SKKN hướng dẫn học sinh tìm hiểu ngôn ngữ hội thoại của nhân vật thúy kiều trong đoạn trao duyên (trích truyện kiều nguyễn du, ngũ văn 10, tập II)h - Pdf 40

SÁNG KIẾN KINH NGHIỆM

ĐỀ TÀI:
"HƯỚNG DẪN HỌC SINH TÌM HIỂU NGÔN NGỮ HỘI THOẠI CỦA
NHÂN VẬT THÚY KIỀU TRONG ĐOẠN TRAO DUYÊN TRÍCH TRUYỆN
KIỀU NGUYỄN DU NGỮ VĂN 10 TẬP II"


A. ĐẶT VẤN ĐỀ

Ngôn ngữ là chất liệu, là phương tiện biểu hiện mang tính đặc trưng của văn
học. Ngôn ngữ là yếu tố đầu tiên mà nhà văn sử dụng trong quá trình chuẩn bị và
sáng tạo tác phẩm. Văn học lấy ngôn từ làm chất liệu sáng tạo và là con đường để đi
vào thế giới nghệ thuật của nhà văn, còn những người nghiên cứu đi bóc tách các
lớp vỏ ngôn ngữ để thấy được giá trị nội dung, tư tưởng của tác phẩm. Đối với một
tác phẩm văn học, lời thoại nhân vật là một trong những phương tiện quan trọng
được nhà văn sử dụng nhằm thể hiện cuộc sống và cá tính nhân vật. Bởi mỗi nhân
vật có một ngôn ngữ riêng.
Để thể hiện tính cách nhân vật, nhà văn không chỉ miêu tả ngoại hình, biểu
hiện nội tâm mà còn thể hiện qua lời thoại của nhân vật. Lời thoại của nhân vật là
lời ăn tiếng nói của nhân vật, là một căn cứ biểu đạt tính cách và phẩm chất của mỗi
người. Do đó trong thể hiện hình tượng nghệ thuật của mình các nhà văn hết sức coi
trọng việc thể hiện tính cách nhân vật thông qua lời thoại của nhân vật. Như vậy, lời
thoại nhân vật (ngôn ngữ nhân vật) là một khái niệm quen thuộc đối với những nhà
nghiên cứu văn học, những nhà nghiên cứu ngôn ngữ, những người dạy và học văn.


Trong “Truyện Kiều” của Nguyễn Du, tác giả đã tập trung ngòi bút của mình
vào nhân vật chính là Thuý Kiều – một số phận hồng nhan bạc phận. Qua “cõi đoạn
trường” của Thúy Kiều, Nguyễn Du thể hiện nỗi “đau đớn lòng” – một phương diện
của chủ nghĩa nhân đạo Nguyễn Du. Ngoài nhân vật chính, ông lại xây dựng được

vi ngôn ngữ trong giao tiếp nhằm giữ thể diện và tránh đe dọa thể diện của người
tham gia giao tiếp sao cho đạt hiệu quả giao tiếp cao nhất.
2. Ngôn ngữ hội thoại trong Truyện Kiều và trích đoạn Trao duyên:
Trong Truyện Kiều, Nguyễn Du tập trung ngòi bút của mình vào nhân vật
chính là Thúy Kiều. Cụ thể:
- Trong Truyện Kiều có 73 cuộc thoại và 33 lần độc thoại nội tâm thì riêng
Thúy Kiều đã nói tới 76 lượt lời trong 45 cuộc thoại với 512 câu thơ và độc thoại
nội tâm 18 lần với 130 câu thơ. Nghĩa là trong 3.254 câu Kiều thì tác giả đã dành
riêng cho nhân vật chính 642 câu chỉ để tả lời ăn tiếng nói của nàng (hoặc trong lúc
trò chuyện với các nhân vật khác hoặc trong những lúc nàng tự nhủ mình): gần một
phần năm tác phẩm.
- Chỉ đề tả 6 lần Thúy Kiều đánh đàn mà Nguyễn Du cũng đã dành tới 104
câu thơ trong đó riêng 2 lần đàn cho Kim Trọng nghe lúc đầu và cuối truyện đã có:
34 + 24 = 58 câu. Cho nên nhân dân ta đặt tên cho tác phẩm của Nguyễn Du là
Truyện Kiều cũng không phải là không có lý do. Lời của các nhân vật chiếm tới
1.212 dòng thơ đối thoại tức một phần ba tác phẩm. Nếu kể cả 211 dòng độc thoại


nội tâm thì có tới 1.423 dòng thơ trên 3.254 tức 43,7% dành cho hội thoại. Đây
chính là đặc trưng của tiểu thuyết hiện đại bởi qua đó tính cách nhân vật được bộc
lộ một cách trực tiếp.
Trong trích đoạn Trao duyên, Nguyễn Du sử dụng 26 câu đối thoại (thực chất
là Đơn thoại vì Đơn thoại là chỉ có một nhân vật phát biểu còn các nhân vật khác
chỉ nghe hoặc không phát biểu, một người nói ra thành lời có người nghe nhưng
không có lời đáp lại); 04 câu độc thoại (Độc thoại là dạng hội thoại mà nhân vật
nói một mình hướng đến một đối tượng không có mặt, ở đây Thúy Kiều nói với Kim
Trọng); 04 câu độc thoại nội tâm (độc thoại nội tâm là lời tự nhủ, tự mình nói với
mình của các nhân vật, trong đoạn trích là lời tự thương của Thúy Kiều). Như vậy,
đặc điểm nổi bật của ngôn ngữ nhân vật trong Truyện Kiều nói chung và đoạn trích
Trao duyên nói riêng là sự cá tính hóa rất cao, mỗi nhân vật Truyện Kiều đều có

điều này là giáo viên đã bỏ đi một cơ sở để hiểu tâm trạng, tính cách Thúy Kiều
cũng là bỏ đi một phương diện nghệ thuật thành công của đoạn trích.
- Đối với học sinh: do áp lực học – thi, xu hướng chọn ngành nghề, do không
có thời gian nên đa số thờ ơ với môn văn. Với riêng Truyện Kiều, sự cách xa về
thời gian, sự khác biệt về một số quan niệm thuộc phạm trù văn hóa gữa con người
thời trung đại và hiện đại đã khiến học sinh ngại tiếp cận với tác phẩm, học và tìm
hiểu tác phẩm với tâm lí qua loa, đại khái. Mặt khác, khi đặt câu hỏi trong các bài
kiểm tra 15 phút hoặc 45 phút về sự thành công trên phương diện nghệ thuật hầu hết
học sinh không làm được bài. Những hiểu biết về hội thoại (đối thoại, độc thoại,
độc thoại nội tâm) còn mỏng và hời hợt. Sự hạn chế hiểu biết về ngôn ngữ hội thoại


sẽ ảnh hưởng rất lớn đến việc tiếp nhận các giá trị đoạn trích Trao duyên nói riêng
và Truyện Kiều nói chung.
Từ thực trạng trên, qua đề tài này tác giả sẽ cố gắng làm rõ đặc điểm sử dụng
ngôn ngữ hội thoại độc đáo, đặc sắc của đại thi hào Nguyễn Du trong đoạn trích;
chỉ rõ nhóm động từ chỉ hành động nói năng của Thúy Kiều và vai trò của chúng
trong việc khắc hoạ tính cách nhân vật cũng như thể hiện ý đồ nghệ thuật của đoạn
trích; nghiên cứu phương thức lập luận trong lời thoại của Thúy Kiều cũng như
chiến lược giao tiếp của nhân vật từ đó chỉ rõ thấy rõ hiệu quả giao tiếp của cuộc
trao duyên.
III. GIẢI PHÁP VÀ TỔ CHỨC THỰC HIỆN:
1. HƯỚNG DẪN HỌC SINH TÌM HIỂU LẬP LUẬN TRONG HỘI THOẠI VÀ
CHIẾN LƯỢC GIAO TIẾP CỦA NHÂN VẬT THÚY KIỀU TRONG TRÍCH
ĐOẠN TRAO DUYÊN
1.1- Vài nét về ngôn ngữ hội thoại trong Truyện Kiều và trích đoạn Trao duyên:
- Ngôn ngữ hội thoại đóng vai trò khá quan trọng trong Truyện Kiều.
+ Có 1.467 câu hội thoại/3254 câu (chiếm 45,1% ).



Khi ngày quạt ước khi đêm chén thề.
Sự đâu sóng gió bất kì,
Hiếu tình khôn lẽ hai bề vẹn hai.
Ngày xuân em hãy còn dài,


Xót tình máu mủ thay lời nước non.
Chị dù thịt nát xương mòn,
Ngậm cười chín suối hãy còn thơm lây.
Chiếc vành với bức tờ mây,
Duyên này thì giữ vật này của chung.
Dù em nên vợ nên chồng,
Xót người mệnh bạc ắt lòng chẳng quên.
Mất người còn chút của tin,
Phím đàn với mảnh hương nguyền ngày xưa.
Mai sau dù có bao giờ,
Đốt lò hương ấy so tơ phím này.
Trông ra ngọn cỏ lá cây,
Thấy hiu hiu gió thì hay chị về.
Hồn còn mang nặng lời thề,
Nát thân bồ liễu đền nghì trúc mai.


Dạ đài cách mặt khuất lời,
Rưới xin giọt nước cho người thác oan…
Ở đây, màn lập luận của Kiều đã hội tụ được các yếu tố cần thiết để tạo nên sự
thành công của việc trao duyên:
* Hoàn cảnh dẫn đến việc trao duyên: Sóng gió bất kì (Hiếu) và Giữa đường đứt
gánh tương tư (Tình).
* Cơ hội để thực hiện màn lập luận đắc địa: Trong đêm thanh vắng, chỉ có hai chị

2. HƯỚNG DẪN HỌC SINH KHẢO SÁT CÁC ĐỘNG TỪ VÀ CÁC TỪ CHỈ
HÀNH ĐỘNG NÓI NĂNG QUA NGÔN NGỮ HỘI THOẠI CỦA THÚY KIỀU
TRONG TRÍCH ĐOẠN TRAO DUYÊN
2.1- Đặc điểm các động từ và các từ chỉ hành động nói năng trong Trao duyên
- Có 09 động từ và các từ chỉ hành động nói năng gắn với lời của nhân vật.
a. Đặc điểm cấu trúc
- Từ đơn tiết: có 06 từ.
- Từ song tiết: 02 từ.


- Từ có ba âm tiết: 01 từ.
b. Đặc điểm ngữ nghĩa và sự hành chức
- Từ chỉ hành động hỏi (Hỏi để thăm dò thái độ người nghe): có chịu lời
- Động từ chỉ hành động nói: thưa.
- Động từ chỉ hành động cầu khiến - mệnh lệnh: cậy, ngồi lên
- Động từ chỉ hành động cam kết: chẳng quên, đền
- Động từ chỉ hành động biểu cảm: lạy
- Thán từ chỉ hành động khóc: Ôi, hỡi
2.2- Yêu cầu học sinh nhận xét về các động từ và các từ chỉ hành động nói năng
qua ngôn ngữ hội thoại của Thúy Kiều trong trích đoạn Trao duyên
- Các hành động nói năng được sử dụng với số lượng lớn, phong phú.
- Đóng vai trò quan trọng trong việc khắc hoạ tính cách nhân vật đồng thời
góp phần thể hiện sự phát triển tính cách nhân vật Thúy Kiều:
+ Cậy chứ không phải Nhờ. Cậy là thể hiện niềm tin nhất, chỉ có em mới là
người chị tin cậy nhất. Vì thế “cậy” có sức nặng của niềm tin hơn.


+ Chịu lời chứ không phải Nhận lời. Chịu lời buộc người mình tin phải nghe
theo không thể từ chối. Nếu nói Nhận lời thì người nghe có thể từ chối.
+ Lạy, Thưa: thái độ kính cẩn, trang trọng với người bề trên hoặc với người

Mai sau dù có bao giờ,


Đốt lò hương ấy so tơ phím này…
+ Ngay trong lúc tưởng chừng Kiều sẽ buông xuôi, thì suy nghĩ của nhân vật
lại rẽ sang hướng khác. Những thán từ chỉ hành động khóc được sử dụng khi Kiều
nhớ về Kim Trọng:
Ôi Kim lang ! Hỡi Kim lang
Thôi thôi thiếp đã phụ chàng từ đây !
Màn trao duyên kết thúc trong tiếng kêu thảng thốt, tiếng nấc nghẹn ngào của
người con gái trong nỗi đau “phụ bạc chàng Kim”.
IV. KẾT QUẢ ỨNG DỤNG CỦA ĐỀ TÀI
Qua thực tế áp dụng đề tài vào việc giảng dạy tại 2 lớp 10A2 và 10A8 trường
THPT Hàm Rồng, tôi thu được kết quả như sau :
1. Về kiến thức:
- Với cách triển khai phần Đọc – hiểu văn bản Trao duyên theo hướng dành
một phần nhỏ lượng thời gian để hướng dẫn học sinh khảo sát ngôn ngữ hội thoại
của Thúy Kiều trong đoạn trích, học sinh có thể hoàn toàn chủ động điểm qua được
ngôn ngữ nhân vật Truyện Kiều – một phương diện nghệ thuật thành công đặc sắc


của đoạn trích Trao duyên. Học sinh đã thấy đặc điểm nổi bật của ngôn ngữ nhân
vật trong Truyện Kiều là sự cá tính hóa rất cao, từ đó suy ra mỗi nhân vật Truyện
Kiều đều có một lối nói riêng, một vốn từ riêng, không hề lẫn lộn.
- Giờ dạy sẽ giúp học sinh nhận ra ngôn ngữ mà Thúy Kiều dùng để trao
duyên cho Thúy Vân đã được lựa chọn hết sức chính xác, tiêu biểu cho nếp nghĩ,
nếp cảm và ngôn ngữ của Thúy Kiều ở đây vừa tham gia vào việc thể hiện sự phát
triển của các sự kiện vừa là nhân tố quan trọng góp phần tạo nên tính cách nhân vật
đa dạng, điển hình.
- Thêm một lần để củng cố cho học sinh kiến thức về ngôn ngữ hội thoại: đơn

Kim”. Vì vậy khi hướng dẫn học sinh tìm hiểu phần Tiểu dẫn, GV phải yêu cầu các
em chú ý đến điều này vì đó là hoàn cảnh dẫn đến việc trao duyên của Kiều, cũng là
cơ sở thứ nhất giúp việc lập luận của màn trao duyên thành công.
Thứ ba, đoạn văn đậm đặc tính người trong một không gian nghệ thuật bao
hàm cả một hệ thống các thủ pháp nghệ thuật, ngôn ngữ, hình tượng, nhất là ngôn
ngữ. Ở đó Nguyễn Du đã sáng tạo nên một cuộc vừa mang tính đối thoại vừa mang
tính độc thoại, gây nên một hiệu ứng thẩm mĩ vô cùng độc đáo; là nơi gặp gỡ giữa
ba tâm hồn đồng cảnh, đang quằn quại vì những lẽ khác biệt của tình đời. Giúp học
sinh phân tích đặc điểm sử dụng ngôn ngữ hội thoại độc đáo, đặc sắc của đại thi hào
Nguyễn Du trong đoạn trích; chỉ rõ nhóm động từ chỉ hành động nói năng của Thúy
Kiều từ đó thấy được vai trò của chúng trong việc khắc hoạ tính cách nhân vật cũng
như thể hiện ý đồ nghệ thuật của đoạn trích là việc giáo viên cần phải lưu ý.


Đoạn trích không dài, cũng không mang một nội dung to tát. Chỉ vẻn vẹn 34
câu thơ lục bát tái hiện lại cái đêm Kiều nhờ Thúy Vân thay mình lấy Kim Trọng để
trả nghĩa, để chấp nối duyên tình mà Kiều bỏ lại. Đoạn trích có lẽ cũng chỉ có
vậy, là một cuộc đối thoại khá công khai giữa hai chị em: Kiều là người nói, vân là
người nghe. Mặt khác, Thúy Kiều đã trao duyên nhưng tình thì còn giữ lại. Tuy
nhiên trong cả 34 câu thơ ấy, người ta không thấy, không nghe lời của Thúy Vân,
điều này cho thấy Nguyễn Du rất tinh tế, bởi trong hoàn cảnh ấy Thúy Vân không
thể nói gì. Tất cả ngôn ngữ của Thúy Kiều đều đặt Thúy Vân vào hoàn cảnh “mặc
nhiên phải chấp nhận”, đó là hiệu quả của phương thức lập luận trong lời thoại của
Thúy Kiều cũng như chiến lược giao tiếp của nhân vật. Dạy đoạn trích, giáo viên
không thể không chú ý đến điều này vì nó không chỉ là căn cứ để khẳng định tài
năng Nguyễn Du mà còn là cơ sở để hiểu hơn về tâm trạng và sự sắc sảo trong tính
cách Thúy Kiều.
Trong sự hoảng loạn khi tình yêu đã mất, mọi cái đều trở nên hư ảo, nửa tỉnh
nửa mê. Từ chỗ nói với em, rất tự nhiên Kiều chuyển sang nói với mình, nói với
người yêu, tức là từ đối thoại (thực chất là đơn thoại) chuyển sang độc thoại (nói


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status