SÁNG KIẾN KINH NGHIỆM
ĐỀ TÀI:
"MỘT VÀI SUY NGHĨ GIÚP HỌC SINH LỚP 4 RÈN KỸ NĂNG
CẢM THỤ VĂN HỌC"
PHẦN THỨ NHẤT: ĐẶT VẤN ĐỀ
Giáo dục tiểu học là bậc học trong hệ thống giáo dục quốc dân, cơ sở ban đầu hết
sức quan trọng, đặt nền móng cho sự phát triển toàn diện con người, đặt nền tảng cho
giáo dục phổ thông. Mục tiêu giáo dục tiểu học hiện nay là hình thành cho học sinh
những tư tưởng, tình cảm, trí tuệ, thể chất và các kỹ năng cơ bản mang tính đúng đắn và
lâu dài để các em học tiếp Trung học cơ sở. Hiện nay, đất nước ta đang bước vào thời kỳ
mới, chất lượng giáo dục là vấn đề số một trong nội dung công tác của ngành giáo dục.
Để đáp ứng nhu cầu hiện nay của xã hội, cần đến nhân tài, những người có trí tuệ
sắc bén, có bàn tay vàng, có kỹ năng đặc biệt, việc phát hiện và bồi dưỡng nhân tài là
việc làm thực sự cần thiết.
Ở tiểu học, việc bồi dưỡng học sinh là trách nhiệm của giáo viên và nhà trường.
Trong hệ thống các môn học ở tiểu học thì môn Tiếng việt là môn học rất quan trọng,
được coi là môn học công cụ để học tốt các môn học khác. Môn Tiếng việt gồm nhiều
phân môn, trong đó phần cảm thụ văn học là phần nhằm phát triển tư duy cho học sinh,
nhằm bồi dưỡng để các em có thể trở thành học sinh giỏi môn Tiếng việt.
Khi cảm thụ được tác phẩm văn học, con người không chỉ được thức tỉnh về mặt
nhận thức mà còn rung động về tình cảm. Từ đó, con người sẽ nảy nở những ước mơ tốt
đẹp, khơi dậy năng lực hành động, cũng như được bồi dưỡng về tâm hồn.
Bồi dưỡng năng lực cảm thụ văn học cho học sinh nhằm hướng tới việc khám phá
nghệ thuật của tác phẩm. Đó là việc hướng dẫn học sinh từng bước nhận diện, làm quen,
hiểu biết và sáng tạo được các sản phẩm thẩm mĩ... Với tác phẩm văn học, bồi dưỡng
năng lực cảm thụ chính là nhằm giúp các em nhận biết nhanh nhạy và chính xác các tín
hiệu thẩm mĩ trong tác phẩm. Giúp học sinh xác định đúng nội dung chính của tác phẩm,
hình thành một số kĩ năng sơ giản trong phân tích, đánh giá nội dung và nghệ thuật của
I. CƠ SỞ LÝ LUẬN
1. Khái niệm về cảm thụ văn học
Cảm thụ văn học là quá trình nhận thức cái đẹp được chứa đựng trong thế giới
ngôn từ, hệ thống tín hiệu thứ hai loài người. Đó là quá trình tiếp nhận, hiểu cảm thụ
được của văn chương, đặc trưng ngôn ngữ nghệ thuật, đặc trưng phản ánh nghệ thuật,
tính hình tượng của văn chương. Đây là quá trình hoạt động nhận thức thẩm mỹ rất đặc
biệt, phức tạp và có tính sáng tạo. Những tính chất này do đối tượng nhận thức là tác
phẩm văn học quy định. Mỗi một tác phẩm văn học đều mang một vẻ đẹp toàn diện về cả
nội dung và cả giá trị nghệ thuật. Đó chính là vẻ đẹp về ngôn ngữ, về các hình thức nghệ
thuật được sử dụng trong tác phẩm đó. Quá trình nhận thức cái đẹp trong văn thơ là quá
trình nhận thức cái đẹp về ngôn ngữ mà là ngôn ngữ nghệ thuật. Đặc trưng của ngôn ngữ
nghệ thuật là giàu hình ảnh, có sức biểu cảm và có tính đa nghĩa.
2. Đặ
ƣn về năn
ực cảm thụ văn học ở lứa tuổi Tiểu học.
- Trước khi đến trường, HS tiểu học đã có vốn văn học nhất định. Đây không phải là
lần đầu tiên các em được tiếp xúc với hình tượng văn học. Ngay từ nhỏ các em đã được
nghe bố, mẹ, ông, bà kể chuyện cổ tích,truyện kể nhi đồng, nghe và thuộc các bài đồng
dao, một số bài ca dao, dân ca....Dù chưa ý thức rõ rệt, nhưng các em đã tiếp xúc với thơ,
văn từ rất sớm, từ thuở ấu thơ trong lời bà, lời mẹ hát ru:
Ví dụ:
Con ong làm mật yêu hoa
Con cá bơi yêu nước, con chim ca yêu trời...
Lớp Một ơi! Lớp Một!
Nay giờ phút chia tay
Đón em vào năm trước
Gửi lời chào tiến bước!
Chào bảng đen cửa sổ
Làm theo lời cô dạy
Chào nơi ngồi thân quen
Cô sẽ luôn ở bên.
Tất cả! Chào ở lại
Lớp Một ơi! Lớp Một
Đón các bạn nhỏ lên
Đón em vào năm trước
Chào cô giáo kính mến
Nay giờ phút chia ta
Cô sẽ xa chúng em...
thần con người.
Trong văn học của trẻ em và dành cho trẻ em, "tính ngạc nhiên" là điều kiện không
thể thiếu trong mọi tác phẩm. Do vậy, cảm thụ văn học đối với trẻ thơ cũng phải luôn
chứa đầy "tính ngạc nhiên".
3. Mục tiêu của việc bồi dƣỡn năn
ực cảm thụ văn học cho HS tiểu học
- Bồi dưỡng năng lực cảm thụ văn học giúp học sinh xác định đúng nội dung chính
của tác phẩm.
- Bồi dưỡng năng lực cảm thụ văn học giúp học sinh nhận biết nhanh nhạy và chính
xác các tín hiệu nghệ thuật trong tác phẩm.
-Bồi dưỡng năng lực cảm thụ văn học giúp học sinh hình thành một số kĩ năng sơ
giản trong phân tích, đánh giá nội dung và nghệ thuật của tác phẩm
- Bồi dưỡng năng lực cảm thụ văn học giúp học sinh hình thành và phát triển tình
cảm, tâm hồn và nhân cách.
II. CƠ SỞ THỰC TIỄN
1. Về phía giáo viên:
Nhận thức được tầm quan trọng của việc bồi dưỡng năng lực cảm thụ văn học cho
học sinh, trong những năm gần đây, Bộ Giáo dục - Đào tạo đã liên tục đưa ra nhiều văn
bản hướng dẫn, chỉ đạo chuyên môn nhằm cải thiện và nâng cao chất lượng dạy học môn
Tiếng Việt, trong đó đặc biệt chú ý phần cảm thụ văn học. Những việc làm đó là: đổi mới
chương trình SGK, tập huấn chương trình thay sách, tổ chức các hội thảo về đổi mới
phương pháp dạy học, tổ chức viết sáng kiến kinh nghiệm và các báo cáo khoa học về
nâng cao chất lượng các môn học, triển khai chương trình bồi dưỡng thường xuyên theo
các chu kỳ. Tuy nhiên, như một vết hằn đã in sâu trong cách nghĩ của giáo viên quan
niệm rằng việc dạy cảm thụ văn học cho học sinh tiểu học một cách đồng loạt là chưa cần
thiết. Mặc dù, có những công việc giáo viên và học sinh làm trên lớp, bản chất là đang
giúp học sinh cảm thụ văn học nhưng giáo viên không biết. Hoặc đôi khi giáo viên đề cao
quá vấn dề cảm thụ văn học, cho rằng dạy cảm thụ văn học là dạy bồi dưỡng học sinh
Nội dung đánh giá
Yếu
SL
%
SL
%
SL
%
SL
%
3
7,5
6
15
24
45
9
22,5
Khả năng diễn đạt theo ý 3
riêng
7.5
7
17,5 19
47,5 11
Vốn văn học của HS
27,5
Qua chất lượng bài làm của học sinh, tôi thấy về vốn văn học của học sinh tỉ lệ
Trung bình chiếm đa số (60%) và Yếu chiếm 17,5 , số em đạt Tốt chỉ có 7,5% và khá
15%.
* Về sự rung cảm có tính thẩm mĩ :
Tốt có 7,5%
Trung bình đạt 45%
26,95
Tìm hiểu nội nghệ thuật của tác giả.
dun
văn BT5 và BT7: Xác định ý chính của đoạn, đại ý của toàn
44,34
bản
bộ văn bản.
BT8: Xác định mục đích của tác giả viết bài văn, bài thơ
6,08
này nhằm diễn đạt điều gì ?
Bƣớ đầu hồi
đáp,
chủ
động trong
diễn đạt kết
quả cảm thụ
BT9: HS đọc diễn cảm đoạn (mà em thích) hoặc cả bài.
34,78
BT10: Bài học rút ra sau khi tìm hiểu nội dung. Em thích
chi tiết nào nhất trong bài văn, bài thơ ? Bài văn, bài thơ 12,17
gợi cho em suy nghĩ, cảm xúc gì ?
Từ kết quả điều tra trên, tôi đi đến những nhận xét về chất lượng cảm thụ văn học
của học sinh lớp 4 như sau:
Thứ nhất: Học sinh còn chậm trong quá trình nhận diện ngôn ngữ trong văn bản, kĩ
B. CÁC BIỆN PHÁP BỒI DƢỠNG NĂNG LỰC CẢM THỤ VĂN HỌC
CHO HỌC SINH LỚP 4.
I. NỘI DUNG CHƢƠNG TRÌNH PHÂN MÔN TẬP ĐỌC LỚP 4 - NGỮ
LIỆU DÙNG ĐỂ BỒI DƢỠNG NĂNG LỰC CẢM THỤ VĂN HỌC CHO HỌC
SINH.
Hệ thống văn bản, câu hỏi, bài tập trong Tập đọc lớp 4 nhằm nâng cao năng lực
cảm thụ văn học cho học sinh:
Chương trình SGK Tiếng Việt 4 được đưa vào giảng dạy chính thức từ năm học
2005 - 2006. Phân môn Tập đọc lớp 4, tập 1 được dạy trong 18 tuần, trừ 2 tuần ôn tập,
kiểm tra, mỗi tuần có 2 bài tập đọc, tất cả có 32 bài. Phần môn Tập đọc lớp 4 tập 2 được
dạy trong 17 tuần, trừ 2 tuần ôn tập, kiểm tra, mỗi tuần cũng có 2 bài tập đọc, tất cả kì là
30 bài.
Như vậy SGK Tiếng Việt 4 có tổng cộng 62 bài tập đọc, trong đó 41 bài thuộc thể
loại văn xuôi, 1 bài tục ngữ và 20 bài thuộc thể loại thơ. Nghiên cứu kĩ tôi thấy trong 62
bài tập đọc thì có đến 60 bài là văn bản nghệ thuật, 2 bài là văn bản phi nghệ thuật. Đây
là điều kiện thuận lợi giúp học sinh học tốt cảm thụ văn học. Tìm hiểu câu hỏi và bài tập
sử dụng sau mỗi bài Tập đọc trong SGK Tiếng Việt 4 và sách Bài tập Tiếng Việt 4 tôi có
nhận xét như sau:
Thứ nhất: do SGK được soạn theo 2 trục chủ điểm và kĩ năng nên một phần hệ
thống câu hỏi giúp học sinh hiểu và cảm thụ bài Tập đọc một cách rod ràng, giúp học
sinh làm quen với phong cách văn học và tạo cơ hội cho học sinh hồi đáp văn bản tốt
hơn.
Như vậy, tôi thấy tính tích hợp giữa các phân môn trong môn Tiếng Việt là rất cao,
các phân môn liên quan mật thiết với nhau, cùng sử dụng chung một số văn bản để hình
thành kiến thức, kĩ năng cho học sinh. Vì thế, các câu hỏi nhằm giúp học sinh học tốt
phân môn Tập đọc, rèn luyện các kĩ năng đọc hiểu, đọc diễn cảm, cảm thụ văn học thì
cũng giúp học sinh học tốt các môn học khác và ngược lại.
Thứ hai: do tính tích hợp giữa các phân môn như đã nêu ở trên, nên trong quá trình
Ví dụ: “Chiếc bè được ví với cái gì? (Bè xuôi Sông La - TV4 - T2 ; “Cách nói:
“dòng sông mặc áo” có gì hay? Dòng sông mặc áo - TV4 - T2).
Loại Thứ tư: Yêu cầu học sinh nêu mục đích tác động của tác giả gửi vào văn bản
và yêu cầu nêu sự hồi đáp của các em về nội dung văn bản. Loại câu hỏi, bài tập này thể
hiện tương đối nhiều, thể hiện sự quan tâm của tác giả SGK tới bước hồi đáp văn bản.
Ví dụ: “Qua các câu thơ mở bài và kết bài, tác giả muốn nói điều gì về cánh diều
tuổi thơ?
a. Cánh diều là kỉ niệm đẹp đẽ của tuổi thơ.
b. Cánh diều khơi gợi những ước mơ tốt đẹp cho tuổi thơ.
c. Cánh diều đem đến bao niềm vui cho tuổi thơ”. Cánh diều tuổi hơ TV4 - T1).
Như vậy, qua việc thống kê và sắp xếp các bài tập dành cho phần Tập đọc trong
SGK Tiếng Việt 4 tôi nhận thấy như sau: Để bồi dưỡng nâng cao năng lực cảm thụ văn
học cho học sinh thì trước hết phải giúp học sinh đọc - hiểu văn bản, đọc diễn cảm văn
bản và làm các bài tập rèn kĩ năng cảm thụ văn học.
Để việc đọc - hiểu có hiệu quả thì phải giúp học sinh đọc và nắm được ý nghĩa của
các từ chìa khoá, ý của các câu đặc biệt, ý của từng đoạn, từng khổ thơ và đại ý của toàn
bài. Nhưng nghiên cứu hệ thống câu hỏi, bài tập sau mỗi bài tập đọc giúp học sinh thực
hiện các công việc đó thì chưa đáp ứng được. Cụ thể là chưa có hệ thống câu hỏi cho
từng yêu cầu cụ thể, một số câu hỏi đưa ra còn mang tính chất chung chung, một số câu
hỏi tự luận quá khó với học sinh, trong khi đó lại chưa đưa ra các phương án trả lời giúp
học sinh lựa chọn theo hình thức trắc nghiệm khách quan. Điều đó chứng tỏ SGK chưa
thực sự coi trọng trong việc giúp học sinh khai thác bài để hiểu sâu, hiểu kĩ nội dung bài
đọc. Mà chúng ta đã biết, việc thực hành các bài tập có vị rất quan trọng trong việc hiểu
văn bản của học sinh, đặc biệt là văn bản nghệ thuật. Hơn nữa, hầu như tất cả các bài tập
đọc của lớp 4 đều là văn bản nghệ thuật (tổng số có 62 bài mà có tới 60 bài là văn bản
nghệ thuật).
Theo quy trình của tiết dạy Tập đọc thì đều có bước yêu cầu học sinh đọc diễn
cảm. Bước này được thực hiện sau khi đọc hiểu. Nhưng trong thực tế giảng dạy thì lại
học không quan tâm đến việc luyện đọc các từ khó và một số nhiệm vụ khác như mục
đích của bài Tập đọc nói chung.
2. Nội dung cảm thụ văn học
Tập đọc là phân môn có vai trò quan trọng bậc nhất trong việc bồi dưỡng năng lực
cảm thụ văn học cho học sinh. Bởi vì, Tập đọc cung cấp một khối lương ngữ liệu văn
chương nhiều nhất thuộc nhiều lĩnh vực, nhiều phạm vi khác nhau, rèn kĩ năng đọc - hiểu
nhiều nhất và rèn kĩ năng đọc diễn cảm, đọc phân vai tập trung nhất, ở đây có một số
đoạn trích, hoặc toàn bộ tác phẩm của các tác giả văn học lớn được đưa vào chương trình.
Cũng có nhiều bài do các nhà giáo soạn ra, hoặc phỏng theo các nhà văn hoặc sưu tầm
trên báo chí. Chúng được biên soạn lại, sắp xếp theo hệ thống chủ đề và theo các kiểu văn
bản. Phân môn Tập đọc sẽ giúp các em hiểu được nội dung, nghệ thuật, rung cảm trước
những từ ngữ, những câu, những hình ảnh, những hình tượng thẩm mỹ. Những sáng tác
được đưa vào chương trình, hoặc là những tác phẩm văn học đích thực, hoặc là những
sáng tác có nhiều yếu tố văn học, cũng đủ giúp các em hình thành và phát triển năng lực
cảm thụ văn học.
Nội dung cụ thể của cảm thụ văn học trong các bài Tập đọc là học sinh được đọc
trực tiếp các ngữ liệu văn học, tìm hiểu nội dung và nghệ thuật, đồng thời diễn đạt những
suy nghĩ và cảm xúc của mình khi trả lời các câu hỏi và bài tập. Phân môn Tập đọc còn
tạo điều kiện để học sinh rung cảm, thưởng thức vẻ đẹp của hình tượng ngôn từ thông
qua giọng đọc diễn cảm, giọng ngâm tuỳ thuộc vào nội dung của từng bài.
Trong số các văn bản được dùng để dạy cảm thụ ở tiểu học, loại văn bản nghệ thuật
có một vị trí đặc biệt, không những bởi tầm quan trọng của loại văn bản này mà còn do tỉ
lệ văn bản nghệ thuật được đưa vào chương trình rất cao.
Để học sinh cảm thụ được các tác phẩm nghệ thuật thể hiện bằng văn bản thì trước
hết phải giúp học sinh đọc và hiểu được văn bản.
Đọc văn bản nghệ thuật, học sinh không chỉ hiểu nội dung văn bản mà còn phải
cảm thụ được một loại hình nghệ thuật lấy ngôn ngữ làm chất liệu. Dạy học sinh đọc hiểu văn bản nghệ thuật gồm việc làm cho học sinh nắm được nội dung văn bản, mục tiêu
của văn bản, đồng thời dạy cho học sinh cảm nhận được vẻ đẹp của ngôn từ, dạy đọc hiểu
những giá trị nổi bật, những điều sâu sắc, tế nhị và đẹp đẽ của văn học thể hiện trong văn
bản được đọc đồng thời là sự thể hiện thái độ, sự chia sẻ của người đọc với những gì đã
học. Ở đây, chúng ta không yêu cầu học sinh phải tìm ra khái niệm và học thuộc từng
khái niệm, mà thông qua các thao tác, các việc làm cụ thể của giáo viên và học sinh như
khi chúng ta giới thiệu bài đưa học sinh vào nội dung bài học, đọc mẫu cho học sinh
nghe, giúp học sinh hiểu và cảm thụ một số hình ảnh đặc sắc, một số biện pháp tu từ
trong bài… Hay khi học sinh làm việc trong nhóm: nghe bạn đọc rồi lại đọc cho bạn
nghe, cùng bạn trao đồi về nghĩa của một số từ mới trong bài hay cùng bạn tìm hiểu cách
đọc, ý chính của đoạn, đại ý của bài…để học sinh làm quen với việc cảm thụ. Từ đó, sẽ
hình thành cho học sinh những suy nghĩ, những thao tác về cảm thụ văn học. Đồng thời
tích ôn luyện lại các kiến thức về Tiếng Việt như: Ngữ âm, từ vựng, ngữ pháp, các biện
pháp tu từ trong Tiếng Việt. Chẳng hạn, khi hướng dẫn học sinh đọc và cảm thụ đoạn:
Cày đồng đang buổi ban trưa
Mồ hôi thánh thót như mưa ruộng cày
Ai ơi bưng bát cơm đầy
Dẻo thơm một hạt, đắng cay muôn phần
Giáo viên nêu vấn đề học sinh suy nghĩ:
- Tại sao tác giả lại chọn thời gian "ban trưa" mà không chọn thời gian khác?
- Mồ hôi của người nông dân được so sánh với gì? Mưa ruộng cày-so sánh, ngoa
dụ)
- Em hãy tìm các cặp từ đối nghĩa với câu cuối? (Dẻo thơm - đắng cay, một hạt muôn phần)
- Qua bài đọc trên, tác giả muốn nói với chúng ta điều gì? (Nỗi vất vả của người
nông dân)
- Được hưởng những thành quả lao động, mỗi chúng ta có những suy nghĩ gì? Biết
ơn người nông dân và trân trọng thành quả lao động)
2. Tăn ƣờn èn ĩ năn đọc hiểu, giúp học sinh tìm hiểu sâu sắc nội dung
các bài Tập đọc nhằm nân ao năn ực cảm thụ văn học cho các em.
a. Bản chất của quá trình dạy đọc hiểu:
Ở Tiểu học không có phân môn riêng cho cảm thụ văn học. Tập đọc là phân môn
góp phần nhiều nhât vào quá trình hình thành và phát triển năng lực cảm thụ văn học cho
học sinh. Luyện đọc cho học sinh là một hoạt động đặc trưng của phân môn Tập đọc
đồng thời cũng là một khâu rất quan trọng trong việc giúp học sinh cảm thụ kiến thức văn
học. Để tìm hiểu tác phẩm văn học nói chung hay cảm thụ đoạn trích, bài thơ ở tiểu học
nói riêng, yêu cầu đầu tiên phải thể hiện được khả năng đọc. Phải đọc đúng và đọc rõ
ràng từng từ, từng câu, từng đoạn, gọi là thao tác đọc trơn có đọc thầm và đọc thành
tiếng). Thực hiện xong thao tác này, cần tìm hiểu các từ khó và phần “Chú giải”nhằm
hiểu rõ ý nghĩa của bài văn, bào thơ. Sau đó, tuỳ theo thể loại văn bản mà xác định giọng
đọc, cách nghỉ hơi, ngặt nhịp cho phù hợp. Cho học sinh đọc nhiều lần đonạ văn, đoạn
thơ, yêu cầu học sinh phải đọc đúng, trôi chảy, lưu loát. Đọc hiểu nội dung cơ bản của bài
văn, bài thơ, phân biệt đọc văn khác với đọc thơ, đọc văn miêu tả không giống văn kể
chuyện, đọc lời trần thuật không giống đọc câu hỏi hay câu cảm và với mỗi bài sẽ có cách
đọc khác nhau. Khi đọc phải ngắt nghỉ cho đúng, tốc độ đọc phù hợp với từng bài. Khi
đọc, học sinh phải chú ý đến cao độ, trường độ từng câu, từng dòng trong bài. Khi đọc
thơ cần thể hiện sự phối hợp giữa nhịp điệu, tiết tấu, ngắt hơi hợp lí giữa các ý thơ, mạch
thơ, dòng thơ.
Yêu cầu học sinh đọc diễn cảm là để giúp các em nâng cao cảm xúc thẩm mĩ và
kích thích các em khám phá ra cái hay, cái đẹp của văn học. Đọc diễn cảm là hình thức
tái sản sinh tác phẩm nghệ thuật, là khám phá ra những điều kì diệu ẩn chứa sau những
hàng chữ, làm cho chúng được vang lên, sống lại, làm cho học sinh lại gần với tác phẩm
văn học hơn. Từ đó giúp cho học sinh cảm thụ bằng chính giọng đọc, bằng chính nhạc
điệu, âm hưởng của bài văn, bài thơ.
Khi dạy học sinh cảm thụ, giáo viên phải hướng dẫn học sinh ngoài tư duy cụ thể
phải biết tư duy trừu tượng để nâng cao nhận thức trong văn học.
Trong SGK, các bài Tập đọc đã có hệ thống câu hỏi hay bài tập được biên soạn khá
công phu, sắp xếp theo hệ thống từ dễ đến khó. Các câu hỏi khó thường ở vị trí cuối hệ
thống bao giờ cũng nêu yêu cầu phát hiện những nội dung sâu sắc và quan trọng nhất của
Ví dụ: Trong bài Tập đọc: “ Tre Việt Nam” TV lớp 4 - tập 1)
Tìm hiểu bài có câu hỏi phục vụ cho việc giúp học sinh cảm thụ là: Em thích những
hình ảnh nào về cây tre và búp măng non? Vì sao?
Để trả lời hai câu hỏi trên, chúng ta cùng đọc bài viết sau đây:
Đọc xong bài thơ, chúng ta tự hỏi: có mấy hình ảnh xuyên suốt bài thơ? Hình như
có một hình ảnh. Điều này chẳng những đã được dự báo từ đầu đề của bài thơ. Đúng, bài
thơ nói về cây tre mọc khắp làng quê ta. Đó là tre Việt Nam, có thể hiểu là tre của Việt
Nam, tre ở Việt Nam.
Cây tre thân thiết với mỗi người Việt Nam nên mỗi chi tiết về tre, dù mới thoáng
qua vẫn gợi nên tình cảm thân thương, quý mến. Ta xúc động khi nhận ra hình ảnh của
tre:
Thân gầy guộc, lá mong manh
Mà sao nên luỹ nên thành tre ơi?
Mấy từ “gầy guộc”, “mong manh” trong câu thơ thật giản dị, không trau chuất gì
nhưng khi đọc lên làm cho mỗi chúng ta xúcc động? Đúng là tả tre nhưng sao thân thiết
như nói với ta, nói về chính chúng ta?
Ta rưng rưng khi nhận ra luỹ tre làng trong dáng điệu:
Bão bùng thân bọc lấy thân
Tay ôm, tay níu tre gần nhau thêm.
“Thân bọc lấy thân”, “tay ôm tay níu” đúng là hình ảnh cây tre trong luỹ tre
nhưng sao cứ vương vấn một cái gì khác nữa ngoài tre?
Ta vui thích khi thấy hình ảnh măng non được khắc hoạ chi tiết, cụ thể:
Nòi tre đâu chịu mọc cong
Chưa lên đã nhọn như chông lạ thường.
Măng non là búp măng non
Đã mang dáng thắng thân tròn của tre.
“Nhọn như chông”, “dáng thẳng thân tròn”là những chi tiết chân thực tả cây
măng. Nhưng sao lại: “Nòi tre đâu chịu mọc cong”? Hình như đâu phải chỉ nói đến tre,
Cả bài thơ, như vậy là có hai hình ảnh. Hình ảnh thực, hình ảnh dễ nhận thấy là
hình ảnh cây tre. Hình ảnh ảo, hình ảnh khó nhận thấy là hình ảnh con người Việt Nam.
hai hình ảnh ấy quấn quýt lấy nhau, hòa vào nhau tạo nên cho bề sâu giọng thơ chân
tình, chân thành như tơ lòng vương vấn khắp câu, khắp chữ của bài thơ.
Tạo nên cái kì ảo của bài thơ không chỉ có cách cấu trúc ẩn dụ của hình ảnh xuyên
suốt bài thơ mà còn có màu xanh đặc trưng của tre, một màu xanh trải dài từ câu đầu
tiên đến câu cuối cùng. Tác giả tả "tre xanh" nhưng lại kì ảo hóa qua lời tự hỏi "xanh tự
bao giờ?" để rồi tự trả lời:
Chuyện ngày xưa…đã có bờ tre xanh
"Chuyện ngày xưa" là câu chuyện Thành Gióng nhổ cả bụi tre để đánh giặc.
"Chuyện ngày xưa" là câu chuyện Cây tre trăm đốt nhân tình nhân nghĩa. Cái bờ tre
xanh ấy từng tỏa bóng ôm trùm làng quê ta từ thời xa xưa, đến ngày nay vẫn vậy:
Thương nhau, tre chẳng ở riêng
Lũy thành từ đó mà nên hỡi người.
Và còn kéo dài mãi mãi trong sự kế tiếp "Năm qua đi, tháng qua đi" đến tương lai:
Mai sau
Mai sau
Mai sau
Đất xanh tre mãi xanh màu tre
xanh
Bài thơ kép lại trong màu xanh hi vọng, màu xanh của sự sống đang nảy nở ra cả
chân trời. Ta đi trong màu xanh ấy để đến tương lai với niềm tin yêu vào đất nước mình.
3. Luyện tập và củng cố vững chắc các thao tác trong cảm thụ văn học cho học
sinh:
nhất trong việc phát triển vốn sống, nhất là vốn kinh nghiệm sống cho học sinh. Vì hơn
bất cứ môn học nào khác, phân môn Tập đọc có khả năng đem đến cho các em nhiều tình
huống đạo đức - nhân văn. Mà ở đó, con người trong quá khứ, con người ở nhiều nơi trên
thế giới đã từng ứng xử một cách giàu trí tuệ và giàu lòng nhân ái. Đó là những tri thức
và kinh nghiệm có tác dụng làm giàu thêm vốn sống cũng như phát triển tốt tình cảm,
tâm hồn cho các em.
Hướng dẫn học sinh ghi chép những gì thu nhận được, tích lũy lại những điều bổ
ích làm giàu thêm cho vốn sống. Rèn cho học sinh thói quen ghi "Sổ tay văn học", ghi lại
những từ ngữ hay, những hình ảnh đẹp, câu thơ, đoạn văn em thích hoặc những điều em
cảm nhận được để trau dồi năng lực cảm thụ văn học cho bản thân.
c. Kĩ năng phân tích, tổng hợp, so sánh, liên tưởng ...là những kĩ năng thuộc tư duy
logic và tư duy hình tượng. Đặc biệt, các kĩ năng, thao tác này được sử dụng để phát hiện
ra đặc điểm về nội dung và nghệ thuật của tác phẩm, chỉ ra sự khác nhau giữa hình tượng
này với hình tượng khác, từ đó làm nỗi bật vẻ đẹp độc đáo của tác phẩm và tài năng của
nhà văn.
d. Kĩ năng diễn đạt: được sử dụng trong tất cả các hoạt động của cảm thụ văn học,
đó là khâu cuối cùng, diễn đạt kết quả cảm thụ bằng lời văn của mình. Khi nói hoặc khi
viết, lời văn phải đủ ý, rõ ràng, dùng từ phải chính xác và phải được trau chuốt.
Khi viết những điều em cảm thụ được khi đọc xong bài "Khúc hát ru những em bé
lớn trên lưng mẹ" (TV lớp 4 - tập 2) có học sinh đã viết:
“Dưới hình thức một lời ru mới, "Khúc hát ru những em bé lớn trên lưng mẹ" của
Nguyễn Khoa Điềm ca ngợi hình ảnh người mẹ Việt Nam vừa có những nét truyền
thống: cần cù và yêu lao động, vừa có những nét rất hiện đại: các công việc giã gạo, phát
rẫy làm nương ở đây là để nuôi bộ đội, nuôi dân làng và đánh giặc. Tình cảm của mẹ
trong lời ru với con mình và với bộ đội, với dân làng, với đất nước được thể hiện trong sự
đan kết, quấn quýt; cách cấu trúc tình cảm "Mẹ thương a- kay, mẹ thương bộ đội" khẳng
định tình cảm đó tuy hai mà một, đậm đà, ruột thịt. Hình ảnh em Cu Tai vừa là đối tượng
của lời ru vừa là dấu nối tinh thần giữa mẹ và nhân dân, mẹ và đất nước; giữa hiện thực
thuật tác động đến tình cảm của học sinh, giúp học sinh tiếp cận được với độ sâu sắc và
tinh tế của nội dung tác phẩm, đồng thời rung cảm nghệ thuật giúp cho giờ học có nhiều
hứng thú.
Trong thực tế, vì nhiều nguyên nhân, sự say mê, hứng thú của học sinh trong giờ
học Tập đọc, đặc biệt là phần cảm thụ văn học đang có phần bị giảm sút. Cần làm thêm
hứng thú, say mê ở các em nhờ tăng cường các hoạt động cảm thụ văn học cho học sinh.
Những giờ học đầy xúc động này sẽ gây ấn tượng tốt đẹp, tạo động lực thúc đẩy các em
phấn đấu trở thành những công dân tốt, những con người biết sống có ích cho xã hội.
Trong quá trình khuyến khích học sinh rung cảm nghệ thuật trong mọi hoạt động
dạy học của tiết Tập đọc, chúng ta cần làm rõ nội dung của từng hoạt động như sau:
a. Giúp học sinh rung cảm nghệ thuật ở hoạt động giới thiệu bài cho giáo viên:
Chẳng hạn: Khi học Tập đọc bài "Trung thu độc lập" của Thép Mới (TV lớp 4 - tập
1) các em học sinh được cô giáo dẫn dắt vào bài như sau: giáo viên cho cả lớp quan sát
tranh trong SGK (tranh phóng to) và hỏi: các em hãy suy nghĩ và cho cô biết nội dung
bức tranh là gì? (Anh bộ đội đang cầm súng đứng gác)
Giáo viên giới thiệu: Đây là hình ảnh anh bộ đội đang cầm súng đứng gác dưới
đêm trăng trung thu năm 1945, lúc đó nước ta vừa giành được độc lập. Trong đêm trung
thu độc lập đầu tiên, anh đã suy nghĩ và ước mơ về tương lai của đất nước, tương lai của
các em. Vậy ớc mơ đó là gì và cuộc sống của chúng ta hôm nay có gì giống và khác với
mong ước của anh chiến sỹ 60 năm trước đây, các em cùng cô giáo đọc bài “Trung thu
độc lập” để cùng hiểu được điều đó.
Như vậy, qua lời giới thiệu của giáo viên, học sinh nắm được hoàn cảnh sáng tác
của bài đọc. Học sinh cảm thụ được một điều: Trung thu đẹp, tết trung thu vui; Trung thu
độc lập lại càng đẹp và vui hơn nhiều. Vì đất nước được độc lập, nhân dân được tự do.
Đồng thời các em cũng cảm nhận được tình yêu thương các em nhỏ của anh chiến sỹ, mơ
ước của anh về tương lai của các em, của đất nước trong đêm trung thu độc lập đầu tiên.
b. Luyện đọc diễn cảm - con đường khuyến khích học sinh rung cảm nghệ thuật.
- Đọc diễn cảm – phát huy cao độ vai trò chủ thể cảm thụ:
thuật. Vấn đề còn lại là giáo viên phải làm thế nào để bồi dưỡng, rèn luyện cho học sinh
năng lực đọc diễn cảm và khơi dậy ở các em cái khát vọng trình bày, cái động cơ thể hiện
việc truyền cảm như một hành vi văn hoá đầy tinh thần sáng tạo.
- Đọc diễn cảm kích thích liên tưởng, tưởng tượng của học sinh, giúp học sinh nhập
thân vào nội dung bài học:
Những con chữ trên trang văn chỉ thực sự lên tiếng, đối thoại, bộc bạch khi nó
được tác động, đánh thức bởi hoạt động tri giác ngôn ngữ của người đọc, Cụ thể là người
đọc bằng hành động đọc của mình biến những "kí hiệu chết" trở thành những "sinh ngữ
nghệ thuật" và quan trọng hơn là thông qua đọc diễn cảm để làm sống dậy, bừng tỉnh cái
thế giới nghệ thuật vốn không thể soi ngắm bằng mắt thường, một bức tranh chân dung
về hình ảnh người mẹ:
Em cu Tai ngủ trên lưng mẹ ơi
Mẹ giã gạo mẹ nuôi bộ đội
Em ngủ cho ngoan đừng rời lưng
Nhịp chày nghiêng giấc ngủ em
mẹ
nghiêng
Mồ hôi mẹ rơi má em nóng
Lưng đưa nôi và tim hát thành lời....
hổi
Vai mẹ gậy nhấp nhô làm gối
Tất cả chỉ hiện ra trong nội quan của người đọc. Nói cách khác người đọc chỉ trông thấy
nó bằng "con mắt thứ ba". Đi qua "cây cầu đọc diễn cảm" người đọc bước vào thế giới kì
diệu vừa quen vừa lạ của văn học. Theo tâm lí học cảm thụ, âm vang của giọng đọc đã
kích thích quá trình tri giác, tưởng tượng và tái hiện hình ảnh ở người đọc, đưa người đọc
vào thế giới của tác phẩm, tạo nên trạng thái tam lí cần có khi đọc sách hay xem nghệ