Kiến thức cơ bản và các dạng câu hỏi về địa hình việt nam trong bồi dưỡng học sinh giỏi quốc gia - Pdf 40

KIẾN THỨC CƠ BẢN VÀ CÁC DẠNG CÂU HỎI VỀ ĐỊA HÌNH
VIỆT NAM TRONG BỒI DƯỠNG HỌC SINH GIỎI QUỐC GIA
MỤC LỤC
PHẦN MỞ ĐẦU............................................1
1. Lí do chọn đề tài...........................................................................................1
2. Mục đích của đề tài.....................................................................................1
3. Nhiệm vụ của đề tài.....................................................................................2
4. Phạm vi và giá trị nghiên cứu.......................................................................2
PHẦN NỘI DUNG..............................................................................................3
PHẦN 1: KIẾN THỨC CƠ BẢN VỀ ĐỊA HÌNH VIỆT NAM......................3
PHẦN KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ..............................................................32
PHẦN MỞ ĐẦU
1. Lí do chọn đề tài
Trong chương trình thi học sinh giỏi quốc gia, nội dung địa lí tự nhiên
bao gồm địa lí tự nhiên đại cương và địa lí tự nhiên Việt Nam được đánh giá là
phần kiến thức hay và khó. Để làm tốt các câu hỏi này học sinh phải nắm vững
kiến thức cơ bản, phải tư duy lô gic, nhạy bén và sáng tạo. Địa hình là thành
phần tự nhiên phức tạp chịu tác động của nhiều nhân tố và có mối quan hệ qua
lại với các thành phần tự nhiên khác. Đây là phần kiến thức tự nhiên được lựa
chọn đưa vào các câu hỏi của đề thi quốc gia khá nhiều ( một cách trực tiếp
hoặc gián tiếp). Vì vậy với nội dung kiến thức này, giáo viên bồi dưỡng đội
tuyển học sinh giỏi quốc gia thường đầu tư thời gian nhiều hơn, tìm tòi, tư duy
để có được kiến thức chính xác, phong phú và cách truyền đạt phương pháp làm
bài mang lại hiệu quả tối đa cho học sinh. Trong giới hạn của chuyên đề, thành
phần địa hình - một trong các thành phần quan trọng của thiên nhiên được lựa
chọn làm nội dung trình bày. Chuyên đề: “Kiến thức cơ bản và các dạng câu
hỏi về địa hình Việt Nam trong bồi dưỡng học sinh giỏi quốc gia” đi sâu
phân tích các kiến thức liên quan đến địa hình Việt Nam chương trình Địa lí
lớp 12 trên cơ sở kế thừa các kiến thức về địa hình của phần địa lí tự nhiên đại
cương trong chương trình địa lí lớp 10, chuyên đề hệ thống một số dạng câu
hỏi trong các đề thi học sinh giỏi quốc gia và một số vấn đề có liên quan đến


PHẦN NỘI DUNG
PHẦN 1: KIẾN THỨC CƠ BẢN VỀ ĐỊA HÌNH VIỆT NAM
I. Đặc điểm chung địa hình nước ta
1. Địa hình đồi núi chiếm phần lớn diện tích nhưng chủ yếu là đồi núi
thấp.
a.
Đất nước nhiều đồi núi
- Hệ thống núi của nước ta kéo dài từ biên giới Việt Trung đến Đông
Nam Bộ theo hướng Tây Bắc – Đông Nam với chiều dài trên 1400km. Đồi núi
tạo thành biên giới tự nhiên giữa nước ta với Trung Quốc, Lào và phần lớn
đường biên giới với Campuchia.
- Đồi núi chiếm tới ¾ diện tích lãnh thổ, đồng bằng chỉ chiếm ¼ diện tích
lãnh thổ
- Ngay trên các đồng bằng ở nước ta còn có nhiều đồi núi sót, điển hình
như đồng bằng sông Hồng.
- Đồng bằng duyên hải miền Trung còn có nhiều nhánh núi đâm ngang,
ăn lan ra sát biển như dãy Hoành Sơn, Bạch Mã...
b. Chủ yếu là đồi núi thấp
- Địa hình đồi núi thấp chiếm hơn 60% diện tích nước ta, nếu kể cả đồng
bằng thì địa hình thấp dưới 1000m chiếm 85% diện tích
- Địa hình núi trung bình chiếm 14 %, núi cao trên 2000m chỉ chiếm 1%
diện tích, điển hình nhất ở vùng Tây Bắc.
2. Cấu trúc địa hình nước ta khá đa dạng.
a. Cấu trúc địa hình nước ta là cấu trúc cổ được Tân kiến tạo làm trẻ lại
và có tính phân bậc rõ rệt
- Địa hình nước ta được tạo lập vững chắc từ sau giai đoạn Cổ kiến tạo
( cách đây 65 triệu năm). Sau giai đoạn này, lãnh thổ nước ta trải qua một thời
kỳ tương đối ổn định và tiếp tục được hoàn thiện dưới chế độ lục địa, chủ yếu
chịu sự tác động của các quá trình ngoại lực. Vì vậy, địa hình núi cổ bị bào

trung bình, núi thấp, đồi trung du chuyển tiếp xuống đồng bằng.
c. Cấu trúc địa hình nước ta gồm 2 hướng chính:
- Hướng Tây Bắc – Đông Nam thể hiện rõ rệt trong khu vực từ hữu ngạn
sông Hồng đến đèo Hải Vân: Hoàng Liên Sơn, Trường Sơn Bắc, Pudendinh,
Pusamsao...
- Hướng vòng cung là hướng sơn văn chính của khu vực tả ngạn sông
Hồng và khu vực Nam Trung Bộ liên quan đến hình dáng khá tròn trịa của các
khối nền Tiền Cambri.
+ Các núi Việt Bắc và Đông Bắc là những cánh cung ngắn, mở rộng về
phía Bắc và quy tụ tại vùng núi Tam Đảo: sông Gâm, Ngân Sơn, Bắc Sơn,
Đông Triều.
4


+ Trường Sơn Nam là cả 1 cánh cung lớn ôm lấy các cao nguyên badan
phía tây, bao gồm nhiều dãy núi có hướng Tây Bắc – Đông Nam; Bắc – Nam,
Đông Bắc – Tây Nam kế tiếp nhau
- Ngoài ra còn có 1 số dãy núi có hướng gần như Tây – Đông: Hoành
Sơn, Bạch Mã...
3.
Địa hình của cùng nhiệt đới ẩm gió mùa
- Khí hậu là nhân tố có ảnh hưởng lớn đến địa hình. Khí hậu nước ta
mang tính chất nhiệt đới ẩm gió mùa nên địa hình nước ta cũng tiêu biểu cho địa
hình của vùng nhiệt đới ẩm gió mùa.
- Địa hình nước ta được phủ bởi lớp vỏ phong hoá rất dày do nhiệt độ
trung bình năm cao, độ ẩm lớn nên quá trình phong hoá đá mẹ diễn ra mạnh.
- Địa hình nước ta bị biến đổi sâu sắc do quá trình xâm thực, bào mòn,
quá trình này diễn ra mạnh ở khu vực đồi núi:
+ Nhiệt độ cao với một mùa mưa, một mùa khô xen kẽ, lượng mưa lớn
nên địa hình bị chia cắt mạnh, đất bị xói mòn, rửa trôi, nhiều nơi trơ sỏi đá nhất

tác động tương hỗ đồng thời của các quá trình nội sinh và ngoại sinh. Từ các
quá trình nâng lên hạ xuống, tách dãn đến đứt gẫy, phun trào đến các quá trình
xâm thực, bóc mòn, vận chuyển, bồi tụ…Tuy nhiên các quá trình nói trên diễn
ra có sự không đồng nhất trên toàn lãnh thổ mà giữa các khu vực, các phần
lãnh thổ có sự khác nhau. Điều này đã làm cho địa hình nước ta rất đa dạng và
phức tạp, thay đổi từ bắc chí nam, từ tây sang đông, từ miền núi đến miền
đồng bằng, bờ biển đến hải đảo. Địa hình có sự phân hóa sâu sắc theo từng khu
vực.
Trên bình diện chung lãnh thổ nước ta có thể thấy địa hình phân hóa ra
làm hai khu vực lớn đó là khu vực địa hình đồi núi và khu vực địa hình đồng
bằng. Địa hình đồi núi chiếm 3/4 diện tích lãnh thổ, tập trung chủ yếu ở phía
tây, còn đồng bằng chỉ chiếm ¼ diện tích, tập trung ở vùng ven biển phía
đông.
- Vùng đồi núi nước ta chủ yếu là đồi núi thấp, phần lớn ở độ cao dưới
1000 m, tỉ lệ này chiếm 60% diện tích lãnh thổ, địa hình núi cao trên 2000 m
chỉ chiếm 1% diện tích. Vùng đồi núi là kết quả của quá trình nâng lên trong
giai đoạn Tân kiến tạo làm trẻ hóa các bán bình nguyên cổ đồng thời chịu tác
động mạnh mẽ của môi trường nhiệt đới gió mùa ẩm với sự tham gia tích cực
của các nhân tố mưa, gió, phong hóa phá hủy, xâm thực địa hình
- Vùng đồng bằng gồm các đồng bằng châu thổ và đồng bằng duyên
hải ven biển. Địa hình ở đây thấp và tương đối bằng phẳng. Các đồng bằng chủ
yếu được hình thành trên những vùng sụt võng và được phù sa sông, biển bồi
lấp.

6


Sự phân hóa địa hình cũng được biểu hiện ở ngay trong miền đồi núi và
miền đồng bằng với những sắc thái riêng về hình thái cấu trúc.
1. Miền đồi núi



Đà, sông Mã, sông Chu. Hướng núi ở đây chủ đạo là hướng tây bắc – đông
nam, trùng với hướng nghiêng của địa hình.
c. Vùng núi Trường Sơn Bắc
Giới hạn từ phía nam sông Cả đến dãy Bạch Mã, gồm các dãy núi
chạy song song và so le với nhau theo hướng tây bắc – đông nam. Địa hình
núi ở đây độ cao đã hạ thấp hơn nhiều so với Tây Bắc, núi được nâng cao ở
hai đầu thuộc phía tây các tỉnh Nghệ An, Thừa Thiên Huế và thấp ở giữa
thuộc vùng núi đá vôi Quảng Bình, Quảng Trị. Các khu vực nhô cao vẫn
xuất hiện các đỉnh cao trên 2000m, như Phu Hoạt(2452m), Pu Xai Lai
Leng( 2711m). Dãy Trường Sơn Bắc kéo dài và hẹp ngang, sườn bất đối
xứng giữa sườn đông và sườn phía tây. Sườn đông nằm kề sát với dải đồng
bằng nhỏ hẹp ven biển nên rất dốc, sườn phía tây thoải hơn do chuyển tiếp
là các cao nguyên của nước bạn Lào. Hướng núi ở đây phổ biến vẫn là tây
bắc – đông nam, nhưng đôi khi có những nhánh núi đâm ngang ra biển theo
hướng gần vĩ tuyến, như ở khu vực đèo ngang hay mạch núi cuối cùng là
dãy Bạch Mã, được xem như là ranh giới với vùng núi Trường Sơn Nam.
d. Vùng núi Trường Sơn Nam
Nằm ở phía nam dãy Bạch Mã bao gồm các khối núi và cao nguyên.
Đặc điểm núi ở đây là các mạch núi không còn điển hình mà chủ yếu ở dạng
vòm, khối, tảng. địa hình núi cũng được nâng cao ở hai đầu và thấp ở giữa.
Những nơi nâng cao thuộc khối nhô Kon Tum và cực Nam Trung Bộ. Ở đây
với những đỉnh núi cao trên 2000m nghiêng về phía đông tạo nên thế chênh
vênh bên dải đồng bằng nhỏ hẹp ven biển như: Vọng Phu 2051m, Chư Yang
Sin 2405m, Lang Biang 2163m. Tương phản địa hình núi giữa sườn đông và
tây ở đây là, sườn phía tây gắn với cao nguyên ban dan xếp tầng: Plây Ku,
Đắc Lắc, Mơ Nông, Di Linh tương đối bằng phẳng, độ cao khác nhau
(500m, 800m,1000m) cùng với đó là các bán bình nguyên xen đồi ở phía
tây. Phía đông dưới chân núi là dải đồng bằng nhỏ hẹp ven biển đã tạo nên

40m. Phần trung tâm đồng bằng độ cao trung bình khoảng từ 2m-4m, hiện nay
đã thoát khỏi ảnh hưởng của các quá trình bờ biển và phá tam giác châu. Phần
phía đông giáp biển địa hình ở đây rất thấp từ 0-2m nằm trong phạm vi tác
động của thủy triều. Như vậy địa hình đồng bằng cao ở rìa phía tây và tây bắc
thấp dần ra phía biển ở phía đông.
Địa hình đồng bằng đã chịu chi phối và can thiệp mạnh của con người,
tiêu biểu là các hệ thống đê ngăn lũ đã chia cắt đồng bằng thành nhiều ô. Vùng
đất trong đê không được bồi tụ phù sa thường xuyên nên các ruộng cao thường
đất bạc màu, các ô trũng ngập nước khó cải tạo. Vùng đất ngoài đê hàng năm
vẫn được bồi tụ phù sa, địa hình đất đai chưa ổn định

9


- Đồng bằng sông Cửu Long do phù sa của hệ thống sông Tiền và sông
Hậu bồi đắp, hình thái của đồng bằng có dạng hình thang, diện tích là
40.000km2. Địa hình của đồng bằng rất thấp, độ cao trung bình 2 - 3m, không
có đê bao bọc, mạng lưới kênh rạch chằng chịt. Mùa lũ, nước ngập trên diện
rộng, có nơi ngập sâu tới 3m. Việc bồi tụ hàng năm vẫn tiếp diễn, một số vùng
trũng lớn: Đồng Tháp Mười, Tứ Giác Long Xuyên chưa được bồi lấp xong.
Mùa cạn, nước triều lấn mạnh làm 2/3 diện tích đồng bằng bị nhiễm phèn,
nhiễm mặn.
b. Đồng bằng ven biển miền Trung
Đồng bằng ven biển miền Trung do biển đóng vai trò chủ yếu trong sự
hình thành đồng bằng. Đây là một dải các đồng bằng nhỏ hẹp nằm sát ven biển
miền Trung và chân dãy Trường Sơn, với diện tích 15.000km 2. Gồm các đồng
bằng: Thanh-Nghệ-Tĩnh, Bình-Trị-Thiên, Nam-Ngãi- Định, Phú-Khánh, Ninh
Thuận-Bình Thuận. Một số đồng bằng được mở rộng ở cửa sông lớn như:
đồng bằng Thanh Hoá (sông Mã – sông Chu),đồng bằng Nghệ An (sông Cả),
đồng bằng Quảng Nam (hệ thống sông Vu Gia - Thu Bồn). Nhiều đồng bằng

nước ta được trẻ lại, chủ yếu là núi thấp và có cấu trúc đa dạng, phức tạp
2. Nội lực
* Nội lực là lực sinh ra ở bên trong trái đất do các nguồn năng lượng phát
sinh trong lòng trái đất như: năng lượng phân hủy các chất phóng xạ, do các
phản ứng hóa học tỏa nhiệt, sự chuyển dịch và sắp xếp lại vật chất cấu tạo trái
đất theo quy luật trọng lực.
* Nội lực: tác động đến địa hình nước ta thông qua các vận động kiến tạo
làm cho bề mặt địa hình nước ta được nâng cao, gồ ghề hơn. Lãnh thổ nước ta
được hình thành lâu dài, phức tạp với 3 giai đoạn kèm theo các vận động kiến
tạo:
-Giai đoạn Tiền Cambri với các mảng nền cổ: Hoàng Liên Sơn, khối
vòm sông Chảy, khiên Kom Tum có vai trò định hướng cho sự hình thành các
vùng núi và quy định hướng núi chính của nước ta
+ Khu vực nào phát triển trên khối nền cổ hướng vòng cung thì địa hình
có hướng vòng cung: Đông Bắc (với khối vòm Sông Chảy), Trường Sơn
Nam(với khối Kon Tum).
+ Khu vực nào phát triển trên nền cổ hướng Tây Bắc Đông Nam (khối
Hoàng Liên Sơn, Cánh Cung Sông Mã, Puhoat) thì có hướng Tây Bắc Đông
Nam: Hoàng Liên Sơn, Trường Sơn Bắc...
- Giai đoạn Cổ kiến tạo: Tại lãnh thổ nước ta có nhiều khu vực bị chìm
ngập dưới biển trong các trầm tích đã được nâng lên trong các pha uốn nếp của
các kỳ vận động tạo núi: Caledoni, Hecxini ( đại cổ sinh); Indoxini, Kimeri
( đại Trung sinh).
+ Các hoạt động uốn nếp và nâng lên ở nhiều nơi. Trong đại Cổ sinh là
các địa khối thượng nguồn Sông Chảy, khối nâng Việt Bắc, địa khối Kom
Tum. Ở Trung sinh, các dãy núi hướng Tây Bắc – Đông Nam ở Tây Bắc và
11


Bắc Trung Bộ, các dãy núi hướng vòng cung ở Đông Bắc và các khối núi cao ở

đồng thời cũng tạo ra các dạng địa hình mới.
3.1. Thiên nhiên nhiệt đới ẩm gió mùa

12


+ Trong điều kiện nhiệt đới ẩm gió mùa với mùa mưa và mùa khô rõ rệt
đã thúc đẩy quá trình xâm thực ở miền đồi núi mạnh hơn làm địa hình ở miền
đồi núi nước ta càng thêm cắt xẻ, bào mòn.
+ Tại những nơi miền núi bị mất lớp phủ thực vật, đất trơ sỏi đá khi có
mưa lớn gây ra hiện tượng đất trượt đá lở làm cho địa hình miền núi nước ta có
độ chia cắt càng lớn.
+ Vùng núi đá vôi quá trình phong hóa hóa học diễn ra mạnh (Phong
hóa hóa hóa học là quá trình phá hủy đá làm biến đổi thành phần, tính chất hóa
học của đá và khoáng vật bằng tác động của các chất khí, nước, những khoáng
chất hòa tan trong nước). Quá trình này thường tạo nên các dạng địa hình
cacxtơ như cacxtơ trên mặt; cacxtơ địa hình âm( Caren, thung lũng cacxtơ,
máng cacxtơ, cánh đồng cacxtơ, giếng cacxtơ, tháp cacxtơ, nón cacxtơ…); các
dạng địa hình cacxtơ ngầm tiêu biểu là hang động. Ở nước ta quá trình này
diễn ra mạnh ở các vùng núi đá vôi nơi có nhiều các hang động thạch nhũ hình
thành các địa hình Karst với những hang động độc đáo: Phong Nha, Tam
Thanh, Nhị Thanh...
+ Dưới tác dụng của dòng chảy sông ngòi, các vật liệu cát bùn được vận
chuyển từ miền núi về những vùng trũng thấp hình thành các đồng bằng châu
thổ rộng lớn: đồng bằng Bắc Bộ, Nam Bộ.
+ Thiên nhiên nhiệt đới ẩm gió mùa với nhiệt cao, ẩm lớn làm cho sinh
vật nhiệt đới phát triển, quá trình phong hóa sinh học phá hủy các khoáng vật
dưới tác động của sinh vật như: các vi khuẩn, nấm, rễ cây… các sinh vật này
làm cho đá và khoáng vật vừa bị phá hủy về mặt cơ học vừa bị phá hủy về mặt
hóa học. Chính thảm thực vật đã hạn chế tác động của ngoại lực lên bề mặt địa

- Địa hình có sự phân bậc rõ rệt theo độ cao: núi thấp dưới 1000 m chiếm
trên 60%, núi trung bình chiếm 14 %, núi cao trên 2000 m chiếm 1% diện tích
nên khí hậu, các yếu tố khí hậu: nhiệt, mưa, áp... thay đổi theo độ cao địa hình
+ Càng lên cao nhiệt độ càng giảm (lên cao 100m thì nhiệt độ giảm
0,60C). Ví dụ, qua biểu đồ nhiệt độ trung bình năm ta thấy vùng núi thấp đông
bắc nền nhiệt độ từ 200C đến 240C trong khi ở một số vùng núi cao Tây Bắc
nhiệt độ trung bình năm chỉ đạt dưới 18 0C.Nền nhiệt độ trung bình năm ở
Duyên hải Nam Trung Bộ trên 240C thì ở Tây Nguyên (trên các cao nguyên)
chỉ đạt dưới 180C.
+ Càng lên cao, lượng mưa càng tăng. So sánh hai trạm khí hậu Nha
Trang (từ 0 đến 50m), Đà Lạt (1000 đến 1500m) ta thấy: Nha Trang lượng mưa
trung bình năm từ 800-1600mm, còn Đà Lạt lượng mưa trung bình năm từ
1600- 2000 mm.
+ Do sự thay đổi nhiệt độ, lượng mưa theo độ cao nên nước ta hình thành
ba vành đai khí hậu từ thấp lên cao:

14


. Đai nhiệt đới gió mùa (dưới 600 – 700m ở miền Bắc, dưới 900 – 1000m
ở miền Nam): Khí hậu mang tính chất nhiệt đới ẩm gió mùa với nhiệt độ trung
bình năm trên 200C, mùa hạ trên 250C, độ ẩm thay đổi tuỳ nơi, từ khô hạn đến
ẩm ướt.
. Đai cận nhiệt đới gió mùa (tiếp theo đến 2600m) : Khí hậu mang tính
chất cận nhiệt đới mát mẻ, nhiệt độ trung bình năm dưới 20 0C, không có tháng
nào trên 250C. Mưa nhiều hơn.
. Đai ôn đới gió mùa trên núi (trên 2600m) chỉ có ở Hoàng Liên Sơn,
quanh năm rét với nhiệt độ dưới 150C, mùa đông xuống dưới 50C.
* Hướng núi:
- Hướng vòng cung

biên độ nhiệt năm lớn
+ Phần lãnh thổ phía Nam: khí hậu mang tính chất cận xích đạo gió mùa,
nắng nóng quanh năm, nhiệt độ trung bình năm trên 250C, không có tháng nào
nhiệt độ dưới 200C, biên độ nhiệt năm nhỏ.
- Hướng sườn:
+ Các địa phương ở sườn đón gió thì mưa nhiều, sườn khuất gió thì mưa
ít tạo thành các trung tâm mưa nhiều, mưa ít điển hình (Ví dụ: so sánh Móng
Cái với Lạng Sơn...).
+ Hướng địa hình song song với hướng gió lượng mưa sẽ rất thấp, ví dụ
khu vực cực Nam Trung Bộ (Ninh Thuận, Bình Thuận) lượng mưa thấp nhất cả
nước (dưới 800mm).
* Bề mặt địa hình:
- Sự không đồng nhất của bề mặt địa hình, nhất là ở miền núi tạo nên các
loại gió địa phương: gió núi, gió thung lũng
- Ở nơi địa hình kém bằng phẳng sẽ có biên độ nhiệt ngày – đêm lớn hơn
nơi đất bằng, trên bề mặt các cao nguyên.
2. Ảnh hưởng của địa hình đến sông ngòi nước ta:
* Hướng địa hình (hướng núi hay hướng nghiêng địa hình) qui định
hướng các dòng chảy, địa hình nước ta có 2 hướng chính Tây Bắc Đông Nam và
hướng vòng cung nên sông ngòi nước ta cũng chảy theo 2 hướng chính đó.
Trong 9 hệ thống sông lớn có đến 5 hệ thống sông chảy theo hướng Tây Bắc
Đông Nam (hệ thống sông Thái Bình, sông Hồng, sông Mã, Cả, Ba, Cửu Long);
các sông chảy theo hướng vòng cung chủ yếu ở vùng núi Đông Bắc như sông
Cầu, sông Thương, sông Lục Nam.
Ngoài ra, hướng địa hình còn ảnh hưởng đến chế độ nước sông thông qua
khí hậu.
*Độ dốc địa hình ảnh hưởng đến tốc độ dòng chảy, trắc diện dọc của
sông ngòi. Do địa hình miền núi tập trung ở phía Tây, đồng bằng ở phía Đông,
16


nhiều tầng tán, nhiều cây dây leo.
. Chiếm ưu thế là kiểu hệ sinh thái rừng nhiệt đới mùa: rừng thường
xanh, rừng nửa rụng lá, rừng thưa nhiệt đới khô.

17


. Hệ sinh thái rừng phát triển trên các loại thổ nhưỡng đặc biệt: rừng
thường xanh trên đá vôi, rừng ngập mặn trên đất mặn, rừng tràm trên đất phèn,
xa van, cây bụi gai nhiệt đới khô trên đất cát, đất xám vùng khô hạn.
+ Ở độ cao 600-700m đến 1600-1700m: rừng cận nhiệt đới lá rộng với
thành phần chủ yếu là các loài cây thuộc họ dẻ, re, hồ đào và rừng cận nhiệt lá
kim như thông, pơmu, samu. Động vật: chim, thú cận nhiệt phương Bắc; thú có
lông dày: gấu, sóc, cầy, cáo.
+ Ở độ cao từ 1600-1700m đến 2600m: rừng cận nhiệt đới mưa mù trên
đất alit. Rừng sinh trưởng, phát triển kém, thực vật thấp nhỏ, đơn giản về thành
phần loài, rêu, địa y phủ kín thân, cành cây. Trong rừng có mặt các loài chim di
cư thuộc khu hệ Himalaya
+ Ở độ cao trên 2600m: quần hệ thực vật núi cao, các loài thực vật ôn đới
như đỗ quyên, lãnh sam, thiết sam.
* Hướng sườn địa hình: Cùng 1 dãy núi, hướng sườn địa hình khác nhau,
tương quan nhiệt, ẩm...khác nhau giưa 2 sườn ảnh hưởng đến độ cao bắt đầu và
kết thúc của các vành đai sinh vật; tạo nên sự phân hóa sinh vật giữa 2 sườn: Ví
dụ như sườn Đông dãy Trường Sơn Nam hình thành kiểu thảm thực vât trảng
cỏ, xa van....trong khi sườn Tây Trường Sơn Nam hình thành kiểu rừng kín
thường xanh.
* Độ dốc địa hình khác nhau ảnh hưởng đến quá trình xói mòn, rửa trôi,
tích tụ các vật chất trong đất từ đó ảnh hưởng gián tiếp đến sự sinh trưởng và
phát triển sinh vật nước ta.
4. Ảnh hưởng địa hình đến tài nguyên đất của nước ta.

Long Xuyên, bán đảo Cà Mau.
V. Ảnh hưởng địa hình đến phát triển kinh tế - xã hội nước ta.
1. Ảnh hưởng địa hình miền núi đến phát triển kinh tế - xã hội nước ta
* Thế mạnh
- Đối với phát triển công nghiệp
+ Khu vực đồi núi giàu tài nguyên khoáng sản: có nhiều loại khoáng sản
có nguồn gốc nội sinh như đồng, chì, thiếc...và các khoáng sản có nguồn gốc
ngoại sinh: bô xít, apatit, đá vôi. Cung cấp nguồn nguyên, nhiên liệu dồi dào
cho phát triển công nghiệp với cơ cấu ngành đa dạng và toàn diện
+ Trữ năng thuỷ điện lớn: Các con sông ở miền núi nước ta có tiềm năng
thuỷ điện lớn, công suất có thể đạt khoảng 30 nghìn MW với sản lượng 260 270 tỉ KWh, tập trung chủ yếu ở hệ thống sông Hồng (37%), sông Đồng Nai
(19%)...cho phép xây dựng các nhà máy thuỷ điện công suất lớn vừa và nhỏ
- Rừng và đất trồng tạo cơ sở để nước ta phát triển lâm - nông nghiệp
nhiệt đới

19


+ Rừng: chiếm phần lớn diện tích, trong rừng có nhiều gỗ quý, nhiều loại
động thực vật, cây dược liệu, lâm sản, đặc biệt là ở các vườn quốc gia…trong
đó có nhiều loài tiêu biểu cho sinh vật rừng nhiệt đới nên thuận lợi cho bảo tồn
hệ sinh thái, bảo vệ môi trường, bảo vệ đất, khai thác gỗ…
+ Đất trồng và đồng cỏ: Miền núi nước ta có các cao nguyên và thung
lũng thuận lợi cho hình thành các vùng chuyên canh cây công nghiệp (Đông
Nam Bộ, Tây Nguyên, Trung du miền núi Bắc Bộ….), cây ăn quả. Vùng đồng
cỏ thuận lợi cho chăn nuôi đại gia súc. Ngoài các cây trồng vật nuôi nhiệt đới, ở
vùng cao còn có thể nuôi trồng các loài động thực vật cận nhiệt và ôn đới. Đất
đai vùng bán bình nguyên và đồi trung du thích hợp để trồng các cây công
nghiệp, cây ăn quả và cả cây lương thực
- Du lịch: điều kiện địa hình, khí hậu, rừng, môi trường sinh thái…thuận

- Bão, lũ lụt, hạn hán …thường xảy ra, gây thiệt hại lớn về người và tài
sản.
- ĐBSH vùng trong đê phù sa không được bồi đắp dẫn đến đất bạc màu
và tạo thành các ô trùng ngập nước. ĐBSCL do địa hình thấp nên thường ngập
lụt, chịu tác động mạnh mẽ của sóng biển và thuỷ triều, dẫn tới diện tích đất
ngập mặn, nhiễm phèn lớn. Đồng bằng ven biển miền Trung thì quá nhỏ hẹp, bị
chia cắt, nghèo dinh dưỡng.

21


PHẦN II : CÁC DẠNG BÀI TẬP PHẦN ĐỊA HÌNH VIỆT NAM
I. CÂU HỎI TRÌNH BÀY
1. Các nội dung có thể hỏi
- Đặc điểm chung địa hình Việt Nam (hướng, dạng địa hình, ...)
- Phân hóa: các khu vực địa hình, địa hình các miền tự nhiên.
2. Các câu hỏi mẫu
- Trình bày đặc điểm chung của địa hình Việt Nam.
- Trình bày đặc điểm địa hình vùng núi Đông Bắc.
- Trình bày đặc điểm địa hình vùng núi Trường Sơn Bắc.
- Trình bày đặc điểm địa hình vùng núi Trường Sơn Nam.
- Trình bày đặc điểm địa hình bán bình nguyên và trung du.
- Trình bày đặc điểm địa hình các vùng đồng bằng ở nước ta.
- Trình bày đặc điểm địa hình đồng bằng sông Hồng.
- Trình bày đặc điểm địa hình đồng bằng sông Cửu Long.
- Trình bày đặc điểm địa hình đồng bằng Duyên hải miền Trung.
- Trình bày thế mạnh, hạn chế vùng địa hình đồi núi.
- Trình bày thế mạnh, hạn chế vùng địa hình đồng bằng.
- Trình bày sự phân hóa địa hình của miền Tây Bắc và Bắc Trung Bộ.
- Trình bày sự phân hóa địa hình của miền Bắc và Đông Bắc Bắc Bộ.

Bộ.
* Giới hạn: nằm từ hữu ngạn sông Hồng và rìa phía Tây Tây Nam của
đồng bằng Bắc Bộ đến dãy Bạch Mã. Phía Bắc tiếp giáp miền Bắc và Đông Bắc
Bắc Bộ, Trung Quốc; phía Đông giáp biển; phía Nam giáp miền Nam Trung Bộ
và Nam Bộ; phía Tây giáp Lào.
* Đặc điểm chung của địa hình:
+ Gồm 2 bộ phận chính là: đồi núi chiếm 4/5 diện tích của vùng; đồng
bằng diện tích nhỏ hẹp dọc ven biển.
+ Hướng nghiêng chung là Tây Bắc – Đông Nam do vào thời kỳ Tân kiến
tạo phía Tây Bắc và phía Tây được vận động nâng cao hơn, cường độ mạnh
hơn, càng về phía Đông Nam, cường độ yếu dần.
* Đặc điểm các dạng địa hình
+ Khu vực miền núi: chiếm 4/5 diện tích toàn miền tập trung phía Tây
Bắc và Tây gồm 2 miền núi lớn là vùng núi Tây Bắc và vùng Trường Sơn Bắc.
Vùng núi Tây Bắc là khu vực núi cao nhất cả nước, độ cao trung bình trên
1500m, nổi bật là dãy Hoàng Liên Sơn với một số đỉnh cao khoảng 3.000m
(Phan - xi – păng 3143m); Trường Sơn Bắc từ Nam sông Cả đến dãy Bạch Mã

23


chạy dọc biên giới Việt – Lào có nhiều đỉnh núi cao trên 2.000m (Rào Cỏ, Pu
xai lai leng).
+ Hướng núi chính là Tây Bắc - Đông Nam thể hiện rõ qua hướng dãy
Trường Sơn Bắc và Hoàng Liên Sơn, các dãy núi dọc biên giới Việt Lào thuộc
Tây Bắc như Pu Đen Đinh, Pu Sam Sao.
- Hình thành các cao nguyên đá vôi (Tả Phình, Mộc Châu, Sơn La) do
quá trình hình thành chịu tác động của khối nền cổ theo hướng Tây Bắc – Đông
Nam: Hoàng Liên Sơn, Pu Hoạt, sông Mã.
- Hướng Tây - Đông của các dãy núi đâm ngang biển như Hoành Sơn,

- Lấy các nhân tố ảnh hưởng tới phát sinh, phát triển, thay đổi địa hình:
Nội lực và ngoại lực (khí hậu, sinh vật, ...) để giải thích cho đặc điểm địa hình
hoặc sự phân hóa địa hình.
Cần có dẫn chứng kết hợp với lý lẽ để làm bài chặt chẽ, sâu.
4. Ví dụ
Câu hỏi 1: Tại sao nói địa hình nước ta được Tân kiến tạo làm trẻ lại và
có tính phân bậc rõ rệt
- Lịch sử hình thành lãnh thổ nước ta diễn ra lâu dài từ giai đoạn Tiền
Cambri đến hết giai đoạn cổ kiến tạo, phần lớn lãnh thổ nước ta được nâng lên.
- Trong kỉ Palêôgen kéo dài 42 triệu năm (thời kỳ đầu Tân kiến tạo) nước
ta nằm ở chế độ lục địa, mặt bằng được san bằng, hạ thấp độ cao, địa hình trở
nên mềm mại hơn. Đến kỉ Palêôgen cách đây 23 triệu năm, vận động tạo núi
An-pơ-Himalaya tác động đến lãnh thổ nước ta với 6 chu kỳ tạo núi với các
cường độ khác nhau làm địa hình trẻ lại, tạo nhiều bậc địa hình.
+ Núi cao (trên 2000m) chủ yếu ở Hoàng Liên Sơn, thượng nguồn sông Chảy,
khối núi Bắc Kon Tum.
+ Núi trung bình (1000 – 2000m)
+ Núi thấp (400 – 1000m): Đông Bắc
+ Bán bình nguyên và trung du đồng bằng
Câu hỏi 2: Tại sao khu vực vùng núi Đông Bắc địa hình hướng vòng
cung và núi thấp là chủ yếu?
- Giới hạn: Vùng núi Đông Bắc thuộc tả ngạn Sông Hồng là vùng đồi núi
từ dãy Con Voi tới đồi núi ven biển Quảng Ninh.
- Tác động của nội lực: Đã quy định hướng và độ cao địa hình vùng núi
Đông Bắc. Ngoài ra còn do tác động của ngoại lực (gió, mưa, nhiệt...)
- Cụ thể:
+ Do nằm trong vùng khí hậu nhiệt đới gió mùa, nhiệt độ cao, ẩm lớn xói
mòn xuất hiện làm hạ thấp địa hình. Trong lịch sử hình thành lãnh thổ do vùng
nằm ở vùng rìa khối nền Hoa Nam (Trung Quốc) nên nâng yếu, tạo núi thấp.
25


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status