MỘT SỐ BIỆN PHÁP GIÚP ĐỠ HỌC SINH HỌC YẾU VƢƠN LÊN
TRONG HỌC TẬP Ở TRƢỜNG THPT DTNT TỈNH LÀO CAI
PHẦN I. ĐẶT VẤN ĐỀ
I. Lý do chọn đề tài.
Trong Nghị quyết lần thứ 8, Ban chấp hành Trung ương Đảng khóa XI
(Nghị quyết sô 29 NQ/TW) với nội dung Đổi mới căn bản toàn diện giáo dục và
Đào tạo. Mục tiêu của đổi mới là: Tạo chuyển biến mạnh mẽ căn bản về chất
lượng hiệu quả giáo dục, đào tạo; đáp ứng ngày càng tốt hơn công cuộc xây dựng
Tổ quốc và nhu cầu học tập của nhân dân. Vì vậy để nâng cao chất lượng giáo dục
và giúp học sinh hoàn thành chương trình học Trung học phổ thông (THPT) thì
người giáo viên có vai trò vô cùng quan trọng đó là truyền thụ những kiến thức cơ
bản cho các em học sinh, làm thế nào để trang bị cho các em lượng kiến thức để
chuẩn bị hành trang bước vào cổng trường Đại học & Cao đẳng. Tuy nhiên hiện
nay học sinh cùng được hưởng nội dung giáo dục giống nhau nhưng mỗi học sinh
đều có sự phát triển về thể chất và trí tuệ khác nhau, có động cơ thái độ học tập
khác nhau, có môi trường giáo dục khác nhau vì vậy trong số những học sinh ưu
tú vẫn còn những học sinh yếu kém. Học sinh yếu kém là vấn đề cấp học nào, nhà
trường nào cũng cần có những biện pháp để giải quyết.
Đối với trường THPT DTNT tỉnh đào tạo nguồn nhân lực cán bộ người dân
tộc thiểu số cho địa phương là mục tiêu hàng đầu, các em học sinh phải được trang
bị đầy đủ kiến thức để vững bước trong tương lai, tuy nhiên hàng năm số lượng
học sinh yếu kém vẫn còn, nhiều em có kết quả học tập thấp, nguyên nhân do các
em bị hổng kiến thức từ những cấp học dưới, do các em là con em vùng đồng bào
dân tộc thiểu số, trình độ dân trí thấp. Phụ huynh do điều kiện ở xa, do nhận thức,
do điều kiện kinh tế, do thiếu hiểu biết, nên phụ huynh chưa quan tâm hoặc quan
tâm không đúng cách tới việc học của con em mình, hầu như phụ huynh phó mặc
việc dạy và nuôi dưỡng các em cho nhà trường. Do vậy việc giúp đỡ học sinh
vươn lên trong học tập là vấn đề nhà trường rất quan tâm, chất lượng đào tạo của
1
2. Cơ sở lý luận về dạy học.
Dạy học là sự phối hợp giữa hai hoạt động: hoạt động dạy của giáo viên và
hoạt động học của học sinh, hai hoạt động này diễn ra cùng một thời điểm, cùng
nội dung và hướng tới cùng mục đích, hai hoạt động này không tách rời mà thống
nhất với nhau trong cùng hoạt động thống nhất là “dạy học”. Giáo viên là chủ thể
của giảng dạy, đối tượng của giáo viên là hệ thống kiến thức, sự phát triển trí tuệ
và nhân cách học sinh. Để làm tốt công tác giảng dạy người giáo viên phải có kiến
thức chắc chắn về khoa học chuyên ngành, nghiệp vụ sư phạm, hiểu và nắm chắc
quy luật phát triển tâm lý, ý thức, đặc điểm của hoạt động nhận thức, của từng bậc
học, từng lớp học, của từng học sinh.
II. Cơ sở thực tiễn.
3
Trường phổ thông Dân tộc nội trú tỉnh Lào Cai có vị trí đặc biệt quan trọng
trong sự nghiệp giáo dục đào tạo, thực hiện nhiệm vụ đào tạo nguồn cán bộ người
dân tộc thiểu số; đồng thời tạo nguồn nhân lực có chất lượng, đáp ứng nhu cầu xây
dựng kinh tế-xã hội ở một tỉnh vùng cao, biên giới trong thời kỳ phát triển mới
của đất nước. Năm học 2013 – 2014 nhà trường có 15 lớp, tổng số 516 học sinh,
gồm 15 dân tộc thiểu số, trong đó dân tộc Mông, Dao chiếm trên 50% tổng số
học sinh. Một số dân tộc rất ít người như Bố Y, Xa Phó, Hà Nhì cũng có học
sinh theo học.
Cơ sở vật chất đủ đáp ứng được cơ bản yêu cầu nâng cao chất lượng dạy
học, có đủ phòng học như: Phòng học thực hành bộ môn, phòng thực hành máy
tính, phòng học đa phương tiện, thư viện với đủ phục vụ cho nhu cầu giảng dạy
và học tập của cán bộ, giáo viên, học sinh. Đủ điều kiện cơ sở vật chất để tổ chức
các hoạt động giáo dục và nuôi dưỡng học sinh theo quy định.
Trong những năm gần đây chất lượng của nhà trường đã được nâng lên, tuy
nhiên số học sinh có lực học yếu vẫn còn, hàng năm nhà trường vẫn phải trả học
chế, chậm đổi mới, chưa đáp ứng yêu cầu dạy học hiện nay.
2. Chất lƣợng giáo dục của nhà trƣờng năm 2012- 2013
2.1. Kết quả năm học 2012-2013
Tỷ lệ HS xếp loại học lực giỏi: 32 HS (6,9 % ); khá: 339 HS ( 69,4% tăng
1,7); TB: 103 HS (21,6% ); yếu: 5 HS (0,6% ); có 3 học sinh lưu ban trả về địa
phương. Những học sinh bị trả về địa phương với lý do học lực kém không đáp
ứng được mục tiêu đào tạo của nhà trường, mặc dù khi tuyển vào lớp 10 các em
đều đã được thi tuyển và đều là những học sinh được lựa chọn vào học tại trường.
Hiện nay, có 75% học sinh được xét tuyển theo điểm thi nhưng vẫn còn 25% học
sinh xét tuyển theo cơ cấu vùng miền, dân tộc nên các em còn hạn chế về nhận
thức, kiến thức do vậy đa số học sinh có học lực yếu rơi vào số học sinh được xét
tuyển.
5
2.2. Kết quả khảo sát đầu năm học 2013-2014
STT
Môn
1
Toán
2
3
4
10
175
117
58
11
171
71
100
12
169
59
110
10
175
66
117
54
12
169
120
49
10
175
65
110
11
171
27
144
12
10
175
39
136
11
171
11
159
12
169
20
149
10
175
18
85
108
12
169
35
134
6
Kết quả khảo sát đầu năm học thấy rằng đối với học sinh tỷ lệ học sinh có điểm
thấp còn cao, nhiều học sinh đang bị hổng kiển thức, đặc biệt ở các môn tự nhiên
và ngoại ngữ.
3. Nguyên nhân học sinh học yếu kém.
3.1. Về phía giáo viên.
Với yêu cầu ngày càng cao trong giáo dục, đòi hỏi người giáo viên luôn phải
say mê tìm tòi, chủ động trong bồi dưỡng chuyên môn, tự học tự nghiên cứu để
nâng cao trình độ, tuy nhiên hiện nay một số giáo viên trẻ do điều kiện gia đình,
con nhỏ, nên chưa tập trung nhiều thời gian để học hỏi nâng cao kiến thức dẫn
đến kiến thức ngày càng mai một, bên cạnh đó đổi mới phương pháp giảng dạy
cũng là yêu cầu quan trọng hiện nay trong quá trình dạy học, nhưng một số giáo
viên chưa thật tích cực đổi mới dẫn đến tiết học chưa thu hút được sự chú ý của
học sinh.
Trong các giờ học chưa quan tâm hết đối tượng học sinh, chưa thực hiện hiệu
không có chất lượng.
Một số học sinh thiếu tìm tòi sáng tạo trong học tập, không có sự phấn đấu
vươn lên, còn thói quen chờ giáo viên hoặc ỷ lại bạn hoặc sách giải bài tập…Kỹ
năng vận dụng giữa lý thuyết và vận dụng hạn chế.
Học sinh chưa biết cách học tập cho có hiệu quả, nhất là khi tự học, nên khi
học, không hiểu, không nhớ thì không cố gắng tìm tòi suy nghĩ để nắm bắt kiến
thức, giải bài tập mà quay sang nói chuyện với bạn bên cạnh, hoặc các em đi lại
trong lớp gây mất trật tự ảnh hưởng đến người xung quanh, khi GV hỏi các em trả
lời bài tập khó quá không làm được.
III. Một số biện pháp chỉ đạo giúp đỡ học sinh yếu kém.
1. Công tác chỉ đạo đổi mới trong giảng dạy và kiểm tra đánh giá.
1.1. Đổi mới phƣơng pháp dạy học.
8
Bên cạnh kiến thức giáo viên cần phải chú trọng đổi mới phương pháp dạy
học theo hướng phát huy tính tích cực, sáng tạo, chủ động học tập của học sinh.
nội dung sách giáo khoa, yêu cầu bộ môn về chuẩn kiến thức kĩ năng. Đổi mới
phương pháp dạy học, phải đổi mới từ khâu soạn giảng, quá trình lên lớp, đến
kiểm tra đánh giá. Trong lớp có nhiều đối tượng học sinh do đó trước tiên giáo
viên phải quan tâm ác định kiến thức trọng tâm, thực hiện giảm tải, tinh giản
kiến thức. Bài soạn thực sự là bản thiết kế để giáo viên thực hiện trong giờ dạy,
kèm theo bản thiết kế là sự chuẩn bị chu đáo các điều kiện cần thiết cho giờ dạy.
Trong giáo án cần tập trung mấy vấn đề sau: Chú ý hình thức tổ chức hoạt động
để phát huy tính tích cực, sáng tạo của học sinh. Đảm bảo hệ thống kiến thức tuy
nhiên cần phải đi từ dễ đến khó, từ đơn giản đến phức tạp dựa trên chuẩn kiến
thức, cần giúp học sinh nắm được kiến thức cơ bản, trọng tâm của từng bài
Trong giờ học sinh phải được làm việc tham gia chiếm lĩnh kiến thức
mới. Để thực hiện tốt vấn đề này giáo viên cần quan tâm tới các đối tượng học
học sinh yếu, kém.
2. Duy trì nền nếp kỷ cƣơng nhà trƣờng.
Hầu hết những học sinh có học lực yếu các em đều có tâm lý chung là sợ
học vì vậy thực hiện các nền nếp trong học tập của các em cũng có phần hạn chế.
Do đó duy trì nền nếp kỷ cương là khâu quan trọng để thúc đẩy các em cố gắng
trong học tập, tạo môi trường học tập để các em phấn đấu.
Nề nếp học tập của học sinh được duy trì, nhà trường tổ chức dạy học 2
buổi/ngày; buổi tối học sinh tự học có sự quản lí của các thầy cô giáo. Các lớp xây
dựng hệ thống cán sự bộ môn, tổ chức phong trào thi đua đôi bạn cùng tiến nhằm
giúp đỡ các bạn học yếu. Học sinh thực hiện tương đối tốt các yêu cầu học tập của
các thầy cô giáo bộ môn. Hàng tuần, nền nếp và chất lượng học tập được đánh giá,
chỉ r mặt tích cực, hạn chế nhằm thúc đẩy phong trào thi đua giữa các lớp. Với
cách làm như vậy cơ bản nền nếp học tập của nhà trường đã được duy trì, nhiều
học sinh đã cố gắng hơn trong môi trường học tập mà nhà trường đã ây dựng.
3. Giáo dục động cơ, ý thức học tập cho học sinh.
10
Không có giải pháp nào là tối ưu nếu học sinh không nhận thức đúng đắn về
việc học vì vậy GVCN, GVBM phải làm tốt công tác tuyên truyền, do đặc thù các
em đều là học sinh dân tộc thiểu số, sẽ là cán bộ nguồn cho huyện, xã vì vậy
thường uyên động viên khích lệ các em ác định đúng động cơ học tập, giúp các
em thấy được vai trò của mình.
VD: Trong buổi họp phụ huynh, cha mẹ các em không biết đọc, biết viết, các em
phải họp cùng để giúp đỡ cha mẹ trong việc nắm bắt thông tin, vì thế GVCN cần
phân tích để học sinh hiểu có kiến thức và học tập sẽ có lợi như thế nào? Phải làm
cho học sinh nhận thức tốt về vai trò của mình. Để từ đó các em phấn đấu vươn
lên để hoàn thiện, để tự khẳng định mình. Để học sinh nhận thức rõ học để có kiến
thức, học để làm người, học để lập thân, lập nghiệp.
Giáo viên bộ môn phải giáo dục ý thức học tập của học sinh ở bộ môn
viên khác của tổ giải sau đó kiểm tra chéo kết quả của nhau.
4. Chỉ đạo giáo viên chủ nhiệm phối hợp với giáo viên bộ môn giúp đỡ học
sinh yếu.
Đối với trường Nội trú vai trò thầy cô giáo chủ nhiệm rất quan trọng, giáo
viên chủ nhiệm ngoài việc nắm được danh sách học sinh yếu phải phối hợp tốt với
giáo viên bộ môn mới đem lại hiệu quả, sự giúp đỡ phải bắt đầu ngay khi HS mới
vào năm học, phải kiên trì trong suốt năm, hàng tháng nhà trường, giáo viên đánh
giá sự tiến bộ của học sinh đồng thời điều chỉnh phương pháp dạy học phù hợp và
hiệu quả.
Đầu năm học GVCN Căn cứ kết quả năm học trước và kết quả khảo sát đầu
năm học, nhà trường chỉ đạo GVCN lập danh sách học sinh yếu kém từng bộ môn,
căn cứ vào danh sách GV lập nhà trường chia các lớp phụ đạo phù hợp đối tượng.
Sau đó tổng hợp những học sinh yếu từng bộ môn thành lập từng lớp phụ đạo
12
Ví dụ: Danh sách do GVCN lớp 10 lập.
DANH SÁCH HỌC SINH CẦN GIÚP ĐỠ MÔN TOÁN
LỚP: 10C
KQ hiện tại
ST
T
Họ và tên HS
Điểm
Điểm
2
Giàng Thín Dìn
6.9
4.3
TB
Khá
≥5.0
3
Trần Văn Cách
6.6
4.8
TB
Khá
≥5.0
4
TBCM
môn
lực
ký
đạt
TB
Khá
≥5.0
học
1
Giàng A Ca
6.8
4.7
2
Lý Thị Liêm
Khá
≥5.0
2. Lý
4 Thu Hà
7.3
4.2
TB
Khá
≥5.0
Thào Thị Mai
3. 5
6.9
4.2
TB
Khá
≥5.0
môn
học
Học
lực
Đăng ký
Điểm
cần đạt
Lào Cai, ngày 24 tháng 03 năm 2012
GV chủ nhiệm 10C
Nguyễn Thị Huyền
Danh sách học sinh yếu kém sẽ được gửi đến cho tất cả giáo viên từng bộ
môn, trong các tiết học chính khóa hàng ngày phải quan tâm, kiểm tra thường
xuyên việc học bài và chuẩn bị bài của các em. Tiết phụ đạo tăng cường công tác
kiểm tra bằng nhiều hình thức: Kiểm tra viết giấy 5 phút, lên bảng, kiểm tra vở bài
tập… giáo viên chủ nhiệm hàng tuần thông qua giáo viên bộ môn cán sự lớp, cập
nhật kết quả của học sinh để kịp thời uốn nắn, động viên các em.
5. Chỉ đạo phân công giáo viên bồi dƣỡng học sinh yếu kém.
14
Việc lựa chọn phân công giáo viên dạy đối tượng yếu kém rất quan trọng, ngoài
trình độ chuyên môn người GV phải có lòng say mệ tận tụy yêu thương học sinh
và nghiêm khắc trong rèn cặp các em, vì vậy từ đầu năm học nhà trường đã ây
thấy tầm quan trọng của việc học. Bên cạnh đó, giáo viên chủ nhiệm trao đổi với
giáo viên bộ môn để kết hợp trong giáo dục, động viên làm cho các em thấy được
sự quan tâm của các thầy cô giáo khi mình ở a gia đình mà phấn đấu.
Để học sinh có thể nêu ra những khó khăn trong việc học tập các bộ môn và có
hướng khắc phục, nhà trường chỉ đạo các lớp học sinh tổ chức Hội nghị học tốt.
Trong hội nghị học sinh nêu kinh nghiệm học tập, học sinh yếu nếu khó khăn
vướng mắc, tại hội nghị của học sinh các thầy cô giáo dạy bộ môn sẽ cũng học trò
trao đổi thẳng thắn về các phương pháp học tập, những yêu cầu trong học tập để
có thể học tốt. hội nghị tạo ra không khí thân thiện, gần gũi và quan trọng hơn
giúp các em học sinh học yếu thấy rõ nguyên nhân học yếu của mình từ đó có
hướng khắc phục.
7. Xây dựng phong trào “Đôi bạn cùng tiến” – học sinh giúp học sinh.
Chỉ đạo Đoàn thanh niên nhà trường phát động phong trào đôi bạn cùng
tiến, các lớp lập danh sách bạn cán sự bộ môn, những học sinh học yếu và phân
công cán sự bộ môn kèm và giúp đỡ bạn trong học tập. Học sinh có thể trong cùng
lớp cùng khối.
Sau mỗi giờ học tối trước khi nghỉ cán sự bộ môn dành thời gian 30 phút
hướng dẫn những bài tập khó cho các bạn, sau khi hướng dẫn sẽ trao đổi bài và
chỉ rõ những phần bạn làm chưa đúng, kiểm tra xem bạn đã học thuộc bài cô giáo
giao hay chưa, bằng cách 2 bạn tự kiểm tra nha và đọc cho nhau nghe ( đối với
môn học thuộc). Hàng tuần lớp trường, Bí thư chi đoàn theo d i và ghi dánh sách
những đôi bạn nào có tiến bộ và gửi danh sách nhà trường tuyên dương trong buổi
sáng chào cờ thứ 2 đầu tuần. Với cách làm này tương đối có hiệu quả bởi các em
không ngại khi trao đổi bài cùng nhau, các em không ngại nêu những vướng mắc,
những hạn chế và nhanh chóng học được ở bạn mình những cách học hiệu quả.
8. Hƣớng dẫn học sinh tự học.
16
Tự học là khâu quan trọng trong việc lĩnh hội và tiếp thu kiến thức của học
Chỉ đạo tổ trưởng chuyên môn, nhóm trưởng chuyên môn tăng cường kiểm
tra nền nếp, quy chế chuyên môn của giáo viên, hàng tháng báo cáo lãnh đạo nhà
trường, chú ý đối với giáo viên được phân công giúp học sinh yếu vươn lên ở các
bộ môn, các khối lớp.
IV. Kết quả đạt đƣợc.
1.Về kỹ năng
Qua một số biện pháp tổ chức giúp đỡ học sinh học yếu, kém đặc biệt các
môn tự nhiên, các em đã có kỹ năng hơn trong giải bài tập, trong làm bài kiểm tra,
học sinh đã biết cách tự học và phấn đấu đạt điểm TB ở các môn còn yếu
2. Nên nếp học tập
Nhà trường vãn duy trì nền nếp học tập tốt, qua các giờ tự học các em đã
tập trung học bài hơn, trong các giờ học qua dánh giá của GVBM các em đã tự tin
hơn và hăng hái trong xây dựng bài, tạo được nền nếp học tập tốt, tạo được phong
trào thi đua học tập trong lớp, các em học sinh yếu đã thực hiện tốt hơn các quy
định của nhà trường, của giáo viên bộ môn.
3. Kết quả cụ thể.
3.1. Kết quả từng môn.
Qua bảng thống kê các môn học lực giữa học kỳ 1 thấy rằng tỉ lệ học sinh
còn học lực yếu vẫn còn, nhất là ở các môn Toán, Lý, ngoại ngữ. Tuy nhiên đến
cuối năm học tỷ lệ học sinh học yếu ở các môn đã giảm, số học sinh có điểm yếu
còn rất ít .
18
THỐNG KÊ HỌC LỰC GIỮA HỌC KỲ 1
Khối
10
11
32
75
97
103
Khá
78
69
91
123
79
66
73
65
TB
59
0
Kém
1
0
0
0
0
1
0
0
Giỏi
38
20
64
12
71
37
40
52
11
18
21
Yếu
15
43
8
3
9
1
1
20
79
56
80
Khá
53
82
71
124
61
76
71
68
TB
56
3
Kém
1
0
0
0
0
0
0
0
THỐNG KÊ HỌC LỰC CẢ NĂM HỌC
Khối
10
11
12
X. loại
61
94
Khá
86
69
87
120
77
101
92
79
TB
52
59
46
1
0
0
0
0
0
0
0
Giỏi
37
15
33
7
24
42
38
73
15
36
7
Yếu
8
10
6
0
4
0
3
0
Kém
57
70
Khá
78
70
74
100
72
109
67
74
TB
50
65
52
0
0
0
0
0
0
0
0
19
3.2. Kết quả chung.
Qua thực hiện các biện pháp trên cuối năm học 2013-2014 kết quả học sinh
đã có sự tiến bộ. Giữa học kỳ 2 toàn trường có 15 học sinh học lực yếu, 01 học
sinh học lực kém, sau khi tăng cường các giải pháp giúp đỡ số học sinh yếu đã
giảm, kết quả cuối năm học chỉ còn 2 học sinh học lực yếu và không còn học sinh
có học lực kém, đạt được kết quả trên là nhờ sự nỗ lực của các tổ chuyên môn,
giáo viên chủ nhiệm, giáo viên bộ môn và ở chính các em học sinh.
THỐNG KẾ HỌC LỰC GIỮA HỌC KỲ 1 NĂM HỌC 2013-2014
Số lƣợng HS
Loại
2
2
35
Khá
29
30
26
28
23
14
15
24
12
21
20
11
12
10
9
8
16
149
Yếu
0
0
2
0
1
1
1
0
0
0
1
0
0
0
0
0
0
1
Tổng
35
35
35
Loại
10A 10B 10C 10D 10E 11A 11B 11C 11D 11E 12A 12B 12C 12D 12E
Tổng
toàn
trƣờng
Giỏi
14
4
1
0
0
2
4
6
5
1
23
32
25
20
23
23
25
369
TB
0
2
10
9
13
7
0
0
0
0
0
0
0
0
0
1
0
2
Kém
0
0
35
35
35
35
35
35
34
35
34
34
35
33
33
33
516
21