Sáng kiến kinh nghiệm SKKN linh hoạt và sáng tạo khi hướng dẫn học sinh lớp 5 giải toán có lời văn - Pdf 40

SÁNG KIẾN KINH NGHIỆM

ĐỀ TÀI:
"LINH HOẠT VÀ SÁNG TẠO KHI HƢỚNG DẪN HỌC SINH LỚP
5 GIẢI TOÁN CÓ LỜI VĂN"

1


A ĐẶT VẤN ĐỀ
Trong môn toán ở bậc tiểu học các bài toán có lời văn có một vị trí rất quan trọng. Bởi
vì: Việc giải toán giúp học sinh củng cố, vận dụng và hiểu sâu sắc thêm tất cả các kiến
thức về số học, về đo lường, về hình học đã được học trong môn toán ở tiểu học. Hơn thế
nữa phần lớn các biểu tượng, khái niệm, quy tắc, tính chất toán học ở tiểu học đều được
học sinh tiếp thu qua con đường giải toán, chứ không phái qua con đường lý luận. Ví dụ:
Quy tắc chia một số thập phân cho một số tự nhiên được dạy ở lớp 5 qua bài toán: “
Một sợi dây dài 8,4m được chia thành 4 đoạn bằng nhau. Hỏi mỗi đoạn dây dài bao nhiêu
mét?”
Thông qua nội dung thực tế nhiều hình thức, nhiều vẻ của các đề toán, học sinh sẽ
tiếp thu được những kiến thức phong phú về cuộc sống và có điều kiện để rèn luyện khả
năng áp dụng các kiến thức toán học vào cuộc sống ; làm tốt điều Bác Hồ căn dặn là “
Học đi đôi với hành”.
Mỗi đề toán là một bức tranh nhỏ của cuộc sống. Khi giải mỗi bài toán, học sinh
phải biết rút ra từ bức tranh ấy cái bản chất toán học của nó, phải biết chọn lựa những
phép tính thích hợp, biết làm đúng các phép tính đó, biết đặt lời giải chính xác…Vì thế
quá trình giải toán sẽ giúp học sinh rèn luyện khả năng quan sát, khả năng sử dụng Tiếng
việt và giải quyết các vấn đề của cuộc sống qua con mắt toán học của mình.
Việc giải các bài toán sẽ giúp phát triển trí thông minh, óc sáng tạo và thói quen
làm việc một cách khoa học cho học sinh. Bởi vì khi giải toán, học sinh phải biết tập
trung chú ý vào cái bản chất của đề toán, phải biết gạt bỏ những cái thứ yếu, phải biết
phân biệt cái đã cho và cái phải tìm, phải biết phân tích để tìm ra những đường dây liên

B. THỰC TRẠNG
Qua thực tế tìm hiểu thực trạng dạy và học giải toán ở lớp 5 tôi thấy có những mặt
mạnh và tồn tại sau:
1. Những ƣu điểm và thuận lợi:
Trong nhà trường tiểu học đã được trang bị tài liệu thiết bị đồ dùng dạy học tương
đối đầy đủ, tạo điều kiện dạy và học đạt kết quả cao. Giáo viên được cung cấp đầy đủ tài
liệu, đồ dùng dạy học như: sách giáo khoa, sách hướng dẫn, các tài liệu khác. Đó là các
yếu tố quan trọng giúp người giáo viên thực hiện được nhiệm vụ của quá trình dạy học
đồng thời nó là hành trang cần thiết cho mỗi giáo viên đứng lớp. Học sinh có đủ tài liệu
như: Sách giáo khoa, vở bài tập và đồ dùng học tập. Giáo viên đã sắp xếp dành nhiều thời
gian cho học sinh được làm việc với sách giáo khoa, vở bài tập.
Trong giờ học, khi truyền đạt nội dung của bài mới giáo viên đó kết hợp nhiều
phương pháp dạy học như: Giảng giải, trực quan, vấn đáp. luyện tập thực hành,.... và dạy
đúng theo quy trình giải toán có lời văn như sau:
1. Đọc kỹ đề toán
2. Tóm tắt đề toán
3. Phân tích bài toán để tìm cách giải
4. Giải bài toán và thử lại các kết quả
Ngoài ra giáo viên nên định hướng cho học sinh giỏi biết khai thác bài toán
2. Những hạn chế còn tồn tại:

3


Giải toán có lời văn là dạng toán khó nhất với học sinh tiểu học. Nhiều em thực hiện tốt
các phép tính nhưng khi vận dụng vào giải toán có lời văn các em gặp rất nhiều khó khăn.
Không hiểu đề, không trình bày được bài giải. Do các nguyên nhân sau :
* Về học sinh:
Nguyên nhân thứ nhất là do tâm lý học sinh cảm thấy giải toán là một vấn đề khó,
nên dẫn đến không đọc kỹ đề bài, không tự suy luận được yêu cầu bài toán đặt ra là gi?


giáo khoa ra đọc đề, như vậy học sinh lười suy nghĩ, nhìn vào lời giải có sẵn trong sách
giáo khoa.
C. GIẢI QUYẾT VẤN ĐỀ
Hướng dẫn học sinh nắm chắc phương pháp chung để giải các bài toán. Mỗi bài toán các
em có làm tốt được hay không đều phụ thuộc vào các phương pháp giải toán được vận
dụng ở mỗi bước giải bài toán đó. Cho nên, chúng ta cần hướng dẫn học sinh nắm được
các bước giải bài toán như sau:
* Bước 1: Đọc kĩ đề toán.
* Bước 2: Tóm tắt đề toán.
* Bước 3: Phân tích bài toán.
* Bước 4: Viết bài giải.
* Bước 5: Kiểm tra lời giải và đánh giá cách giải.
Cụ thể yêu cầu đối với học sinh như sau:
I. ĐỌC ĐỀ TOÁN
Học sinh đọc đề và nắm được ba yếu tố cơ bản. Những “ dự kiện” là những cái đã
cho, đã biết trong đề bài, “những ẩn số” là những cái chưa biết và cần tìm và những “điều
kiện” là quan hệ giữa các dữ kiện với ẩn số.
Cần tập cho học sinh có thói quen và từng bước có kĩ năng suy nghĩ trên các yếu tố cơ
bản của bài toán, phân biệt và xác định được các dữ kiện và điều kiện cần thiết liên quan
đến cái cần tìm, gạt bỏ các tình tiết không liên quan đến câu hỏi, phát hiện được các dữ
kiện và điều kiện không tường minh để diễn đạt một cách rõ ràng hơn. Tránh thói quen
xấu là vừa đọc xong đề đã làm ngay.Ví dụ khi đứng trước một bài toán có lời văn GV
phải yêu cầu học sinh đọc đề bài với mục đích rừ ràng:
- Đọc đề, xác định cái bài toán đã cho và yêu cầu của bài toán.
- Xác định mỗi quan hệ giữa cái đã biết và cái chưa biết.
- Suy nghĩ và tìm hướng giải quyết bài toán.
II. LINH HOẠT TRONG HƢỚNG DẪN TÓM TẮT ĐỀ TOÁN.
Thực tế có rất nhiều cách tóm tắt bài toán, nếu các em càng nắm được nhiều cách
tóm tắt thì các em sẽ có kỹ năng giải toán giỏi. Sau đây là một số cách tóm tắt đề toán:

a
b

* Quan hệ “ Số b gấp 3 lần số a” hay “ Số a bằng 1/3 số b” có thể biểu thị bằng một trong
các hình sau :
a

a

b

b

* Để nói rằng số a bằng 3/4 số b

a

ta dùng hình bên

b

6


Ví dụ 1 : Trong giờ kiểm tra, bạn Hùng đã giải một bài toán và làm 4 dãy tính hết 42
phút. Trong thời gian giải một dãy tính bằng nửa thời gian giải một bài toán. Hỏi trung
bình Hùng giải một dãy tính hết bao lâu?
Có thể tóm tắt bài toán bằng hình vẽ :
Thời gian giải 1 bài toán


Từ sơ đồ này ta thấy ngay số thóc của chị nhiều hơn số thóc của em là

7


( 3 + 3) x 2 = 12(kg). Vậy đây là bài toán loại “ Tìm 2 số biết tổng( là 98kg) và hiệu(là
12kg)” mà ta đã biết cách giải.
Ví dụ 3 : Một con vịt trời đang bay bỗng gặp một đàn vịt trời bay theo chiều ngược lại,
bèn cất tiếng chào : “ chào 100 bạn”. Con vịt trời đầu đàn bèn đáp lại : “ chào bạn! nhưng
bạn nhầm rồi. Chúng tôi không phải có 100 đâu ; mà tất cả chúng tôi, cộng thêm tất cả
chúng tôi một lần nữa, thêm một nửa chúng tôi, rồi thêm 1/4 chúng tôi và cả bạn nữa mới
đủ 100!”. Em hãy tính xem đàn vịt trời có bao nhiêu con?.
Dùng một đoạn thẳng để chỉ số vịt trời trong cả đàn thì ta có :
Đàn vịt trời
Đàn vịt trời
1/2 đàn vịt trời

100 con

1/4 đàn vịt trời
1 con nữa

1

Từ đây ta thấy có tất cả:
4 + 4 + 2 + 1 = 11 (đoạn nhỏ)
11 đoạn này ứng với :
100 – 1 = 99 ( con vịt)
Từ đó suy ra số vịt ứng với 4 doạn nhỏ
2. Tóm tắt đề toán bằng các hình tƣợng trƣng

7

7

7

7

7

Vậy có thể tóm tắt bài toán như sau :
Chiều rộng
Chiều dài

7

7

7

7

7

39 (cm)
Từ hình vẽ trên ta thấy 39cm gồm “ 4 lần chiều rộng” và “ 5 lần 7”. Từ đó suy ra “ 4 lần
chiều chiều rộng”, rồi tìm ra chiều rộng. Từ chiều rộng tính ra chiều dài và chu vi hình
chữ nhật.
3. Tóm tắt đề toán bằng lƣu đồ
Tóm tắt đề toán bằng lưu đồ là một phương pháp tương đối mới, còn ít được dùng ở


:6

+3

Vậy x = 5 hay số phải tìm là 5
Ví dụ 2 :
Một người bán trứng, bán lần thứ nhất một nửa số trứng người đó có và một nửa quả
trứng. Lần thứ 2 bán nửa số trứng còn lại và một nửa quả trứng. Lần thứ 3 bán nửa số
trứng còn lại sau 2 lần và một nửa quả trứng thì vừa hết. Hỏi lúc đầu người đó có bao
nhiêu quả trứng?
Có thể tóm tắt bài toán bằng một lưu đồ như sau :
:2

- 0,5

:2

- 0,5

:2

- 0,5
0

Có thể tinh ngược bài toán bằng một lưu đồ như sau và tìm ra kết quả:
7

3,5



Vậy lúc đầu có 7 quả trứng
4. Tóm tắt đề toán bằng ngôn ngữ, ký hiệu ngắn gọn
Không phải bài toán nào cũng có thể tóm tắt một cách tiện lợi bằng các hình vẽ như
trên. Vì vậy còn có một hình thức tóm tắt rất hay dùng nữa là dùng ngôn ngữ hoặc các ký
hiệu vắn tắt, ngắn gọn. Thực chất đây là một cách viết tắt các ý chính chủ yếu của đề
toán.
Ví dụ 1:
Bài toán “ số dân ở xã Mỹ Đức Tây năm 2005 là 7500 người. Biết rằng số dân đó mỗi
năm tăng theo mức “ Cứ 1000 người thì tăng thêm 16 người”. Hãy tính số dân ở xã đó
năm 2006”
Có thể tóm tắt như sau:
1000 người

(1000 + 16) người

7500 người

?

người

Ví dụ 2 :
Bài toán “ Một tổ thợ mộc có 3 người, trong 5 ngày đóng được 75 cái ghế. Hỏi nếu tổ có
5 người, làm trong 7 ngày thì đóng được bao nhiêu ghế ? ( Năng suất làm việc như
nhau)”
Có thể tóm tắt như sau:
3 người

5 ngày

Tất cả

8

Không xem phim

11

?

Tất cả

20

35

Dựa vào bảng này ta có thể giải bài toán như sau:
Số bạn nam có đi xem phim là :
20 – 11 = 9(bạn)
Số học sinh có đi xem phim là:
9 + 8 = 17(bạn)
Số học sinh không đi xem phim là :
35 – 17 = 18 (bạn)
Đáp số : 18 bạn
Trình tự giải được nêu trong cách ghi sau:

Nam

Nữ



Ví dụ 1: Bài toán : “ Một người mua 10 quả trứng gà và 5 quả trứng vịt hết tất cả 55000
đồng. Tính giá tiền mỗi quả trứng biết rằng số tiền mua 5 quả trứng gà nhiều hơn số tiền
mua 2 quả trứng vịt là 14 000 đồng”.
Ở đây, nếu ta ký hiệu :
- Giá tiền mua 10 quả trứng gà là 10 “ trứng gà”
- Giá tiền mua 5 quả trứng vịt là 5 “ trứng vịt”
Thế thì có thể tóm tắt các điều kiện của bài toán là :
10 “trứng gà” + 5 “ trứng vịt” = 55000đồng

(1)

5 “trứng gà” – 2 “trứng vịt” = 14000 đồng

(2)

Với tóm tắt này có thể suy luận để giải bài toán như sau :
Như vậy số tiền mua 5 quả trứng gà bằng số tiền mua 2 quả trứng vịt cộng thêm 14000
đồng. Suy ra số tiền mua 10 quả trứng gà bằng số tiền mua 4 quả trứng vịt cộng thêm
28000 đồng.
Vậy ta có : 4 quả trứng vịt + 28000 đồng + 5 quả trứng vịt = 55 000 đồng (3)
Từ (3) ta thấy giá 9 quả trứng vịt là:
55 000 - 28000 =27000 ( đồng)
Giá 1 quả trứng vịt là: 27000: 9 = 3000( đồng)
Giá 5 quả trứng vịt là: 3000 x 5 = 15000( đồng)
Suy ra 10 quả trứng gà là:
55000 – 15000 = 40000 ( đồng)
Giá 1 quả trứng gà là:
40000 :10 = 4000( đồng)
Đáp số:

1 “giờ đi ngựa”:
9 km/giờ

144 : 16 = 9(km) Vậy vận tốc đi ngựa của người đó là:

Đáp số: 9km/giờ
Ghi chú: Thực chất của các cách giải nêu trong hai ví dụ trên là dùng phương pháp
cộng đại số và phương pháp thế để giải các hệ phương trình bậc nhất hai ẩn (chính
thức dạy ở lớp 9). Tuy nhiên với hình thức trình bày các “ ẩn số” như trên học sịnh
khá giỏi ở bậc tiểu học có thể giải các bài toán đó dễ dàng.
7. Tóm tắt để toán bằng sơ đồ Ven
Trong cách tóm tắt này người ta thường vẽ các nhóm đối tượng trong đề toán thành
các đường khép kín, và ghi các số liệu hay câu hỏi vào trong các đường khép kín đó.
Rồi dựa vào đó mà suy luận để giải bài toán.
Sau đây là một vài ví dụ:
Ví dụ 1: “ Kết quả điều tra ở 1 lớp học cho thấy: Có 20 HS thích bóng đá, 17 HS
thích bơi; 36 HS thích bóng chuyền, 14 HS thích bóng đá và bơi, 13 HS thích bơi và
bóng chuyền, 15 HS thích bóng đá và bóng chuyền, 10 HS thích cả ba môn, 12 HS
không thích môn nào. Tính xem lớp học có bao nhiêu HS?”
ở đây có thể tóm tắt bài toán bằng hình vẽ sau
- Đ là số HS thích bóng đá

(20)

- C là số HS thích bóng chuyền (36)
20
Đ

- B là số HS thích bơi (17)
- L là số HS cả lớp.

(học sinh)

Số HS thích bóng đá và bóng chuyền ( không thích bơi) là:
15 – 10 = 5 (học sinh)
Vậy ta có hình vẽ sau

20Đ

Suy ra:

5

36
C

4 10 3

Số HS chỉ thích một môn bóng đá là:
20 – (10 +4 + 5) =1 (học sinh)

12

17 B

Số HS chỉ thích một môn bóng chuyền là:
36 – (10 + 3 + 5) = 18 (học sinh)
Số HS chỉ thích một môn bơi là:
17 - ( 10 + 4 +3) = 0 (học sinh)
Suy ra số HS của cả lớp:
1+ 5 + 18+ 3 + 0 + 4 + 10 +12 = 53 (học sinh)

a x 100 = bc x 6 (cùng bớt bc)
a00 chia hết cho 6 và thương là số có hai chữ số nên a = 3.
Do đó bc = 300 : 6 = 50,

Số phải tìm là 350.

III. LINH HOẠT KHI HƢỚNG DẪN HỌC SINH PHÂN TÍCH BÀI TOÁN.
Thông thường, tiếp theo bước tóm tắt đề toán là đến bước phân tích bài toán để tìm
cách giải. Có thể coi phân tích bài toán là quá trình tách một bài toán phức tạp thành
nhiều bài toán nhỏ đơn giản dễ giải hơn. Cho nên, ở bước này, giáo viên cần sử dụng
phương pháp phân tích và tổng hợp, thiết lập cách tìm hiểu, phân tích bài toán theo sơ đồ
dưới dạng các câu hỏi thông thường:
- Bài toán cho biết gì?

16


- Bài toán hỏi gì?
- Muốn tìm cái đó ta cần biết gì?
- Cái này biết chưa?
- Còn cái này thì sao?
- Muốn tìm cái chưa biết ta cần dựa vào đâu? Làm như thế nào?
Hướng dẫn học sinh phân tích xuôi rồi tổng hợp ngược lên, từ đó các em nắm bài
kĩ hơn, tự các em giải được bài toán
Đây là qua trình suy nghĩ để thiết lập trình tự giải bài toán. Người ta thường dùng mấy
cách sau:
a. Suy nghĩ theo đƣờng lối phân tích
Đường lối phân tích là đường lối suy nghĩ đi từng lượt câu hỏi của bài toán trở về
những cái đã cho . Đây là đường lối có vai trò quan trọng trong việc hình thành và phát
triển các thao tác tư duy cho HS

Quá trình suy nghĩ để phân tích bài toán đến đây là xong .Nếu đi ngược quá trình suy nghĩ
này từ dưới lên ta sẽ có lời giải của bài toán .Hướng dẫn HS ghi lại vắn tắt quá trình phân
tích trên bắng sơ đồ dưới đây (kí hiệu S là diện tích ) :
Ta gọi một sơ đồ suy nghĩ như bên là sơ đồ cây.

Cách 2: Có thể cho HS nhận xét: Bốn cánh hoa được tạo thành từ 4 nửa hình tròn có
đường kính là cạnh hình vuông
+ Diện tích 4 cánh hoa chính bằng diện tích 4 nửa hình tròn (diện tích hai hình tròn)có
đường kính bằng cạnh hình vuông trừ đi diện tích hình vuông.
S(4cánh hoa) = 1x 1 x 3,14 x 2 – ( 1 + 1) x ( 1 + 1) = 2,28 (cm2)
Ví dụ 2: Trong hình bên,cho cạnh hình vuông ABCD
dài 6cm.Hãy tính diện tích phần có phần in đậm
(nằm ngoài hình tròn tâm O và nằm trong hình vuông
MNPQ).
Có thể suy nghĩ theo đường lối phân tích như sau :
a) Bài toán hỏi gì ? (Diện tích phần in đậm).
b) Muốn tìm diện tích hình in đậm ta làm thế nào ?
(Lấy diện tích hình vuông MNPQ trừ đi diện tích hình tròn ).

18


c) Muốn tính diện tích hình tròn ta làm thế nào ? [Lấy độ dài bán kính R nhân R rồi
nhân 3,14 : (RR) 3,14]
d) Muốn tính diện tích hình vuông MNPQ ta làm thế nào ? (Lấy độ dài cạnh hình
vuông nhân với chính nó ). Mà độ dài cạnh hình vuông MNPQ bằng R2 nên ta
phải tính :
(R2) (R2)= (RR) 4.
e) Như vậy để trả lời hai câu hỏi c), d) ta phải tính RR .Muốn tính đươc RR ta
làm thế nào ? (Tính diện tích hình vuông AOBM).

D

E

1
F

K

C

Bài toán yêu cầu gì? ( chứng minh S1 = S2 +S3)
Muốn thế ta cần chứng minh : S1 + S4 = S2 + S3 + S4
Yêu cầu HS So sánh SBCP và SABCD
( SBCP = ½.SABCD Vì tam giác BCP có độ dài đáy và chiều cao tương ứng bằng
hai kích thước của hình chữ nhật ABCD nên SBCP = ½.SABCD )
Do đó ta phải chứng minh SAMKD = ½.SABCD
Nhận xét : AMKD và BCKM là hai hình thang vuông có chiều cao AD =BC, nên chỉ cần
chứng minh tổng độ dài hai đáy của chúng bằng nhau:
AM + DK = KC +BM
Vì BM = DK nên AM + DK = AM +BM = AB
KC +BM = KC+DK = CD
Vì là hai cạnh đối diện của hình chữ nhật nên AB = CD
Hướng dẫn HS ghi vắn tắt quá trình suy nghĩ trên bằng sơ đồ sau
S1 = S 2 + S3
S1 + S4

=

S 2 + S3+ S4

 0,5 (cm )
2

Diện tích nửa cánh hoa là : 0,785 - 0,5 = 0,285 (cm2)
Diện tích 4 cánh hoa là 0,285 x 2 x 4 = 2,28 (cm2)
Đáp số : 2,28 cm2.
Ví dụ 5
Xét bài toán đã nêu ở ví dụ 2 ; đi ngược lại sơ đồ phân tích ta có thể trình bày bài toán
theo đường lối tổng hợp như sau :
Giải :
Diện tích hình vuông ABCD là :
6  6= 36 (cm2).

21


Diện tích tam giác AOB là :
36 : 4 =9 (cm2).
Diện tích hình vuông AOBM là :
9  2 =18 (cm2).
Nếu gọi R là bán kính hình tròn thì :
R  R =OA  OB =18 (cm2).
Suy ra diện tích hình tròn là :
R  R  3,14 = 56,52 (cm2)
Vì diện tích hình vuông AOMB bằng 18 cm2 nên diện tích hình vuông MNPQ là :
18  4 = 72 (cm2).
Suy ra diện tích hình chấm chấm là :
72 – 56,52 = 15,48 (cm2)
Đáp số: 15,48 cm2.
Ví dụ 6 :

Ví dụ 7
“Một căn phòng hình chữ nhật có chiều rộng là 4m và chiều dài hơn chiều
rộng là 2m . Biết rằng mỗi mét vuông nền nhà thì cần lát kín bằng 25 viên
gạch bông . Hỏi cần bao nhiêu viên gạch bông để lát kín căn phòng ấy ?”
Có thể hướng dẫn học sinh suy nghĩ theo đường lối tổng hợp như sau :
- Đầu bài đã cho những gì về căn phòng ? (Hình chữ nhật có chiều rộng là 4m và
chiều dài hơn chiều rộng là 2 m).
-Vậy là đã biết chiều rộng rồi,còn chiều dài chưa biết,song có thể tính được không ?
[Tính được : 4 + 2 =6 (m)].
-

Vậy có thể tính diện tích căn phòng không ? [Tính được 4  6 =24 (m2)].

-

Một mét vuông cần dùng bao nhiêu viên ghạch bông ? (25 viên).

- Vậy có thể tính được số viên gạch bông dùng để lát kính nền nhà không ? (Tính
được : 24  25).
Bản thân việc tiến hành suy nghĩ như trên đã đưa ra một trình tự thực hiện các phép
tính để giải bài toán . Qua cách phân tích, tổng hợp đó ta thấy quá trình tìm tòi lời giải
cho học sinh tiểu học bằng con đường này không những giúp học sinh nắm được tri thức
về nội dung mà còn nắm được tri thức về phương pháp. Sự phân tích tổng hợp trong các
bài toán ở tiểu học ( như ở ví dụ trên) thường xuật phát từ bài toán đi ngược lên dữ liệu
đã biết (phân tích đi lên) được xem một thủ thuật “giải từ cuối”. Để thực hiện tốt biện
pháp này nhằm phát triển nhận thức cho học sinh các lớp 5 cần đảm bảo các yêu cầu sau:
Yêu cầu 1: Giải quyểt tốt các bài toán trung gian
Yêu cầu 2: Tập cho học sinh làm quen với lập luận có căn cứ.
Học sinh thường gặp khó khăn trong sử dụng các lập luận và thường có sự nhầm
lẫn dẫn đến khâu phân tích sai. Do đó cần để rèn luyện trong suốt cả quá trình học tập.

- Kiểm tra các bước giải xem đã hợp lí yêu cầu của bài chưa, các câu văn diễn đạt
trong lời giải đúng chưa.
- Thử lại các kết quả vừa tính từ bước đầu tiên.
- Thử lại kết quả đáp số xem đã phù hợp với yêu cầu của đề bài chưa.
Việc viết các câu lời giải như thế nào vừa là một vấn dề của môn toán vừa là một
vấn đề của môn tiếng việt. Lẽ dĩ nhiên để có được đáp số đúng thì phải làm đúng các
phép tính trong bài giải. Muốn thế thì học sinh phải nắm vững các nguyên tắc tính toán.
Nhưng trong thực tế thì ngay cả những học sinh đã nắm vững các quy tắc tính toán vẫn
có thể phạm phải sai lầm, sai sót. Để tránh được những lầm lẫn, sai sót đáng tiếc ấy thì
cần phải thử lại các kết quả tính toán đó. Sau đây, tôi xin giới thiệu một số phương pháp
thử lại chính
1/ Thử lại bằng cách tính ngƣợc

24


Ví dụ :
Khi giải bài toán “ Một hình chữ nhật có chu vi 40m, chiều dài hơn chiều rộng 6m. Tính
diện tích hình chữ nhật đó” ; có học sinh đã cho rằng : theo đầu bài thì
- Chiều dài cộng chiều rộng 40m
- Chiều dài hơn chiều rộng 6m
và giải như sau :
Chiều dài hình chữ nhật là;
( 40+6 ) : 2 = 23(m)
Chiều rộng hình chữ nhật là :
23 – 6 = 17 (m)
Diện tích hình chữ nhật là :
23 x 17 = 391(m2)
Đáp số: 391(m2)
Nếu biết thử lại bằng cách tính ngược thì học sinh đó có thể nghĩ như sau :” Mình


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status