quê, trăng dào dạt cùng sóng lúa,
trăng tắm đẫm rặng tre rì rào trong gió. Trăng lẫn trốn trong tán lá xanh rì rào
của cây đa đầu thôn. Trăng lai láng trong vườn chuối dõi theo mấy cô cậu tí
hon đang chơi trận giả. Trăng đi đến đâu nơi ấy bừng lên tiếng cười rộn rã.
Trăng tinh nghịch đậu vào ánh mắt của các anh chị thanh niên. Trăng vờn lên
má các em thiếu nhi. Trăng ôm ấp mái tóc bạc phơ của các cụ già. Trăng đẹp
xiết bao! Trăng ùa vào lòng người khơi dậy tình yêu cuộc sống.
* Rèn kĩ năng viết bài văn:
Trên cơ sở rèn kĩ năng đặt câu, viết đoạn văn có sử dụng các biện pháp nghệ
thuật tu từ đã học, tôi hướng dẫn cho các em vận dụng vào viết hoàn chỉnh một
21
bài làm văn. Kĩ năng này được vận dung thực hiện trong nhiều tiết viết bài
TLV ở nhà và ở lớp. Ngoài ra có thể lồng ghép vào các tiết thực hành luyện
đề cụ thể...
2.3.3. Tạo hứng thú cho học sinh khi tiếp xúc với văn thơ.
Để giúp các em cảm thụ tốt văn học người thầy giáo phải làm cho học sinh có
hứng thú và niềm say mê học văn. Không yêu thích văn học thì tâm hồn người
học sinh không thể rung động được trước vẻ đẹp của ngôn từ, vẻ đẹp tâm hồn
nhà văn. Trau dồi hứng thú khi tiếp xúc với thơ văn chính là giúp các em tự
rèn luyện mình để có nhận thức đúng, tình cảm đẹp, từ đó đến với văn học một
cách tự giác và say mê. Khi gặp bất kì tác phẩm văn học nào tự bản thân các
em sẽ phải trăn trở, suy tư và luôn hướng tâm hồn, tình cảm của mình đến với
tác phẩm. Để làm tốt điều này đòi hỏi mỗi giáo viên qua từng bài giảng cần có
qua hoạt động và quan sát cuộc sống hằng ngày.
Trong các giờ học bộ môn Ngữ văn đòi hỏi người giáo viên phải luôn
luôn chú ý đến việc liên hệ thực tế cuộc sống với văn học giúp các em hình
thành được kĩ năng vận dụng thực tế cuộc sống với văn học, đồng thời qua đó
giúp các em tích lũy được vốn hiểu biết về thực tế cuộc sống với văn học.
Nhớ lại quãng đời học văn tuổi nhỏ, giáo sư Lê Trí Viễn đã rút ra nhận
xét quí báu: “Trong thơ văn hay chữ nghĩa ngoài cái gọi là nội dung giao tiếp
thông thường của nó, còn có vốn sống của cuộc đời nghìn năm bồi đắp lại”.
Do vậy bên cạnh vốn hiểu biết về thực tế cuộc sống, các em còn cần tích lũy
cả vốn hiểu biết về văn học thông qua việc đọc sách báo thường xuyên. Từ đó
giúp các em mở rộng tầm nhìn cuộc sống, khơi sâu những suy nghĩ và cảm
xúc, góp phần khơi dậy năng lực cảm thụ văn học.
Có thể thấy qua quá trình dạy học của bản thân, tôi đã sử dụng các giải pháp
trên vào đổi mới phương pháp dạy học nhằm phát huy năng lực sáng tạo, chủ
động của học sinh cũng như góp phần nâng cao chất lượng dạy và học bộ môn
Ngữ văn 6 . Sau khi đề ra một số biện pháp thực hiện như vậy và để kiểm
nghiệm hiệu quả của các giải pháp trên, tôi đã tiến hành kiểm tra kết quả học
tập của học sinh. Các em làm khá tốt, số lượng học sinh khá giỏi tăng. Sau đây
là bảng đối chứng về kết quả học tập của các em.
a. Học sinh yêu thích môn học
Yêu thích: 46%
Bình thường: 48,7%
23
Không thích: 5,3 %
b. Kết quả khảo sát chất lượng:
TT Lớp
05
06
11
%
14,3
16,7
15,5
Như vậy để giúp học sinh yêu thích môn học, rèn luyện tốt kĩ năng cảm
thụ văn học là một việc làm đòi hỏi tất cả giáo viên dạy lớp đầu cấp phải có
lòng kiên trì không được nóng vội. Bởi vì có những học sinh tiến bộ ngay
trong vài tuần nhưng cũng có những học sinh sự tiến bộ diễn ra rất chậm,
không phải vài tuần mà có khi vài tháng, thậm chí cả học kì. Nếu giáo viên
không biết chờ đợi, nôn nóng thì khó thành công.
3. KẾT LUẬN
3.1. Ý nghĩa đề tài
Trong suốt quá trình vận dụng, khai thác các biện pháp nghệ thuật tu từ
vào việc cảm thụ văn học tôi nhận thấy các em chăm chú theo dõi, hào hứng
phát biểu bài, khi viết bài đạt được kết quả cao. Hầu hết các em đã biết vận
dụng các biện pháp nghệ thuật tu từ đã được học vào bài viết, khả năng cảm
thụ văn học được nâng lên, câu văn thể hiện được cảm xúc, trình bày lô gíc
khoa học. Các bài tập ứng dụng các em đều làm tốt, có sự sáng tạo theo cách
cảm nhận của riêng mình. Ban đầu các em rất ngại tiếp xúc với văn thơ nhưng
giờ đây các em rất có hứng thú tiếp xúc với văn thơ để được cảm nhận cái hay,
cái đẹp trong văn thơ, từ đó các em tích luỹ được vốn hiểu biết về văn thơ giúp
các em thêm yêu cuộc sống, yêu quê hương đất nước.
Quả thật học văn, làm văn là một năng lực tổng hợp, là quá trình bền bỉ
dày công học tập, trau dồi lâu ngày, đó là chưa nói đến năng khiếu. Song dù có
năng khiếu ít hay nhiều thì sự nhẫn nại, kiên trì rèn luyện trong học tập vẫn là
phục vụ tốt nhất cho việc dạy học bộ môn Ngữ văn trong nhà trường.
Đối với các đồng chí phụ trách chuyên môn cần tạo điều kiện mở thêm
những lớp chuyên đề hoặc phổ biến những kinh nghiệm giảng dạy, những sáng
25