kiến thức cơ bản về các tác phẩm văn học lớp 12 - Pdf 40

Tài liệu gửi tặng học sinh- Cô Thu Trang

KIẾN THỨC CƠ BẢN VỀ CÁC TÁC PHẨM 12
1. TUYÊN NGÔN ĐỘC LẬP- HỒ CHÍ MINH
TNĐL là một tác phẩm chứa nhiều giá trị. Nhìn từ nhiều góc độ khác
nhau, giá trị nào của tác phẩm này cũng thật sâu sắc. Về mặt thể loại văn
học, Tuyên Ngôn Độc Lập là một áng văn chính luận hào hùng, mẫu
mực, đáng lưu truyền muôn thuở. Một trong những nét nổi bật của bản
Tuyên Ngôn Độc Lập là sự lập luận sắc sảo, chặt chẽ tạo nên một sức
thuyết phục rất lớn. Xuất phát từ quan điểm sáng tác và đặc trưng thể loại
của tác phẩm này, chúng ta sẽ thấy được cội nguồn của sức thuyết phục
ấy.
Như mọi người đều biết, Tuyên Ngôn Độc Lập là một tác phẩm chính
luận. Văn chính luận thuyết phục người ta bằng những lý lẽ, nếu đánh
địch thì cũng đánh địch bằng những lý lẽ. Sức mạnh của nó là ở những lý
lẽ đanh thép, những lập luận chặt chẽ, những bằng chứng không ai chối
cãi được. Văn chính luận nếu có dùng đến hình ảnh, có gợi đến tình cảm
thì chẳng qua cũng chỉ để phụ giúp thêm cho sự thuyết phục bằng lý lẽ
mà thôi. Chúng ta sẽ nói đến cái hay, cái tài của Tuyên Ngôn độc Lập
theo quan niệm đó. Bản Tuyên Ngôn Độc Lập viết cho ai? Câu hỏi đặt ra
có vẻ như thừa. Bởi vì lời giải đáp đã có sản trong văn bản:
‘Hỡi đồng bào cả nước!… “Chúng tôi (…) trịnh trọng tuyên bố với
thế giới rằng’. Như vậy là Bác viết cho đồng bào cả nước và nhân dân thế
giới chứ còn cho ai nữa. Còn viết để làm gì, thì viết để Tuyên Ngôn Độc
Lập chứ còn có mục đích nào khác?
Thực ra vấn đễ không hẳn chi có thế. Nếu chỉ viết cho đồng bào và thế
giới chung chung thì chắc Người không phải dùng đến lắm lý lẽ như vậy.
Và chưa hẳn đã cần phải mở đầu bằng những câu trích trong hai bản
Tuyên Ngôn Độc Lập và Tuyên Ngôn nhân quyền và dân quyền của Mỹ
và Pháp từ thế kỷ XVIII. Vậy đối tượng và mục đích của văn kiện lịch sử
nàyphải được tìm hiểu cặn kẽ -hơn nữa. Cần thấy rằng khi Bác Hồ đọc

quyết vì nhắc nhở họ đừng có phản bội tổ tiên mình, đừng có làm vấy bùn
lên lá cờ nhân đạo của những cuộc cách mạng vĩ đại của nước Pháp, nước
Mỹ, nếu nhất định tiến quân xâm lược Việt Nam.
Ngoài ra mở đầu bản Tuyên Ngôn Độc Lập của Việt Nam mà nhắc đến
hai bản tuyên ngôn nổi tiếng trong lịch sử nhân loại của hai nước lớn như
thế, thì cũng cd nghĩa là đặt ba cuộc cách mạng ngang bằng nhau, ba nền
độc lập ngang bằng nhau, ba bản Tuyên Ngôn ngang bằng nhau. Một
cách kín đáo hơn, bản Tuyên Ngôn của Hồ Chí Minh dường như muốn
gợi lại niềm tự hào của tác giả bài Bình Ngô Đại cáo ngày xưa, khi mở
đầu tác phẩm bằng hai vế cân xứng như để đặt ngang hàng Triệu Đinh.
Lê, Lý, Trần của Nam quốc với Hán, Đường, Tông, Nguyên của Bắc
quốc.Mà đăng đối cân xứng cũng là phải, vì cuộc Cách mạng tháng Tám
1945 thực ra đã giải quyết đúng những nhiệm vụ của hai cuộc cách mạng
của Mỹ (1776) và của Pháp (1789). Bản Tuyên Ngôn đã nêu rõ: “Dân ta
đã đánh đổ các xiềng xích thực dân gần một trăm năm nay đã gây dựng
nên nước Việt Nam độc lập”. Đó cũng là yêu cầu đặt ra cho cuộc cách
mạng của nước Mỹ: đấu tranh giải phóng các dân tộc thuộc địa Bắc Mỹ
ra khỏi ách thực dân Anh. Bản Tuyên Ngôn cũng viết: “Dân ta lại đánh
đổ chế độ quân chủ mấy mươi thế kỷ mà lập nên chế độ dân chủ cộng
hoà”. Đấy cũng là tinh thần cơ bản của cuộc cách mạng nhân quyền và
dân quyền của Pháp thế kỷ XVIII.
Nhưng để đối thoại với bọn đế quốc xâm lược lúc bấy giờ,vấn đề hàng
đầu là vấn đề độc lập dân tộc. Điều đó giải thích vì sao bản Tuyên Ngôn
Độc Lập đã mở đầu như thế: “Tất cả mọi người sinh ra có quyền bình
đẳng. Tạo hoá cho họ những quyền không ai có thể xâm phạm được.
Trong những quyền ấy có quyền được sống, quyền tự do và quyền mưu
cầu hạnh phúc. Lời bất hủ ấy trong bản Tuyên Ngôn Độc Lập năm 1776
của nước Mỹ. Suy rộng ra, câu ấy có nghĩa là: Tất cả các dân tộc trên
/>
Page 2

bị chết’ đói”. Thực dân Pháp muốn kể công “bảo hộ” Đông Dương ư?
ThÌ bản Tuyên Ngôn đã chỉ rõ đó không phải là công mà là tội vì “trong 5
năm chúng đã bán nước ta hai lần cho Nhật”.
Thực dân Pháp tuyên bố Đông Dương là thuộc địa của chúng và chúng có
quyền trở lại Đông Dương ư? Nhưng Đông Dươngcó còn là thuộc địa của
chúng nữa đâu? Bản Tuyên Ngôn vạch rõ: ”Sự thật là từ mùa
thu năm 1940, nước ta đã thành thuộc địa của Nhật chứ không phải thuộc
địa của Pháp nữa. Khi Nhật hàng Đồng Minh thì nhân dân cả nước ta đã
nổi dậy giành chính quyền lập nên nước Việt Nam dân chủ cộng hoà. Sự
thật là dàn ta đã lấy lại nước Việt Nam từ tay Nhật chứ không phải từ tay
Pháp”. Luận điểm này, đứng về ý nghĩa pháp lý cực kỳ quan trọng. Nó sẽ
dẫn tới lời tuyên bố tiếp theo của bản Tuyên Ngôn: ”Bở thế cho nên,
chúng tôi lâm thời chính phủ của nước Việt Nam mới, đại biểu cho toàn
dân Việt Nam tuyên bố thoát ly hẳn quan hệ với thực dân Pháp, xoá bỏ
hết những hiệp ước mà Pháp đã ký về nước Việt Nam. Xoá bỏ mọi đặc
quyền của Pháp trên đất nước Việt Nam”. Sức mạnh của chính nghĩa bao
/>
Page 3


Tài liệu gửi tặng học sinh- Cô Thu Trang
giờ cũng đồng thời là sức mạnh của sự thật. Và không có lý lẽ nào có sức
thuyết phục cao hơn là lý lẽ của sự thật. Vì thế Người viết Tuyên ngôn
luôn luôn láy đi láy lại hai chữ “sự thật”: “Sự thật là…” “sự thật là…” Và
cuối cùng thì nước Việt Nam có quyền hưởng tự do và độc lập và sự thật
đã thành một nước tự do độc lập”… Đấy là những điệp khúc tiếp nối
nhau tăng thêm âm hưởng hùng biện của bản Tuyên Ngôn. Đấy là hệ
thống lý lẽ bác bỏ luận điệu của bọn đế quốc, thực dân. Còn đối với dân
tộc Việt Nam? Dân tộc ta có xứng đáng được hưởng độc lập tự do hay
không, có đủ tư cách làm chủ đất nước mình hay không? Bản Tuyên

khúc triết, kinh nghiệm của nhiều thế kỷ đấu tranh vì độc lập tự do,
vì nhân quyền, dân quyền của dân tộc và của nhân loại. Chính Bác Hồ
cũng đánh giá đây là thành công thứ ba khiến Người cảm thấy “sung
sướng” trong cả cuộc đời viết văn, làm báo đầy kinh nghiệm của mình./.
/>
Page 4


Tài liệu gửi tặng học sinh- Cô Thu Trang

2. TÂY TIẾN – QUANG DŨNG
Kiến thức cơ bản về bài Tây Tiến – Quang Dũng
1. Quang Dũng.
– Quang Dũng (1921-1988) tên khai sinh là Bùi Đình Diệm, quê ở Hà
Tây.
– Quang Dũng là một nghệ sĩ đa tài: làm thơ, viết văn, vẽ tranh, soạn
nhạc. Nhưng Quang Dũng được biết đến nhiều là một nhà thơ. Thơ
Quang Dũng hồn hậu, phóng khoáng, đậm chất lãng mạn và tài hoa. Các
tác phẩm chính: Mây đầu ô, Thơ văn Quang Dũng…
2. Trình bày hoàn cảnh sáng tác bài thơ Tây Tiến của Quang Dũng.
– Tây Tiến vừa chỉ hướng hành quân, vừa là tên một đơn vị quân đội
được thành lập đầu năm 1947.
– Tây Tiến có nhiệm vụ phối hợp với bộ đội Lào, bảo vệ biên giới Việt –
Lào, đồng thời đánh tiêu hao lực lượng quân đội Pháp ở Thượng Lào
cũng như ở miền tây Bắc Bộ Việt Nam. Địa bàn đóng quân và hoạt động
của đoàn quân TT khá rộng nhưng chủ yếu là ở biên giới Việt – Lào.
Chiến sĩ Tây Tiến phần đông là thanh niên, học sinh, trí thức Hà Nội,
chiến đấu trong những hoàn cảnh gian khổ thiếu thốn về vật chất, bệnh
sốt rét hoành hành dữ dội. Tuy vậy, họ sống rất lạc quan và chiến đấu rất
dũng cảm.

4. Nội dung và nghệ thuật của bài thơ Tây Tiến của Quang Dũng.
a. Nội dung:
– Bức tranh thiên nhiên vùng Tây Bắc tổ quốc ta vừa tráng lệ, hùng vĩ
vừa nên thơ, trữ tình.
– Khẳng định, ca ngợi vẻ đẹp đậm chất bi tráng về hình ảnh người lính
Tây Tiến: tâm hồn lãng mạn, khí phách anh hùng, lí tưởng cao cả Vẻ đẹp
của chiến sĩ Việt Nam trong kháng chiến chống Pháp.
– Thể hiện tình yêu, sự gắn bó, niềm tự hào của tác giả về trung đoàn Tây
Tiến và quê hương Tây Bắc trong những năm kháng chiến chống Pháp.
* Đoạn 1: Nỗi nhớ của tác giả và con đường hành quân của trung đoàn
Tây Tiến:
“ Sông Mã xa rồi Tây Tiến ơi!…………Mai Châu mùa em thơm nếp xôi”
– Nỗi nhớ của tác giả:
Nhà thơ Quang Dũng gắn bó với trung đoàn Tây Tiến, gắn bó với núi
rừng Tây Bắc trong những năm kháng chiến . Vì thế mà khi xa Tây Tiến,
xa Tây Bắc – xa đơn vị bộ đội , xa vùng đất nhiều kỉ niệm kháng chiến
tác giả nhớ nhung da diết:
Sông Mã xa rồi Tây Tiến ơi!
Nhớ về rừng núi nhớ chơi vơi
– Mở đầu bài thơ là lời gọi tha thiết , ngọt ngào. Tác giả gọi tên đơn vị “
Tây Tiến” , gọi tên con sông vùng Tây Bắc “ sông Mã” mà thân thiết , dạt
dào cảm tình như gọi tên những người thân thương trong cuộc đời
mình.Phải chăng trung đoàn Tây Tiến, núi rừng Tây Bắc gần gũi , thân
thương với tác giả và khi xa thì Tây Bắc, Tây Tiến trở thành một “ mảnh
tâm hồn” của tác giả.
– Tác giả rất thành công trong việc sử dụng nghệ thuật điệp từ “ nhớ “ và
từ láy “ chơi vơi”, tác giả “ nhớ chơi vơi” nỗi nhớ ấy không xác định
được hết đối tượng , nhớ sông Mã , nhớ Tây Tến, nhớ núi rừng Tây Bắc ,
… nhớ tất cả. Những nơi trung đoàn Tây Tiến đã đi qua, những đồng đội
từng gắn bó,…tất cả đều trở thành kỉ niệm không thể nào quên.Chính vì

không thể nào quên.
+ Còn ghê rợn nhất là khi về Mường Hịch, cái âm thanh phát ra từ núi
rừng ấy thật là khiến cho con người cảm giác bất an : “cọp trêu người”.
Mỗi vùng đất trung đoàn Tây Tiến đi qua đều để lại dấu ấn trong tâm
hồn, tuy có nhiều gian nan, vất vả nhưng cũng rất lãng mạn, trữ tình.
– Con đường hành quân của trung đoàn Tây Tiến được tác giả khái quát
rõ nhất qua đoạn thơ:
Dốc lên khúc khuỷu dốc thăm thẳm
Heo hút cồn mây súng ngửi trời
Ngàn thước lên cao, ngàn thước xuống
…..
Chiều chiều oai linh thác gầm thét
Đêm đêm Mường Hịch cọp trêu người
Đoạn thơ ngắn nhưng thể hiện nét bút tài hoa của Quang Dũng. Ông
thành công trong việc sử dụng ngôn từ, hình ảnh, bút pháp,…
+ Hàng loạt từ láy gợi hình ảnh, cảm xúc “khúc khuỷu”, “ thăm thẳm”, “
Heo hút”
+ Hình ảnh vừa hiện thực vừa táo bạo, phi thường như dốc cao khiến
súng chạm trời – “ súng ngửi trời”, dốc lên bao nhiêu thì xuống bấy nhiêu
“ ngàn thước lên cao , ngàn thước xuống” .
+ Kết hợp hình ảnh với những âm thanh đặc sắc như “ thác gầm thét”, “
cọp trêu người”
+ Sử dụng nhiều thanh Trắc.
+ Đoạn thơ đậm khuynh hướng sử thi và cảm hứng lãng mạn.
Nét bút tài hoa của Quang Dũng đã vẽ lại con đường hành quân- chiến
đấu của trung đoàn Tây Tiến trong những năm kháng chiến chống Pháp ,
con đường ấy thật gian khổ, hiểm nguy với đèo cao , dốc hiểm và thú
rừng dữ tợn nhưng cũng thật lãng mạn, khó quên.
/>
Page 7

Đoạn mở đầu bài thơ “ Tây Tiến” da diết nỗi nhớ đồng đội , nhớ núi rừng
Tây Bắc của tác giả Quang Dũng. Qua nỗi nhớ, con đường hành quân của
trung đoàn Tây Tiến và bức tranh núi rừng Tây Bắc hiện về khá rõ nét.
Đó cũng chính là cái “Tình “ mà Quang Dũng dành cho Tây Tiến ,Tây
Bắc : Yêu mến, gắn bó và tự hào.
( Chế Lan Viên : Khi ta ở , chỉ là nơi đất ở
Khi ta đi, đất bỗng hóa tâm hồn )
* Đoạn 2: Những kỉ niệm đẹp của trung đoàn Tây Tiến trong những năm
kháng chiến chống Pháp.
“Doanh trại bừng lên hội đuốc hoa……….Trôi dòng nước lũ hoa đong
đưa”
* Kỷ niệm đẹp một thời trận mạc đã trở thành hành trang của người lính
Tây Tiến. Đúng vậy, các chiến sĩ Tây Tiến cũng như chính tác giả cũng
không thể nào quên những kỉ niệm trong những năm kháng chiến cùng
đồng đội, quân dân. Kỉ niệm khó quên nhất có lẽ là những đêm liên hoan
lửa trại:
/>
Page 8


Tài liệu gửi tặng học sinh- Cô Thu Trang
Doanh trại bừng lên hội đuốc hoa…….Nhạc về Viên Chăn xây hồn thơ
+ Đêm “ hội đuốc hoa” là đêm liên hoan lửa trại giữa chiến sĩ Tây Tiến
với đồng bào ( Tây Bắc, Lào) .
“ Doanh trại bừng lên “ – tác giả sử dụng từ “ bừng lên” thật hay, làm
bừng sáng và tỏa hơi ấm cho không gian đêm hội. Đêm hội có ánh sáng,
hơi ấm của “ đuốc hoa”, có tiếng khèn, điệu nhạc và có “em” trong trang
phục xiêm áo đang yểu điệu , thướt tha , e ấp, dịu dàng. “ Em” ở đây là cô
gái, có thể là các cô gái miền núi Tây Bắc nước ta, có thể là các cô gái
Lào. Sự xuất hiện của các cô gái làm cho đêm hội thêm vui vẻ, ấm áp và

+ “Chiều sương ấy” là chiều thu năm 1947 , sương trắng phủ mờ núi rừng
chiến khu làm cho cảnh, người càng thêm thơ mộng, trữ tình. Buổi chiều
thu đầy sương ấy in đậm hồn người khiến cho hoài niệm thêm mênh
mang. Chữ “ấy” bắt vần với chữ “ thấy” tạo nên một vần lưng giàu âm
/>
Page 9


Tài liệu gửi tặng học sinh- Cô Thu Trang
điệu, như một tiếng khẽ hỏi “có thấy” cất lên trong lòng.
+ “ Hồn lau” là hồn mùa thu, hoa lau nở trắng, lá lau xào xạc trong gió
thu nơi bờ sông bờ suối“nẻo bến bờ”.
Với tâm hồn thi sĩ tài hoa, Quang Dũng đã cảm nhận vẻ đẹp thơ mộng
của thiên nhiên Châu Mộc qua cảnh sắc “ chiều sương” và “ hồn lau nẻo
bến bờ”.
+ Điệp ngữ “ có thấy”, “ có nhớ” làm cho hoài niệm về chiều sương Châu
Mộc thêm phần man mác, bâng khuâng. Trong chia phôi còn có nhớ , nhớ
cảnh rồi nhớ đến người. “ Có nhớ” con thuyền độc mộc và dáng người
chèo thuyền độc mộc? “ Có nhớ” hình ảnh “hoa đong đưa” trên dòng
nước lũ ? “ Hoa đong đưa” là hoa rừng đong đưa làm duyên trên dòng
nước hay là hình ảnh ẩn dụ gợi tả các cô gái miền Tây Bắc xinh đẹp lái
thuyền duyên dáng, uyển chuyển như những bông hoa rừng đang đong
đưa
trên dòng suối? Và nếu là hình ảnh gợi tả các cô gái Tây Bắc thì các cô
gái ấy phải có “tay lái ra hoa” mới có thể “ đong đưa” được như vậy.
Quang Dũng thật tài tình và con người Tây Bắc thật tài hoa!
Bốn câu thơ là những dòng hồi tưởng về cảnh sắc và con người nơi Tây
Bắc, nơi cao nguyên Châu Mộc.Với bút pháp tài hoa và tâm hồn lãng
mạn , Quang Dũng vẽ lại bức tranh tuyệt đẹp về thiên nhiên và con người
Tây Bắc.

hài vừa phản ánh cái khốc liệt của chiến tranh.
Cái hình hài không lấy gì làm đẹp “không mọc tóc”, “ xanh màu lá”
tương phản với nét“ dữ oai hùm”. Với bút pháp tài hoa, Quang Dũng làm
bật chí khí hiên ngang , tinh thần quả cảm xung trận của các chiến binh
Tây Tiến từng làm quân giặc khiếp sợ.
– “ Dữ oai hùm” là hình ảnh ẩn dụ nói lên chí khí của người lính Tây
Tiến , tuy các chiến sĩ có gầy, xanh nhưng không hề yếu, chí khí của
người lính vẫn như con hổ nơi rừng xanh. Cái tài của Quang Dũng là
khắc họa chân dung bên ngoài của chiến sĩ Tây Tiến tuy gầy , xanh
nhưng vẫn toát lên được cái oai phong, khí phách của người lính cụ Hồ.
* Các chiến sĩ Tây Tiến tuy hành quân, chiến đấu trong muôn vàn gian
khổ, thiếu thốn, bệnh tật,…nhưng vẫn có những giấc mơ, giấc mộng rất
đẹp:
Mắt trừng gửi mộng qua biên giới…….Đêm mơ Hà Nội dáng kiều thơm
Các chiến sĩ Tây Tiến mộng và mơ gửi về hai phía chân trời : biên giới và
Hà Nội, biên giới là nơi còn đầy bóng giặc, Hà Nội là nơi còn đó những
kỉ niệm, những người thân thương,…
– Mắt trừng – hình ảnh gợi tả nét dữ dội, oai phong lẫm liệt, tinh thần
cảnh giác, tỉnh táo của người lính trong khói lửa ác liệt , “gửi mộng qua
biên giới” là mộng tiêu diệt kẻ thù,bảo vệ biên cương , lập nên chiến công
nêu cao truyền thống anh hùng của đoàn quân Tây Tiến, của chiến sĩ cụ
Hồ.
– Các chiến sĩ Tây Tiến lại có những giấc mộng đẹp về Hà Nội ,về “ dáng
kiều thơm”. Chiến sĩ Tây Tiến vốn là những thanh niên Hà Nội “ Xếp bút
nghiên theo việc đao, cung”, họ là những chàng thanh niên trẻ hào hoa,
lãng mạn và có chút đa tình. Khi xa Hà Nội, tiến về Tây Bắc để thực hiện
nhiệm vụ thì các chiến sĩ luôn “Ngàn năm thương nhớ đất Thăng Long”.
Sống giữa chiến trường ác liệt nhưng tâm hồn các anh luôn hướng về Hà
Nội , mơ về Hà Nội. Đúng vậy, làm sao các anh có thể quên được hàng
me, hàng sấu, phố cổ trường xưa? ,… Làm sao các anh quên được những

làm trai. Dẫu thấy cái chết trước mắt họ vẫn không sợ, họ coi cái chết nhẹ
như lông hồng. Họ sẵn sàng “ quyết tử cho Tố quốc quyết sinh”.
Câu thơ “Chiến trường đi chẳng tiếc đời xanh” vang lên như một lời thề
thiêng liêng, cao cả. Các anh quyết đem xương máu bảo vệ Tổ quốc , bảo
vệ độc lập tự do cho dân tộc. Tinh thần của người lính Tây Tiến cũng như
quyết tâm sắt đá của dân tộc ta trong những năm kháng chiến chống
Pháp:” chúng ta thà hi sinh tất cả chứ nhất định không chịu mất nước,
nhất định không chịu làm nô lệ”.
– Cảnh trường bi tráng giữa chiến trường miền Tây thuở ấy được tác giả
ghi lại ở hai câu cuối của đoạn thơ:
Áo bào thay chiếu anh về đất
Sông Mã gầm lên khúc độc hành
Các chiến sĩ ngày xưa giữa chốn sa trường lấy da ngựa bọc thây làm niềm
kiêu hãnh. Các chiến sĩ Tây Tiến với chiếc chiếu đơn sơ , với tấm áo bào
bình dị ấy “về với đất”. Một sự ra đi thật nhẹ nhàng, thanh thản ! Anh giết
giặc vì quê hương, anh ngã xuống là “ về đất” , nằm trong lòng Mẹ tổ
quốc thân thương. Nhà thơ không dùng từ “ chết”, “ hi sinh” mà dùng từ
“ về đất” để ca ngợi sự hi sinh cao cả mà bình dị, thầm lặng mà thanh
thản của người lính Tây Tiến. Chiến sĩ Tây Tiến đã sống và chiến đấu
cho quê hương,đã hi sinh cho quê hương, “anh về đất” bằng tất cả tấm
lòng thủy chung son sắt với Tố quốc. Vì thế mà “Sông Mã gầm lên khúc
độc hành”
Đây là câu thơ hay, gợi tả không khí thiêng liêng, trang trọng đồng thời
tạo âm điệu trầm hùng, thương tiếc. “Sông mã gầm lên “ hay hồn thiêng
sông núi đang tấu lên khúc nhạc tiễn đưa linh hồn các anh về nơi an nghỉ
cùng đất Mẹ.
* Đoạn thơ viết về chân dung chiến sĩ Tây Tiến là đoạn thơ độc đáo nhất
trong bài . Đoạn thơ đậm khuynh hướng sử thi và cảm hứng lãng mạn ,
/>
Page 12

kết thúc thắng lợi, các cơ quan trung ương của Đảng và Chính phủ từ
Việt Bắc về lại thủ đô Hà Nội. Tố Hữu cũng là một trong số những cán
bộ kháng chiến từng sống và gắn bó nhiều năm với Việt Bắc, nay từ biệt
chiến khu Việt Bắc để về xuôi. Bài thơ được viết trong buổi chia tay lưu
luyến đó.
II. Bài thơ
1.Kết cấu của bài thơ
+ Đối đáp giữa Việt Bắc và người cán bộ kháng chiến từ giã Việt Bắc.
Đây là cuộc chia tay mang ý nghĩa lịch sử, cuộc chia tay giữa những
người đã từng gắn bó dài lâu, đầy tình nghĩa sâu nặng, mặn nồng, từng
chia sẻ mọi đắng cay, ngọt bùi, nay trong giờ phút chia tay, cùng nhau gợi
lại bao kỉ niệm đẹp đẽ, cùng cất lên nỗi hoài niệm tha thiết về những ngày
đã qua, khẳng định nghĩa tình bền chặt và hẹn ước trong tương lai.
+ Lời đối đáp gần gũi, thân thuộc như trong ca dao, dân ca.
/>
Page 13


Tài liệu gửi tặng học sinh- Cô Thu Trang
+ Bài thơ vì thế mà như lời tâm tình chan chứa yêu thương của những
người yêu nhau.
+ Trong đối đáp Tố Hữu sử dụng đại từ mình – ta với ý nghĩa vừa là ngôi
thứ nhất, vừa là ngôi thứ hai. Tình cảm chan chứa yêu thương vì thế mà
như được nhân lên. Chuyện nghĩa tình cách mạng, kháng chiến đến với
lòng người bằng con đường của tình yêu.
+ Nhìn sâu hơn vào kết cấu bài thơ thì đối thoại chỉ là lớp kết cấu bên
ngoài, còn ở chiều sâu bên trong chính là lời độc thoại của chính nhân vật
trữ tình đang đắm mình trong hoài niệm về quá khứ gian khổ mà tươi đẹp
ấm áp nghĩa tình, nghĩa tình nhân dân, nghĩa tình kháng chiến và cách
mạng, khát vọng về tương lai tươi sáng. Kẻ ở- người đi; lời hỏi- lời đáp

+ Nhớ một chiến khu đầy gian khổ, nhưng sẵn lòng căm thù giặc sâu sắc:
cơm chấm muối, mối thù nặng vai.
/>
Page 14


Tài liệu gửi tặng học sinh- Cô Thu Trang
+ Nhớ những sản vật miền rừng: trám bùi, măng mai.
+ Nhớ những mái nhà nghèo nàn nhưng ấm áp tình người, tình cách
mạng.
+ Nhớ những năm đầu kháng Nhật với những địa danh lịch sử: Tân Trào
Hồng Thái mái đình cây đa.
– Nỗi nhớ ấy được thể hiện bằng những dòng thơ lục bất đâm chất dân
gian, những cặp câu thơ lục bát có sự phối hợp thanh điệu hài hòa. Sáu
dòng lục tào thành một điệp khúc âm thanh: nó đan dày thành những cấu
trúc thanh bằng- trắc- bằng tạo ra nhạc điệu ngân nga trầm bổng nhẹ
nhàng, khoan thai.
– Hầu hết các câu thơ ngắt theo nhịp 4/4 làm nên những tiểu đối cân
xứng, hô ứng về câu trúc, nhạc điệu: Mưa nguồn suối lũ/những mây cùng
mù; Miếng cơm chấm muối mối thù nặng vai… Có những cặp tiểu đối
khắc ghi những sự kiện, có những cặp tiểu đối vế đầu nói về hiện thực
gian khổ, vế còn lại khắc sâu vẻ đẹp tâm hồn của con người Việt Bắc gắn
bó son sắt cùng với lối sống ân nghĩa thủy chung. Người đọc như gặp lại
hồn xưa dân tộc trong những trang thơ lục bát của Tố Hữu.
– Câu thơ “Mình đi mình lại nhớ mình”: nhớ mình- tức nhớ người ở lại
nhưng cũng như là nhắc nhở chính mình hãy nhớ về quá khứ gian khổ
nhưng thấm đẫm nghĩa tình.
2.3.Từ câu 25 đến câu 42: Nỗi nhớ những kỉ niệm sinh hoạt nghèo khổ
mà ấm áp nghĩa tình.
Nhớ gì như nhớ người yêu

Việt Bắc.
Ta về mình có nhớ ta
…..
Nhớ ai tiếng hát ân tình thủy chung
– Hai dòng thơ đầu là lời khẳng định vể nỗi nhớ thương da diết và tình
cảm thủy chung của người ra đi dành cho quê hương Việt Bắc. Nỗi nhớ
đã làm sống dậy trong tâm tưởng hình ảnh thiên nhiên, con người nơi
chiến khu cách mạng.
– Thiên nhiên Việt Bắc đẹp trong sự đan cài với vẻ đẹp của con người
“hoa” cùng “người”: Đoạn thơ có bốn cặp câu lục bát: câu 6 miêu tả thiên
nhiên, câu 8 miêu tả con người.
– Thiên nhiên Việt Bắc hiện lên trong vẻ đẹp bốn mùa:
+ Mùa đông trên nền xanh bạt ngàn cây lá bỗng bất ngờ hiện lên sắc màu
đỏ tươi của hoa chuối. Màu đỏ ấy làm ấm cả không gian
+ Mùa xuân với sắc trắng của hoa mơ- loài hoa đặc trưng của Việt Bắc, 1
màu trắng miên man, tinh khiết, đẹp đến nao lòng.
+ Mùa hè, với tiếng ve kêu vang ngân và sắc vàng của rừng phách.
+ Mùa thu với ánh trăng chan hòa trên mặt đất, đem lại không khí bình
yên.
– Hình ảnh con người đã trở thành tâm điểm của bức tranh tứ bình, tạo
nên sức sống của thiên nhiên cảnh vật. Những con người Việt Bắc hiện
về trong nỗi nhớ thật thân quen, bình dị, thầm lặng trong những công việc
của đời thường:
+ Mùa đông trở nên ấm áp với “ánh nắng dao giài thắt lưng”.
+ Bức tranh mùa xuân hòa cùng với dáng vẻ cần mẫn chút chăm của
“người đan nón”
+ Bức tranh màu hè hoá dịu dàng với hình ảnh cô em gái hái măng một
mình
+ Mùa thu là tiếng hát nghĩa tình thủy chung của con người cất lên giữa
đêm trăng.

~ Sức mạnh của quân ta với các lực lượng bộ đội, dân công… sự hợp lực
của nhiều thành phần tạo thành khối đoàn kết vững chắc.
~ Các từ: Rầm rập, điệp diệp, trùng trùng…thể hiện khí thế dồn dập.
~ Hình ảnh người chiến sĩ được gợi lên qua chi tiết giàu chất tạo hình:
“ánh sao đầu mũ bạn cùng mũ nan”-> ánh sáng của sao dẫn đường, ánh
sáng của niềm tin, của lí tưởng.
~ Thành ngữ “Chân cứng đá mềm” đã được nâng lên thành một bước cao
hơn “bước chân nát đá muôn tàn lửa bay”.
+ Chiến công tưng bừng vang dội khắp nơi: Hoà Bình, Tây Bắc, Điện
Biên, đèo De, núi Hồng… Niềm vui chiến thắng chan hoà bốn phương:
Vui từ…vui về…vui lên…
+ Đoạn thơ ngập tràn ánh sáng: ánh sao, ánh đuốc, ánh đèn pha… như
ánh sáng của niềm tin tưởng, niềm vui tràn ngập.
+ Nhịp thơ dồn dập gấp gáp, ấm hưởng hào hùng náo nức tạo thành khúc
ca chiến thắng.
b.Từ câu 75- câu 83.
Đoạn thơ phác họa hình ảnh giản dị mà trang trọng của một cuộc họp
Chính phủ trong hang núi mà vẫn rực rỡ dưới ánh cờ đỏ sao vàng trong
nắng trưa và kết thúc bằng sự thâu tóm hình ảnh Việt Bắc quê hương
cách mạng, đầu não của cuộc kháng chiến, nơi đặt niềm tin tưởng và hy
vọng của con người Việt Nam từ mọi miền đất nước, đặc biệt là những
nơi còn “u ám quân thù”.
3. Đặc sắc nghệ thuật : Đoạn trích đậm đà tính dân tộc ở cả nội dung lẫn
hình thức
Việt Bắc là một trong những đỉnh cao của thơ ca cách mạng Việt Nam.
Tiếng thơ trữ tình- chính trị của Tố Hữu đậm đà tính dân tộc.
/>
Page 17



Duy, Lâm Thị Mỹ Dạ, Hòang Nhuận Cầm, Lê Anh Xuân…. Đây là lớp
nhà thơ trưởng thành từ ghế nhà trường, không chỉ có trình độ văn hóa,
niềm say mê lý tưởng mà còn có mặt trực tiếp trong cuộc kháng chiến
dân tộc. Họ ý thức cao về vai trò và trách nhiểm của tuổi trẻ về đất nước,
những trang thơ của họ nóng bỏng, nhiệt tình yêu nước và hiện thực
kháng chiến của dân tộc. Nguyễn Khoa Điềm xuất thân từ một gia đình
trí thức cách mạng ở Huế, bản thân ông tham gia trực tiếp vào phong trào
đấu tranh sinh viên nên thơ Nguyễn Khoa Điềm rất giàu chất suy tư, cảm
xúc dồn nén mang tâm tư của người trí thức….
II. Đề tài Tổ quốc:
Tổ quốc là một đề tài phong phú của thơ ca Việt Nam. Trước NKĐ đã có
/>
Page 18


Tài liệu gửi tặng học sinh- Cô Thu Trang
nhiều bài thơ hay, nhiều tác giả thành công về đề tài này. Đất nước anh
hùng trong kháng chiến chống Pháp, mang hồn thu Hà Nội của Nguyễn
Đình Thi. Đất nước cổ kính, dân gian, mang hồn quê Kinh Bắc của
Hòang Cầm. Đất nước hóa thân cho một dòng sông xanh, đầy ắp kỉ niệm
trong thơ Tế Hanh. Đất nước hài hòa trong dáng hình quê hương và tình
yêu đôi lứa trong thơ Giang Nam. Nhưng, NKĐ đã tìm đc một cách nói
riêng để chương thơ mới của ông đã mang lại cho bạn đọc những rung
cảm thẫm mĩ mới về đất nước: Đất nước của nhân dân.
III. vị trí đọan trích:
Đất nứơc là phần đầu chương V của trường ca Mặt đường khát vọng, viết
năm 1971 tại chiến khu Trị Thiên giữa lúc cuộc kháng chiến chống Mĩ
đang hết sức khốc liệt mà bản thân nhà thơ trực tiếp có mặt
Ý nghĩa đọan trích
Đọan trích thâu tóm ý nghĩa của tòan bộ chương V. Chương thơ là sự

của mẹ, cách gọi tên “cái kèo, cái cột” dân dã đến tình yêu gắn bó thủy
chung qua gừng cay muối mặn của cha mẹ. Tất cả những điều tưởng
chừng như bình thường ấy đã trở thành nếp sống, thành phẩm chất tốt
đẹp, thành thuần phong mĩ tục đậm đà bản sắc Việt Nam.
Từ truyền thống yêu nước:
Câu thơ “Đất nứơc lớn lên khi dân mình biết trồng tre mà đánh giặc” gợi
nhớ truyền thuyết Thánh Gióng nhổ tre làng đánh giặc Ân thuở xa xưa.
Truyền thống yêu nước, bền bỉ kiên cường giữ nước luôn đc khơi dậy qua
những lời kể đậm đà của mẹ và trở thành hồn thiêng dân tộc.
Từ truyền thống lao động:
Ông bà, cha mẹ chúng ta đã phải trải qua bao gian nan một nắng hai
sương, đã đổ bao mồ hôi với bao công việc nhà nông nhọc nhằn “xây giã
giần sàng” mới làm ra hạt gạo dẻo thơm. Hạt gạo là vật chất, nhưng cũng
là sự sống, là cội nguồn văn hóa của dân tộc. Truyền thống lao động cần
cù từ bao đời của nhân dân cũng là một phần của hồn nứơc.
Tiểu kết:
Chín dòng thơ đầu là cảm nhận của nhà thơ về sự hình thành và phát triển
lâu đời của đất nước. Đất nước đc cảm nhận cụ thể trong những cái hằng
ngày như“miếng trầu, hạt gạo”, trong những gương mặt dung dị, đời
thường của nhân dân, trong mối quan hệ ruột thịt thân thương như “ông –
bà”, “cha – mẹ”, ngay trong mái nhà của mỗi chúng ta cũng hiện diện
dáng hình đất nước. Ẩn trong đó là tình yêu nứơc thiết tha, niềm tự hào
về đất nước thân thương, gần gũi. Hình ảnh thơ hàm súc, giàu chất liệu
văn hóa, văn học dân gian nên có sức lắng đọng sâu sắc. Những chất liệu
dân gian ấy đã tạo nên một thế giới nghệ thuật vừa gần gũi, quen thuộc,
vừa sâu xa, kì diệu, đủ sự gợi lên một hồn thiêng sông núi. Điều đó ko
đơn thuần chỉ là thủ pháp nghệ thuật, cũng ko phải là một môtúyp sáng
tạo văn học dân gian. Có thể nói, tư tưởng “đất nứơc của nhân dân” – tư
tưởng chủ đạo của trang thơ đã thấm nhuần từ quan điểm đến cảm xúc, từ
hình tượng đến chi tiết nghệ thuật của tác phẩm.

máu nữa, để xây dựng bờ cõi đất nước thành dải đất chữ S thân thuơng,
cho “dân mình đòan tụ” trong yêu thương tự hào bởi:
Đất nứơc là nơi chim về, rồng ở:
“Đất là nơi chim về…bọc trứng”
/>
Page 21


Tài liệu gửi tặng học sinh- Cô Thu Trang
Những hình tượng quen thuộc trong thần thọai, truyền thuyết như “chim,
rồng, Lạc Long Quân, Âu Cơ, bọc trăm trứng” cùng tụ về trong trường
liên tưởng của nhà thơ. Sự hội tụ ấy làm bật lên ý thơ có tầm khái quát
cao: dân tộc ta là “con rồng cháu tiên, trai tài gái sắc”, đất nứơc ta là “đất
lành chim về, đất thiêng rồng ở”, dân tộc Việt là anh em một nhà, cùng đc
sinh ra từ bọc trăm trứng của cha Lạc Long Quân và mẹ Âu Cơ. Một đất
nước có cội nguồn văn hóa và truyền thống lâu đời rất đỗi thân thương và
tự hào như thế, chính là “Đất nước của nhân dân”
3. Trách nhiệm với đất nước:
Đất nứơc qua cách cảm nhận của NKĐ không khô khan, trừu tượng mà
tươi rói cảm xúc. Đất nước gắn liền với đời sống, số phận của từng cá
nhân ở mọi phương diện: lịch sử, địa lí, văn hóa. Đất nứơc còn là sự kết
tinh sâu sắc những giá trị tinh thần từ quá khứ “những ai đã khuất”, đến
hiện tại “những ai bây giờ” và tương lai “yêu nhau và sinh con đẻ cái”.
Đặc biệt, mỗi thế hệ, mỗi cá nhân, đều gắn bó với đất nước, nhất là trách
nhiệm của thế hệ hôm nay vô cùng nặng nề nhưng vinh quang: Chúng ta
vừa phải gánh vác những công việc nhọc nhằn mà ông cha giao lại, vừa
phải “dặn dò con cháu chuyện mai sau” một cách ân cần, chu đáo, để các
thế hệ sau sẽ tiếp tục đưa đất nứơc đi xa, đến một chân trời hòa bình,
hạnh phúc, ấm no, giàu mạnh. Đó là mơ mộng, là khát vọng của thời đại
nhà thơ nhưng là hiện thực tất yếu của tương lai. Ước mơ ấy, ngày nay đã

thân”bằng hành động hi sinh cho đất nứơc. Động từ “hóa thân” đc nhà
thơ sử dụng ko chỉ phù hợp với màu sắc dân gian của chương thơ mà còn
diễn ta sâu sắc sự tự nguyên dâng hiến trọn vẹn cho đất nước để bất tử
hóa cùng non sông của mỗi ng dân. Điệp ngữ “phải biết” vừa như một
mệnh lệnh, vừa là tiếng nói thúc giục của con tim, tạo thành chất trữ tình
chính luận sâu sắc
Tiểu kết:
Đc bao bọc trong ko khí của văn học dân gian, hình tượng đất nứơc trên
trang thơ của NKĐ thơ mộng, trữ tình như từ xa xưa vọng về, bình dị mà
thân thương gắn bó thiết tha với mỗi ng dân. Cảm nhận về đất nứơc tản
mạn mà thống nhất, sâu sắc. Hai chữ “đất nứơc” đc viết hoa và điểm lại
nhiều lần như một con mắt thơ đầy kính yêu, tự hào. Nhà thơ định nghĩa
về đất nước bằng thơ, lời thơ lấp lánh màu sắc của huyền thọai dân gian,
vừa lung linh vẻ đẹp trí tuệ, vừa thiết tha cảm xúc, tạo nhiều âm vang
trong lòng ng đọc
So sánh:
Nếu “Đất nước” của Nguyễn Đình Thi mang đậm sắc thái hiện đại, gắn
liền với cuộc kháng chiến chống Pháp đau thương nhưng anh dũng và
kiên cường thì“Đất nước” của NKĐ lại đậm đà phong vị dân gian, gắn
với cội nguồn văn hóa của dân tộc. Cùng tỏa sáng tình yêu và niềm tự hào
đối với đất nứơc, nhưng mỗi bài thơ có một vẻ đẹp riêng, khiến cho cảm
hứng về quê hương trở nên đa dạng, hấp dẫn.
V. Đất nước của nhân dân – tư tưởng cốt lõi:
Nếu như phần đầu khúc ca, tác giả nói về lịch sử cùng với định nghĩa đất
/>
Page 23


Tài liệu gửi tặng học sinh- Cô Thu Trang
nước bằng thơ theo cách riêng của mình. Thì bốn mươi bảy dòng thơ tiếp

gũi…
“Và ở đâu…núi sông ta”
Ý thơ đc nâng lên tầm khái quát, sự hóa thân bóng hình của nhân dân vào
đất nước đã lý giải chính nhân dân là ng tạo dựng, đã đặt tên, ghi dấu ấn
cuộc đời mình lên mỗi ngọn núi, dòng sông, miền đất
/>
Page 24


Tài liệu gửi tặng học sinh- Cô Thu Trang
2. Phương diện lịch sử:
Đó là nhìn ở phương diện ko gian địa lí, còn nhìn ở phương diện lịch sử –
thời gian, nhà thơ cũng đã khẳng định tư tưởng Đất nước của nhân dân.
Chính tư tưởng này đã chi phối toàn bộ suy nghĩ of nhà thơ khi nhìn vào
lịch sử bốn ngàn năm đất nước:
“Em ơi em…nuôi cái cùng con”
Khi nói về lịch sử of đất nước, NKĐ ko nhắc đến các triều đại tên tuổi
như Đinh, Lý, Trần, Lê, cũng ko nhắc đến những anh hùng đã từng đc
khắc tên trong sử sách, nhà thơ chỉ tập trung nói về những con ng vô
danh, bình thường. Đó là “họ”, là “lớp lớp, con gái, con trai” đã lao động
chiến đấu suốt bốn nghìn năm để dựng nứơc và giữ nước. Họ là Nhân
dân. Tên tuổi họ chưa một lần đc khắc ghi trong sử vàng dân tộc “không
ai nhớ mặt đặt tên” nhưng cuộc đời thầm lặng of mỗi ng đã “hóa núi sông
ta”. Cảnh sắc núi sông gắn liền với tâm hồn dân tộc, khí phách of giống
nòi.
Cái bình dị tồn tại quanh ta, hòa quyện với cái cao cả, thiêng liêng, cho
thấy vẻ đẹp vĩnh hằng of đất nước và sự trường tồn of dân tộc gắn liền
với muôn triệu nhân dân of mọi thế hệ, trôi theo dòng chảy văn hóa đất
nước:
“Có biết bao ng con gái con trai…làm ra Đất Nước”


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status