SKKN một số biện pháp quản lý nâng cao chất lượng học sinh yếu kém trường THPT số 2 bát xát - Pdf 40

MỤC
1. Đặt vấn đề
2. Giải quyết vấn đề
2.1. Cơ sở lí luận
2.2. Thực trạng
2.3. Một số biện pháp quản lý, chỉ đạo nâng cao chất
lượng học sinh yếu kém
2.3.1. Tổ chức phụ đạo học sinh yếu kém
2.3.2. Nâng cao chất lượng học sinh yếu kém dài hạn
2.3.3. Đổi mới phương pháp dạy học, kiểm tra đánh giá
2.3.4. Duy trì học sinh đi học chuyên cần
2.3.5. Giám sát giờ tự học buổi tối của học sinh ở trọ.
2.4. Hiệu quả của SKKN
3. Kết luận
Tài liệu tham khảo

TRANG
1
1
1
3
4
4
5
7
8
9
10
11
12


d c
- Theo “Từ điển tiếng việt”: “Quản lý là tổ c ức và điều hành độ g theo
n ững yêu cầu nhất địn ” [28; tr 789].
- Theo tác giả Nguyễn Văn bình thì: “Quản lý là ột ng thuật đạt
được
c tiêu đã đề ra thông qua v c đ ều k ể , phố ợp, hướng dẫ , c ỉ
huy hoạt động của n ững n ườ k c” [5; tr 176]
- Theo tác giả Đỗ Hoàng Toàn: “Quả lý là sự tác động có tổ c ức, có
định ướ của c ủ thể lên đối tượ quả lý nhằm sử d ng có hi u quả ất
c c t ề năng, c c cơ hội của
thống để đạt được c tiêu đặt ra trong đ ều
k b ến chuyể của môi trườ ” [24; tr 43].
- GS Mai Hữu Khuê quan niệm: “Quả
à sự tác động có c đích tớ
tập thể n ữ
gườ lao động nhằ đạt được n ững kết quả hất đị và m c
đích đã đị trước” [15; tr 19,20].
- GS Đặng Vũ Hoạt và GS Hà Thế Ngữ cho rằng: “Quản lý là một quá
trình có đị
ướ g, quá trình có
c tiêu, quả lý là ột h thống là quá
trình tác độ đế
thống ằ đạt được nhữ
c tiêu nhất định. N ữ
c tiêu này đặc trư cho trạ thái ớ của
thống mà ngườ quả lý
mong muố ” [13; tr17]


- Theo GS Nguyễn Ngọc Quang: “Quả lý là tác động có

giáo dục của nhà trường theo kế hoạch đề ra từng năm học và theo yêu cầu phát
triển giáo dục.
2.
ất ượ dạy c và u quả
d c của
v
Theo tác giả Nguyễn Công Giáp, bàn về phạm trù chất lượng và hiệu quả
giáo dục có nêu: “ ất ượ dạy c của
v
được t ể
bằ c ất
ượ
c tập của c s
dựa và t u c , t à t c về c tập, tỉ
ớp,
tỉ tốt
p ”
Theo udi Schollaer một chuyên gia giáo dục người Bỉ: Chất lượng ngày
nay được gắn với thị trường: “ ất ượ bằ sự t ả ã của k c à ”.
ng ta cho rằng nhà trường cần tạo ra những môi trường học tập lớn lao để nâng
cao chất lượng của quá trình cơ bản là học và dạy. Nếu như những phương sách
cải tiến của nhà trường không gây ảnh hưởng trực tiếp đến việc học tập và thành
tích của học sinh thì chắc chắn là chúng ta chỉ đang lãng phí thời gian mà thôi.
Cho nên, việc nâng cao chất lượng học sinh đại trà là nhằm mang lại hiệu
quả thật sự, là giúp học sinh lấy lại được căn bản, củng cố lại kiến thức. Và
người quản lý về chuyên môn phải tìm ra được giải pháp, cách nghĩ, cách làm,
đồng thời tạo mọi điều kiện thuận lợi về vật chất lẫn tinh thần để giáo viên có
thể toàn tâm, toàn ý với công việc giảng dạy của mình.
Hơn nữa, sản ph m giáo dục được tạo ra không chỉ do từng giáo viên
riêng r , mà của tập thể giáo viên qua từng lớp học phải có sự tác động quản lý

trong nhà trường một cách có hiệu quả; thường xuyên tổ chức thực hiện, kiểm
tra, đánh giá chất lượng qua các kì thi khảo sát chất lượng.
- Động viên, khen thưởng kịp thời những giáo viên thực hiện có hiệu qủa
cao.
2.2. Thực trạng chất lượng học tập học sinh yếu kém trường THPT số 2
Bát Xát.
ặc đ ể tì
ì
à trườ
- Trường THPT số 2 Bát Xát đóng trên địa bàn xã Bản Vược, huyện bát
Xát, tỉnh Lào Cai. Đây là một xã vùng cao biên giới của huyện Bát Xát, đời sống
kinh tế dân cư gần đây có chuyển biến tích cực nhưng vẫn còn nhiều khó khăn.
- Đội ngũ giáo viên: Trường có 33 giáo viên (Toán: 5, Lý: 4; Hóa: 3,
Sinh: 3, Ngữ văn: 4, Sử: 2, Địa: 2, NN: 4, Tin: 2, GDCD:1, TD: 3). Trình độ
chuyên môn: 32/33 đạt chu n.
- Cơ sở vật chất: Trường có 14 phòng học, 01 phòng Thư viện, 02 thực
hành, 01 phòng Tin học và có đủ các phòng làm việc cho cán bộ, giáoviên. Khu
ở nội trú cho học sinh có 5 phòng rộng mỗi phòng có thể ở được 20 học sinh, 6
phòng nhỏ mỗi phòng có thể ở được từ 4 đến 8 học sinh.
- Tình hình học sinh: Tổng số học sinh toàn trường 490/14 lớp, trong đó:
+ Học sinh dân tộc: 400 (81,6%)
+ HS nữ: 179 (36,5%)
+ Học sinh phải trọ học: 369 (75,3%), trong đó có 97 học sinh ở trong khu
nội trú còn lại ở trọ trong các nhà dân xung quynh khu vực trường.
- Chất lượng học sinh các năm học 2011-2012, 2012-2013 và khảo sát đầu
năm 2013-2014.


Năm học


có khu ở nội trú cho học sinh đáp ứng nhu cầu ¼ số học sinh trọ học.
- Đội ngũ giáo viên trẻ, nhiệt tình, trình độ chuyên môn cơ bản đều đạt
chu n.
b) Khó khăn
- Chất lượng học sinh đầu vào thấp ( Khảo sát đầu năm lớp 10 năm học
2013-2014 có 43,7% học sinh từ trung bình trở lên).
- Học sinh người dân tộc thiểu số chiếm đa số (81,6%), năng lực nhận
thức còn hạn chế, học sinh chịu nhiều ảnh hưởng từ các phong tục, tập quán và
các hủ tục của các dân tộc. Do đó, tỷ lệ chuyên cần hàng ngày, đặc biệt các dịp
lễ tết thường rất thấp.
- Đa số học sinh phải trọ học xa nhà (chiếm 75,3%), trong đó hơn 70%
học sinh ở trọ ngoài nhà dân. Do phải trọ học nên thiếu sự quản lý, giám sát của
gia đình, học sinh dễ sa vào các trò chơi điện tử, tu tập, đi chơi dẫn đến bỏ bê
học hành.
- Một bộ phận giáo viên chưa am hiểu học sinh vùng cao, các phonmg tục
của các dân tộc, các địa phương nên gặp nhiều khó khăn trong giáo dục, vận
động học sinh.
2.3. Các biện pháp quản lý nâng cao chất lượng học tập học sinh yếu
kém.
2.3.1. Tổ c ức p đạ
cs
yếu, ké
a) Tổ chức lớp học, xây dựng chương trình, nội dung
- Thông qua khảo sát đầu năm kết hợp kết quả năm học trước và những
trường hợp cá biệt giáo viên bộ môn phát hiện trong quá trình giảng dạy, giáo
viên chủ nhiệm phối hợp với giáo viên bộ môn lập danh sách những học sinh có
học lực yếu kém.
- Giáo viên chủ nhiệm thông báo đến phụ huynh có học sinh yếu kém
thông qua liên lạc qua điện thoại, họp phụ huynh học sinh định kì (3 lần/1 học
kì) để thông báo sự tình hình học sinh và bàn biện pháp phối hợp giúp đỡ học

nghiệm, tổ chuyên môn thường xuyên trao đổi về chuyên môn, giúp nhau về tài
liệu.
- Chỉ đạo các tổ chuyên môn xây dựng các chuyên đề mà trong giảng dạy
đối tượng này thường gặp khó khăn hoặc giảng dạy chưa có hiệu quả, được đánh
giá là một giải pháp khoa học mang tính phổ biến rộng rãi lưu lại trong tổ.
- Học tập kinh nghiệm ở các trường bạn để giáo viên có tầm nhìn rộng
hơn, có nhiều kinh nghiệm hơn nhằm kích thích sự ham học của học sinh yếu
kém.
d) Kiểm tra, giám sát
- Ban giam hiệu, tổ trưởng chuyên môn thường xuyên dự giờ giáo viên,
tạo điều kiện về thời gian, tài liệu để tiết dạy có hiệu quả, tránh dạy không đủ
tiết, chất lượng không cao hoặc dạy còn bỏ sót kiến thức theo chương trình để
còn lỗ hỏng kiến thức.
- Định kì hàng tháng, giáo viên bộ môn báo cáo sự tiến bộ của học sinh
với Ban giám hiệu, báo cáo kết quả kiểm tra, đánh giá sự chuyển biến hay không
chuyển biến của học sinh và đề xuất các biện pháp kịp thời.
e) Khen thưởng, động viên giáo viên
- Bồi dưỡng học sinh giỏi đã khó, bồi dưỡng học sinh yếu kém đạt chất
lượng lại càng khó hơn. Vì thế cần phải có sự động viên, đây là biện pháp quan
trọng nhằm kích thích, động viên sự tích cực hoạt động và nhiệt tình của giáo
viên làm cho chất lượng và hiệu quả công việc ngày càng tốt hơn, điều quan


trọng là làm sao lôi cuốn được phong trào học bồi dưỡng của học sinh yếu kém
vì đối tượng này rất hay chán học.
- Kích thích giáo viên về mặt tinh thần như khen trước hội đồng, vinh
danh như giáo viên có học sinh giỏi, giáo viên dạy giỏi hay về mặt vật chất như
khen thưởng bằng hiện vật giá trị tương được như giáo viên có học sinh giỏi đối
với giáo viên bồi dưỡng học sinh yếu kém đạt và vượt chỉ tiêu đề ra.
- Sự quan tâm đặc biệt của Ban giám hiệu là điểm rất quan trọng, giúp

b) Coi trọng việc giúp đỡ học sinh yếu kém, học sinh dân tộc trong học
tập.
- Nhà trường cần có kế hoạch, biện pháp giúp đỡ học sinh yếu kém, học
sinh dân tộc ngay từ đầu năm học qua kết quả khảo sát đầu năm;
- Đối với những học sinh yếu kém của lớp 12 cần tổ chức ôn tập, giúp
các em nắm kiến thức cơ bản để thi TN THPT; yêu cầu gia đình kết hợp chặt
ch với nhà trường để giáo dục hoạc sinh.
- Cần nắm vững những đối tượng học sinh xếp loại yếu kém của các lớp
10,11:
+ Số liệu cụ thể các đối tượng trên;


+ Số liệu học sinh người dân tộc (nam, nữ) từng khối lớp về nề nếp, chất
lượng học tập, tỉ lệ học sinh bỏ học, lí do; tỉ lệ học sinh yếu kém, tỉ lệ học sinh
tốt nghiệp,….
+ Báo cáo danh sách chuyển trường ( chuyển đi, chuyển đến).
Thật ra không có cách nào, giải pháp nào là hoàn hảo, thật sự có hiệu quả
cho mọi không gian và thời gian, chỉ có sự cố gắng áp dụng các giải pháp khéo
léo vào hoàn cảnh cụ thể một cách hợp lý s giúp ta thành công hơn. Điều quan
trọng đầu tiên đối với người quản lý chuyên môn là phải có tấm lòng say mê với
công việc, luôn luôn suy nghĩ, đầu tư và tìm biện pháp. Năm nay chưa đạt chỉ
tiêu, năm sau tiếp tục tìm ra cách làm hiệu quả hơn, không nên nản lòng.
Phải biết phát huy thế thế mạnh sẵn có của mình ở chỗ nào, nhất là về đội
ngũ giáo viên ở trường THPT, không thể cầu toàn, dàn trải cho tất cả các bộ
môn mà nên tấn công vào mũi nhọn ở những môn có học sinh yếu nhiều như
Toán, Lý, Hóa, Văn, Ngoại ngữ.
Tổ trưởng lập kế hoạch cụ thể và tổ chức bồi dưỡng, phụ đạo học sinh
theo từng bộ môn:
+ 100% giáo viên trong tổ quan tâm đến từng đối tượng và thực hiện
trong mỗi giờ dạy chính khóa. Nội dung dạy phù hợp với đối tượng học sinh,

bản, đơn giản hóa các nội dung trong sách giáo khoa để học sinh dễ hiểu, dễ tiếp
thu, một số kiến thức chỉ cần học sinh nhơ một cách máy móc sau đó vận dụng
làm đi làm lại nhiều lần các dạng bài tập cơ bản. Giáo viên cũng cần “chế biến”
các bài tập trong sách giáo khoa đơn giản hơn, cụ thể, chi tiết hơn để vừa sức
với học sinh. Điều quan trọng nhất để kích thích học tập cho học sinh yếu kém
là học sinh phải làm được bài tập giao về nhà, phải biết cách học để nắm được
những kiến thức đơn giản, cơ bản nhất. Chính vì vậy cuối giờ học giáo viên phải
giao nhiệm vụ hết sức cụ thể và phải vừa sức với học sinh bằng các phiếu giao
nhiệm vụ cho nhóm hoặc từng học sinh cụ thể.
Thứ ba, để tìm ra phương pháp phù hợp cho từng kiểu bài, từng đối tượng
học sinh, các tổ chuyên môn cần thực hiện tốt việc tổ chức sinh hoạt chuyên
môn theo nghiên cứu bài học. Thông qua dự giờ, suy ngẫm, chia sẻ giáo viên s
nắm bắt được thái độ học tập, tâm lý của học sinh đồng thời tìm được những
phương pháp, cách thức tổ chức hay và hiệu quả. Việc thủ nghiệm các phương
pháp, cách thức tổ chức giờ học làm rất quan trọng nhằm tìm ra những phương
pháp hiệu quả nhất phù hợp cho từng đối tượng học sinh.
Thứ tư, song song với đổi mới phương pháp dạy, giáo viên cần đổi mới
phương pháp kiểm tra đánh giá phù hợp với đối tượng học sinh. Trong năm học,
trường chỉ đạo các tổ chuyên môn, giáo viên phải thực hiện kiểm tra, đánh giá
theo chu n kiến thức kĩ năng đồng thời phải phù hợp với đối tượng học sinh.
Đối với kiểm tra thường xuyên phải linh hoạt, hạn chế tối đa điểm yếu kém, tạo
cơ hội cho học sinh được gỡ điểm, kiên trì giao nhiệm vụ cụ thể và kiểm tra học
sinh yếu, kém. Đối với kiểm tra định kì, tổ trưởng chuyên môn, nhóm trưởng
các bộ môn phải tổ chức ra đề theo một quy trình nghiêm nghặt, đó là: đầu tiên
nhóm bộ môn phải thống nhất ma trận nhận thức cho nội dung cần kiểm tra, sau
đó phân công giáo viên ra đề (huy động tối đa giáo viên vào công tác ra đề) và
kiểm duyệt đề. Đề kiểm tra phải đảm bảo bám sát chu n kiến thức kĩ năng
(không được vượt chu n), đúng theo ma trận và quan trọng hơn cả là phải vừa
sức với học sinh, có sự phân hóa cao. Sau khi ra đề, tổ trưởng s tổ chức cho
giáo viên giải đề tập trung để đánh giá mức độ khó, dễ của từng đề trên cơ sở đó

huynh và yêu cầu học sinh viết cam kết.
- Kích thích tinh thần vì tập thể của học sinh bằng cách xây dựng các tiêu
chí chấm điểm giờ học, trong đó đề cao tiêu chí chuyên cần, từ đó học sinh s tự
đôn đốc nhau đi học.
- Khen thưởng, tạo động lực, kích thích học sinh đi học cuyên cần kịp
thời. Ngoài việc tuyên dương các lớp đi học chuyên cần hàng tuần, hàng tháng,
trường thưởng tiền cho những lớp duy trì tỷ lệ chuyên cần cao từ 98% trở lên và
thưởng nóng cho những lớp duy trì chuyên cần 100% trong những đợt học sinh
có nguy cơ nghỉ nhiều như những tuần trước và sau dịp lễ, tết.
- Huy động các lực lượng xã hội đôn đốc học sinh đi học, đặc biệt là các
chủ nhà trọ có học sinh trọ học bằng cách phối hợp với công an xã tổ chức cho
các chủ nhà trọ kí cam kết trách nhiệm quản lý, đôn đốc học sinh đi học.
- Do thiếu sự giám sát, quản lý của gia đình nên học sinh trọ học thường
dễ sa vào các trò chơi điện tử, bỏ bê học hành, trốn học để đi chơi điện tử dẫn
đến nghỉ học. Để giải quyết vấn đề này, trường đã làm việc với UBND xã Bản
Vược trong việc quản lý các quán net, yêu cầu các quán net không được cho học
sinh đánh điện tử trong thời gian học tập từ thứ hai đến thứ 7. Nhà trường lập
danh sách tên và ảnh những học sinh “nghiện điện tử” niêm yết ở các quán nét
để chủ quán có thể phát hiện ra học sinh. Trường phối hợp với công an xã đi
kiểm tra đột xuất các quán net, nếu phát hiện vi phạm s đề nghị UBND xã xử lý
nghiêm.
- Đa số gia đình các học sinh vùng cao đều làm nông nghiệp, có gia đình
học sinh là những lao động chính. Vì vậy vào các mùa vụ học sinh phải về giúp
bố mẹ thu hoạch nông sản dẫn đến nghỉ học kéo dài. Để đảm bảo học sinh vẫn
theo học bình thường và đảm bảo công việc của gia đình, trường đã chỉ đạo giáo
viên chủ nhiệm ở những lớp có học sinh là lao động chính trong gia đình, tổ
chức cho học sinh của lớp tham gia tình nguyện hoặc đổi công giúp thu hoạch
nông sản vào các ngày cuối tuần (chiều thứ 7, chủ nhật). Thông qua hoạt động
này vừa đảm bảo cho học sinh được đi học đầy đủ, vừa giáo dục được tình yêu
lao động cho học sinh.

Việc bồi dưỡng nâng cao chất lượng học sinh yếu kém hàng năm là một
việc làm rất khó khăn và phức tạp, đòi hỏi sự cố gắng nỗ lực của cả tập thể và
nhất là có một giải pháp hữu hiệu để thúc đ y phong trào này. Tuy giải pháp
quản lý, chỉ đạo nâng cao chất lượng bồi dưỡng học sinh yếu kém bộ môn của
chúng tôi đề ra bước đầu có hiệu quả cho nhà trường, nhưng giải pháp này cũng
s tiếp tục củng cố và hoàn thiện hơn trong các năm kế tiếp và hy vọng kết quả
này ngày một tốt hơn.
2.4. Hiệu quả của sáng kiến
Sau khi kiên trì thực hiện các biện pháp, chất lượng học sinh đại trà đã có
sự chuyển biến tích cực, học sinh đi học chuyen cần. Tuy tỷ lệ học sinh yếu,
kém vẫn còn cao (11,2%) nhưng đây cũng là nỗ lực đáng được ghi nhận của
thầy và trò trường THPT số 2 Bát Xát thể hiện quyết tâm, kiên trì nâng cao chất
lượng học sinh.
Kết quả cụ thể:
- Tỷ lệ học sinh đi học chuyên cần: 98,6%
- Tỷ lệ học sinh yếu kém


Năm học
2011-2012
2012-2013
2013-2014

Toàn trường
18,4%
17,9%
11,2%

Tỷ lệ học sinh yếu kém
Chia ra

pháp quản lý phù hợp với thực tế của trường. Từ thực tế chỉ đạo tôi rút ra một số
bài học kinh nghiệm như sau:
+ Người phụ trách chuyên môn và người tổ trưởng chuyên môn phải là
người có tâm huyết, luôn suy nghĩ tìm ra biện pháp thích hợp và phải kiên trì
làm cho đến nơi đến chốn.
+ Phải biết phát huy sức mạnh tổng hợp của tập thể giáo viên, phụ huynh
học sinh và phát huy dân chủ trong quá trình cộng tác giữa người quản lí và giáo
viên.
+ Phải có kế hoạch lâu dài. Trong quá trình triển khai kế hoạch bồi dưỡng
cần tham khảo học tập kinh nghiệm của các đơn vị bạn.
+ Vai trò động viên khen thưởng cũng rất quan trọng, có như vậy họ mới
hết lòng với sự nghiệp và chú ý đến các đề xuất hợp lý của giáo viên như là một
trân trọng. Từ đó giáo viên luôn luôn cố gắng, tìm cách cải tiến phương pháp
giảng dạy để đạt hiệu quả cao.
+ Giải pháp thành công là giải pháp đó khi đề ra, chủ xướng phải có
người ủng hộ, thực hiện. Chính vì vậy tạo sự đoàn kết, gắn bó, đồng lòng trong
tập tập thể sư phạm nhà trường là hết sức cần thiết.
Các biện pháp đưa ra chưa phải là đầy đủ và toàn diện, song điều quan
trọng nhất để đem lại hiệu quả là cần thực hiện một cách đồng bộ và kiên trì,
huy động được sức mạnh tập thể, nhiệt huyết của giáo viên. Với mục tiêu đưa
giáo dục vùng cao phát triển đi lên rất cần nhiều cách làm mới, sáng tạo để nâng
cao chất lượng học sinh nói chung và chất lượng học sinh yếu kém nói riêng.


ất mong nhận được sự đóng góp, chia sẻ kinh nghiệm của các đồng nghiệp
trong công tác giáo dục, đặc biệt là những cách làm hay, hiệu quả ở các đơn vị
bạn.
Bát Xát, ngày 25 tháng 05 ă
NGƯỜI VIẾT


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status