SÁNG KIẾN KINH NGHIỆM
ĐỀ TÀI:
“DẠY HỌC VĂN BẢN “ĐÀN GHI TA CỦA LORCA” (THANH
THẢO) THEO HƢỚNG KHAI THÁC CHẤT THƠ CỦA TÁC
PHẨM”
PHẦN MỞ ĐẦU
1. Lí do chọn đề tài
1.1. Cơ sở lí luận
Thi phẩm “Đàn ghi ta của Lorca” (Thanh Thảo) được lựa chọn và đưa vào chương
trình ngữ văn 12, tập I từ năm 2008 đến nay đã thu hút được sự quan tâm của nhiều nhà
nghiên cứu văn học, giáo viên và học sinh. Đây là một bài thơ hay và độc đáo cả về
phương diện nội dung tư tưởng và hình thức nghệ thuật, là một thi phẩm xuất sắc nhất
của Thanh Thảo đồng thời là một sáng tác tiêu biểu cho xu hướng cách tân thơ Việt trong
giai đoạn văn học sau 1975. Tác phẩm được viết theo khuynh hướng thơ tượng trưng,
siêu thực với cách biểu đạt mới lạ. Nhưng để cảm hiểu được cái hay, cái mới của bài thơ
này lại là một thách thức không nhỏ với người dạy và người học.Chính vì vậy, việc giảng
dạy của giáo viên, học tập của học sinh về bài thơ trên không dễ thành công. Đối với học
sinh, bài thơ trên khó học bởi lối biểu đạt và cách sử dụng ngôn từ hết sức lạ của Thanh
thảo khiến các em lúng túng trong cách giải mã ngôn từ, dẫn đến khó liên tưởng, tưởng
tượng nhiều chi tiết, hình ảnh trong tác phẩm. Đối với giáo viên, bài thơ trên khó dạy ở
chỗ: đây là bài thơ có lối sử dụng hình ảnh táo bạo, ngôn ngữ giàu giá trị biểu trưng có
khả năng mở ra nhiều tầng bậc ý nghĩa và liên tưởng phong phú. Nhiều giáo viên đã dạy
bài thơ này như dạy một truyện vì mải mê hướng dẫn học sinh tìm hiểu vẻ đẹp của hình
tượng Lorca mà quên mất đây là bài thơ của Thanh Thảo, là tấc lòng tri âm, tiếng nói
cảm thông sâu sắc, sự đánh giá cao của Thanh Thảo với Lorca….. Việc xác định chủ đề
tư tưởng bài thơ và các tầng ý nghĩa của các hình ảnh thơ không hề đơn giản và không dễ
thống nhất nếu không đưa ra được cách cắt nghĩa, lí giải phù hợp. Thực tế cho thấy đã có
nhiều cách hiểu xa rời văn bản thậm chí sai lệch về giá trị đích thực của bài thơ.
giờ dạy. Giáo viên chủ yếu giúp các em có kiến thức, biết khai thác tác phẩm theo đặc
trưng thể loại mà không chú ý nhiều đến chất văn, chất thơ được thể hiện qua tác phẩm.
Xuất phát từ những lí do trên, tôi nghiên cứu đề tài: Dạy học văn bản “Đàn ghi ta của
Lorca” (Thanh Thảo) theo hướng khai thác chất thơ của tác phẩm. Với mong muốn có
những đóng góp cho việc học tập và giảng dạy tác phẩm được thành công hơn.
2. Mục đích nghiên cứu, nhiệm vụ nghiên cứu
2.1. Mục đích nghiên cứu
- Khẳng định giá trị về mặt nội dung tư tưởng và hình thức nghệ thuật của bài thơ.
- Đề xuất cách thức dạy bài thơ này có hiệu quả.
2.2. Nhiệm vụ nghiên cứu
- Tìm hiểu chất thơ của tác phẩm Đàn ghi ta của Lorca (Thanh Thảo)
- Hướng dẫn học sinh đọc, vận dụng chất thơ trong quá trình đọc- hiểu bài thơ “Đàn
ghi ta của Lorca”.
- Thiết kế giáo án theo những nội dung trên để thực hiện các nhiệm vụ dạy học.
3. Đối tƣợng và phạm vi nghiên cứu
3.1. Đối tượng nghiên cứu
- Cơ sở lí luận về nội dung chất thơ của tác phẩm “Đàn ghi ta của Lorca”
- Nghiên cứu, phân tích giáo án và giờ dạy của đồng nghiệp về văn bản Đàn ghi ta
của Lorca (Thanh Thảo) (Ngữ văn 12- tập I) tại trường THPT Mỹ Hào – Tỉnh
Hưng Yên
3.2. Phạm vi nghiên cứu
Trong khuôn khổ SKKN của mình, chúng tôi tập trung nghiên cứu việc vận dụng
chất thơ của tác phẩm trong quá trình dạy đọc- hiểu bài thơ
4. Phƣơng pháp nghiên cứu
- Tổng hợp, khái quát, lựa chọn lại những vấn đề lí luận có liên quan đến đề tài
- Khảo sát thực tiễn dạy học bài thơ Đàn ghi ta của Lorca ở lớp 12 theo sách giáo
khoa ( Ban cơ bản)
- Phương pháp thực nghiệm sư phạm (điều tra, phỏng vấn, phương pháp chuyên
trực tiếp của thi ca.
Khác với chất thơ trong đời sống thường được quan niệm như một cái gì đẹp, thơ
mộng, tồn tại khách quan, chất thơ trong nghệ thuật bao gồm sự thống nhất giữa những
phẩm chất của đối tượng khách quan với cảm hứng sáng tạo chủ quan của nhà thơ. Thực
tế khách quan được chọn lọc ở những mặt kết tinh tiêu biểu, ở những chi tiết, hình ảnh
chân thực là tiền đề trực tiếp để tạo nên chất thơ, chính hiện thực phong phú đó có tác
dụng gây cảm xúc và góp phần biểu hiện thành cảm xúc thẩm mỹ. Nhưng nhân tố quan
trọng hơn cả để tạo nên chất thơ chính là phần cảm xúc và suy nghĩ chủ quan của người
nghệ sĩ. Những hình tượng thơ ca chân chính đều chứa đựng một lí tưởng đẹp, một sức
tưởng tượng phong phú và những cảm xúc lắng đọng sâu sắc. Chất thơ là một phẩm chất
tổng hợp được tạo nên từ nhiểu nhân tố. Những nhân tố này cũng có thể có trong nội
dung cấu tạo của các thể loại khác, nhưng ở thơ biểu hiện tập trung hơn và được hòa hợp,
liên kết một cách vững chắc tạo nên những phẩm chất mới.
Xác định chất thơ là một vấn đề khó, rất khó. Đúng như nhà văn Nguyễn Tuân
nhận xét “Định nghĩa về chất thơ cho thật chính xác và toàn thập, tôi thấy nó cúng khó
như định nghĩa cho chất uymua (humour). Nhưng khi chúng ta quan niệm “thơ không
phải là cái gì thần bí, siêu việt, thơ gắn liền với cuộc sống, với tâm hồn con người và
năng lực sáng tạo của người nghệ sĩ thì việc tìm hiểu chất thơ lại là cần thiết và quan
trọng để làm cơ sở lí luận đi vào địa hạt thơ ca.”
Chất thơ trong tác phẩm văn học trước hết gắn liền với sự rung động và cảm xúc
trực tiếp. Nếu xem bản chất giàu cảm xúc là một năng lực tinh thần thuộc về bản chất của
người nghệ sĩ thì điều đó trước hết phải có ở người thi sĩ, Nói như Xuân Diệu :
“Là thi sĩ nghĩa là ru với gió.
Mơ theo trăng và vơ vẩn cùng mây
Để linh hồn ràng buộc với muôn dây”
Cảm xúc là nhân tố quan trọng tạo nên hình tượng. Có nhiều cách để tạo nên cảm
xúc như qua miêu tả hình ảnh, hoặc qua liên tưởng, so sánh hoặc qua nghệ thuật sử dụng
ngôn ngữ. Nhưng điều quyết định chính là ở tấm lòng vì “thơ là tiếng lòng” (Ngô Giang
thành một nguồn mạch thống nhất. Trí tưởng tượng chắp cánh cho tâm hồn bay lên vượt
khỏi những giới hạn xác định của một địa điểm và thời điểm cụ thể mà trở về với quá khứ,
sống trong ước mơ với tương lai. Trí tưởng tượng là một động lực tinh thần quyết định giờ
phút nhổ neo cho con thuyền tìm về những mảnh đất xa xôi và những bến bờ xa lạ, ở đấy
một giấc mơ có khả năng trở thành một sự thực. Tưởng tượng cũng chính là them vào cái có
thật phần nên có và sẽ có, là sự chuẩn bị tích cực cho một hành động sáng tạo và bản thân
nó là một sự sáng tạo.
Nói đến thơ ca là nói đến sức tưởng tượng. Nhà thơ Sóng Hồng đã chỉ ra đặc điểm
quan trọng này của thơ “Thơ là nghệ thuật kì diệu bậc nhất của trí tưởng tượng”.
Apooline đã có lí khi nhận xét: “Cái lĩnh vực phong phú, ít được biết đến nhất, cái lĩnh
vực có một chiều rộng không ngờ là tưởng tượng, vì vậy không có gì lạ nếu người ta đã
dành danh hiệu nhà thơ chủ yếu cho những người đi tìm những niềm vui mới rải rác trên
những không gian đồ sộ của tưởng tượng”
Chất thơ cũng gắn liền với cái đẹp. Thơ không phải chỉ nói đến cái đẹp trong cuộc
sống mà nói về cuộc sống với một lí tưởng đẹp. Không phải ngẫu nhiên Etgapô cho rằng:
“Cái đẹp là địa hạt hợp pháp của thơ ca”. Còn Bô-đơ-le xem thơ là “ước mong của con
người vươn tới một cái cao đẹp cao thượng”. Chúng ta có thể kể thêm nhiều quan niệm
khác và cách nói nhiều khi thiếu mức độ và quá đi như quan niệm của Seli “Thơ ca biến
mọi vật thành đẹp, nó làm tăng vẻ đẹp của những cài gì đẹp nhất, nó đem lại vẻ đẹpcho
những cái gì xấu xí nhất”.Cái đẹp là phẩm chất và cũng là quy luật chung của sự nhận
thức và sáng tạo trong nghệ thuật.
Toàn bộ những phẩm chất trên hợp thành chất thơ trong sáng tạo của nghệ thuật.
Chất thơ của mỗi nhà thơ được hình thành với những đặc điểm riêng do trình độ và năng
lực tinh thần, do hoàn cảnh từng cá nhân qui định. Có thể thông qua thành phần cấu tạo
của chất thơ mà tìm hiểu những mặt nhất định của phong cách thơ của từng tác giả. Cái
đẹp trong thơ là sự thống nhất thẩm mĩ giữa những phẩm chất của thực tại khách quan
với cái đẹp trong tâm hồn người nghệ sỹ. Do đó, tuy có nhiều quan niệm khác nhau về
chất thơ trong văn học nhưng có thể tổng hợp các ý kiến đó trong cách hiểu sau: “Với trí
thành. Muốn thế phải thâm nhập vào tiếng nói của chủ thể để cảm thông, lắng nghe, hình
dung… và phải đọc lên cho cảm xúc hiện ra trong hình ảnh, nhịp điệu. Thơ trữ tình chính
là những nỗi niềm tâm sự riêng của tác giả. Nhà thơ là nhân vật chính, là hình bóng trung
tâm, là cái tôi bao quát trong toàn bộ sáng tác. Có nhiều cuộc đời thi sĩ gắn liền với đời
thơ như hình với bóng, những sự kiện, hành động và tâm tình trong cuộc đời riêng cũng
in lại đậm nét trong thơ. Nói như Hàn Mặc Tử:
Người thơ phong vận như thơ ấy
Garxia Lorca cũng nói một cách cảm động về mối quan hệ giữa nhà thơ và đời thơ
“Mỗi bài thơ mà hôm nay tôi trao vào tay bạn đọc thân mến là nảy sinh cùng với
mầm mống trên cái cây xao động của cuộc đời đang nở hoa. Coi thường quyển sách này
sẽ là tàn nhẫn bởi vì nó gắn liền khăng khít với bản thân cuộc đời tôi. Ở ngay sự yếu đuối
của nó, sự nghèo nàn mà tôi thừa nhận vẫn có một sức mạnh của nó trong số những sức
mạnh khác mà chỉ có tôi mới phát hiện được”.
Sự thống nhất giữa cuộc đời nhà thơ và cái tôi trữ tình trong sáng tác là một hiện
tượng khá phổ biến. Thơ trữ tình từ Nguyễn Trãi, Nguyễn Bỉnh Khiêm đến Hồ Xuân
Hương, Cao Bá Quát, Tú Xương, Phan Bội Châu, Tố Hữu ….đều biểu hiện rõ nét sự
thống nhất trên. Thái độ bất bình với những xấu xa và lố lăng của xã hội, nụ cười mỉa mai
và trào lộng đều có những liên hệ khá trực tiếp với cuộc đời riêng của Tú Xương, nhà nho
yêu nước, long đong chuyện thi cử, và cái nghèo năm tháng quẩn quanh. Tuy nhiên cần
lưu ý là không thể đồng nhất cái tôi của nhà thơ trong đời sống với cái tôi trữ tình trong
tác phẩm. Có những trường hợp cái tôi trữ tình trong thơ khác biệt đến xa lạ với con
người thuộc cuộc sống thực của nhà thơ. Có thể kể ra đây ví dụ: Veclen con người lang
thang trong các quán rượu đắm chìm trong những mộng tưởng xa lạ, với Vélen- nhà thơ
có những vần thơ tỉnh táo ca ngợi Ba- lê công xã. Do đó: Cái tôi trữ tình không phải bao
giờ cũng là cái tôi của tác giả sáng tác ra bài thơ, nhưng nó lại là cơ sở trực tiếp nhất sáng
tạo nên thi ca. Đi vào thế giới của chủ thể chính là đi vào bản chất, cốt lõi của thơ vậy.
Nếu nội dung chủ yếu trong thơ trữ tình là thế giới tâm hồn chủ
thể tác giả thì yếu tố biểu đạt nội dung đó không gì hiệu quả hơn là giọng điệu. Giọng
điệu vốn là yếu tố thể hiện linh hồn, phong cách… trong tác phẩm văn học nói chung.
Riêng với thơ, thì giọng điệu còn là một trong những yếu tố quan trọng nhất làm nên chất
Đề cao, chú trọng khai thác cái ngẫu hứng, cái bất ngờ trong thế giới vô thức; Đề cao vai
trò của cái hỗn độn , phi logic, phi luận lí vì vậy các nhà siêu thực đã không ngần ngại gạt
borỏ mọi quy tắc ngữ pháp, không tuân thủ các quy tắc về cú pháp, không sử dụng các
dấu chấm câu, gạt bỏ mọi nguyên tắc logic của lí tính; Các nhà siêu thực chủ trương phá
vỡ sự ngăn cách giữa khách thể và chủ thể.
Nguyên tắc mỹ học của chủ nghĩa tượng trưng như đã nói ở trên là sự tương giao,
tương hợp. Baudelaire quan niệm: Vũ trụ là một thể thống nhất, trong đó tất cả đều tương
ứng với nhau. Có sự tương ứng giữa tự nhiên và cái siêu nhiên, có sự tương ứng giữa thế
giới này với thế giới đằng sau đầy bí ẩn, đặc biệt là sự tương ứng giữa các giác quan
“Mùi hương, màu sắc và âm thanh tương giao cùng nhau”, “Có những mùi hương mát
như da thịt trẻ con, ngọt ngào như tiếng sáo, xanh mượt như cỏ non” (Baudelaire - Tương
ứng). Tìm ra những câu, những đoạn thể hiện sự tương hợp này trong thơ Việt Nam
không khó. Vì thực ra, thuyết tương giao giữa vũ trụ và con người của chủ nghĩa tượng
trưng lại rất gần với tư tưởng “vũ trụ vạn vật nhất thể” trong triết lý phương Đông.. Đó là
một sự tương giao tổng thể. Tương giao giữa thiên nhiên, con người, thơ, hoạ và nhạc,
hương, vị... và cả mọi giác quan: “Gió đi chới với trong khung trắng/ Lộ nửa vần thơ nửa
điệu ca”, “Nàng hé môi ra. Bay điệu nhạc/ Mát như xuân mà ngọt tợ hương” Một sự
tương giao đan xéo, bện chặt với nhau khó lòng tách biệt, ta chỉ có thể nhận ra sự “HIỆN
HÌNH” này bằng trực giác. Còn rất nhiều bài, nhiều đoạn như thế trong thơ Bích Khê nói
lên sự ảnh hưởng của nguyên tắc mỹ học và đặc điểm của thơ tượng trưng. Văn học Việt
Nam hiện đại đã tiếp thu quan niệm mỹ học nói trên của hai trường phái thơ tượng trưng,
siêu thực chặng đường đầu vào những năm 30 của thế kỉ XX.
Chủ nghĩa tượng trưng đề cao âm nhạc trong thơ vì họ quan niệm âm nhạc là nghệ
thuật cao siêu nhất. Thật ra, ở phương Đông, truyền thống “trung thi hữu nhạc” cũng đã
xuất hiện từ lâu, song yếu tố nhạc trong thơ phương Đông truyền thống chỉ xuất hiện bên
cạnh các yếu tố khác. Còn trong thơ lãng mạn, từ yếu tố nhạc truyền thống, các nhà thơ
đã ảnh hưởng chủ nghĩa tượng trưng nên có xu hướng biến mỗi từ trong thơ thành một
bán âm của nhạc.
Long lanh trong đáy giếng
(Đàn ghi ta của Lorca - Thanh Thảo)
Đó là kiểu cú pháp gợi nhiều đáp án. Người đọc có thể lí giải theo nhiều cách sau:
nước mắt của vầng trăng, nước mắt và vầng trăng, nước mắt trong vầng trăng, nước mắt
từ vầng trăng…
Màu sắc tượng trưng trong thơ sau 1975 tuy không một lần nữa tạo ra sự “sốc”, hay
choáng như tượng trưng của Thơ mới thuở nào nhưng cũng đủ tạo nên hiệu ứng nghệ
thuật. Người làm thơ đã thực sự chuyên tâm với chữ và tự biết làm sang cho những con
chữ của mình từ hướng đi ấy.
1.1.3. Tác động tích cực của chất thơ trong tác phẩm văn chương đến hứng thú tiếp
nhận và cảm xúc thẩm mĩ của học sinh trong quá trình dạy học
1.1.3.1. Cảm xúc thẩm mĩ trong tác phẩm văn chương
Cảm xúc thẩm mĩ là cảm xúc mang tính nhân văn, là dạng xúc cảm cao cấp chỉ có
ở con người.Chúng là những rung cảm của con người trước cái đẹp.Tác phẩm văn
chương là sản phẩm tinh thần của con người.Chúng là sản phẩm nghệ thuật độc đáo bằng
ngôn từ, chúng kết tinh tư tưởng, tình cảm, cách nhìn nhận khám phá đời sống của nhà
văn. Vì thế trong tác phẩm văn chương cảm xúc thẩm mĩ được thể hiện tập trung nhất, cô
đọng, sâu sắc và mãnh liệt nhất. Và vì thế cảm xúc thẩm mĩ trong tác phẩm văn chương
có khả năng tác động mạnh đến cảm xúc thẩm mĩ của người tiếp nhận.
Tác phẩm văn chương là nơi kết tinh, hội tụ cái đẹp trong đời sống, trong thế
giới tự nhiên. Bên cạnh đó trong quá trình sáng tác nghệ thuật các nhà văn không chỉ
sáng tạo, không chỉ thể hiện tài năng, sự nhạy cảm của bản thân trong tác phẩm mà hơn ai
hết họ đem đến cho tác phẩm của mình một tâm hồn giàu cảm xúc, một trực giác nhạy
bén. Bằng những rung động và cảm xúc mãnh liệt trước cuộc sống người nghệ sĩ sáng tạo
ra tác phẩm văn chương, xây dựng hình tượng văn học, tạo nên mỗi dòng thơ, trang viết
day dứt, xúc động lòng người. Điều ấy tạo nên sự lôi cuốn hấp dẫn cho tác phẩm, khiến
cho tác phẩm văn chương nhanh chóng có được tiếng nói đồng cảm, đồng tình, đồng điệu
với người đọc. Nếu nhà văn có tư tưởng mới lạ,có cánh khám phá đời sống tinh tế, sâu
người dạy văn với học sinh. Đây là một đòi hỏi da diết, mạnh mẽ và sâu sắc , chẳng thế
mà Nguyễn Du từng phải thốt lên: “ Bất tri tam bách dư niên hậu.Thiên hạ hà nhân khấp
Tố Như”. Trong dạy học văn vấn đề đồ ng cảm, hay cộng hưởng cảm xúc có hay không
là dấu hiệu của khả năng xóa bỏ được ngăn cách trong cảm thụ. Đặt ra vấn đề về nhận
thức một giờ dạy văn, tác phẩm văn chương không phải là một thông tin thẩm mỹ, tình
cảm mà chỉ còn là một vấn đề về lịch sử, chính trị, luân lí, đạo đức, giờ văn chỉ tác động
đến lí trí mà không lay động đến tâm hồn, không rung động học sinh. Trong giờ văn HS
lạnh lùng thờ ơ với số phận các nhân vật, xa lạ với những rung động của nhà văn trước
những số phận, trước những cuộc đời con người. Vô hình chung giờ văn trở thành gánh
nặng đối với tâm lí của người học. Sức mạnh của văn học bị tước bỏ một cách vô ý thức
từ năm học này đến năm học khác, từ thầy cô này đến thầy cô khác. Và dĩ nhiên, học văn
không còn là một niềm say mê, hứng thú đối với học sinh. Vấn đề đặt ra là làm thế nào
để văn chương trong nhà trường trở về đúng vị trí của nó là một bộ một khoa học xã hội
và nhân văn, một môn học về nghệ thuật ngôn từ.
Hứng thú tiếp nhận và cảm xúc thẩm mĩ mà chất thơ trong tác phẩm văn học mang
lại cho HS tập trung thể hiện ở hứng thú nhận thức, hứng thú đánh giá và hứng thú
thưởng thức cái đẹp mà văn chương mang lại cho tâm hồn các em. Điều đó thể hiện ở sự
rung động của các em trước vẻ đẹp của tác phẩm văn học, các em nhận ra và biết rung
động với vẻ đẹp của những bức tranh thiên nhiên, rung động trước những số phận con
người, những câu chuyện giàu tính nhân văn ….. Theo thống kê phần lớn HS trong các
lớp học không chuyên, các em có thể dễ dàng phát hiện ra cái đẹp trong nghệ thuật, các
em cảm thấy rung động trước những kiếp người đau khổ, rung cảm trước những bản nhạc
trữ tình, những bức tranh muôn màu về thiên nhiên và cuộc sống con người. Nhìn một
ngôi nhà đẹp, một hành vi, cử chỉ đẹp tâm hồn các em bỗng tràn đầy cảm xúc thẩm mĩ.
Nhìn chung, các em thường rung động, xúc cảm trước những vẻ đẹp ấn tượng, độc đáo
tác động trực tiếp vào thị giác, thính giác. Tuy nhiên, có nhiều HS không dễ phát hiện ra
cái đẹp trong nghệ thuật, các em có thể nhận ra nó hay, nó đẹp nhưng không dễ tự phân
tích, chỉ ra cụ thể cái hay,cái đẹp tinh tế tiềm ẩn trong nghệ thuật đặc biệt trong một tác
thường trực trong tiết dạy học ngay từ khi vào bài đến lúc kết thúc tiết dạy. Trung tâm
của phương pháp đọc sáng tạo là đọc diễn cảm, là đọc để diễn tả sự cảm thụ chứ không
chỉ dừng lại ở mức thể hiện cảm xúc, mà có cả sự hiểu biết của người đọc, sự tri âm với
tác giả. ….đọc diễn cảm thực chất là sự cộng hưởng giữa tâm hồn và cảm xúc, hiểu biết
của người đọc với tác phẩm thông qua hệ thống kí hiệu nghệ thuật ở văn bản. Điều đó
cho thấy chất thơ của tác phẩm văn học được gợi lên ngay từ những con chữ tưởng như
vô hình, nó kích thích sự tưởng tượng của HS về hình tượng văn học qua kênh thính giác,
khơi dậy năng lực văn chương ở người dạy và người học. Hiệu quả cảm thụ chỉ có được
khi khoảng cách giữa nhà văn, người dạy và người học được xóa bỏ dần. Hay nói một
cách khác, đọc thành công trong một giờ dạy văn sẽ là con đường rút ngắn khoảng cách
giữa tác giả và học sinh.
Chất thơ trong tác phẩm văn học còn mang đến cho HS có cơ hội được nâng cao sự
trải nghiệm của bản thân. Có thể lấy ra đây một ví dụ về sự trải nghiệm của HS khi đọc
khổ thơ đầu bài thơ Đây thôn Vĩ Giạ của Hàn Mặc Tử. Trong khổ thơ trên “anh” là đối
tượng được nói tới xét trên bề mặt văn bản, vậy chủ thể trữ tình phải là em. Nhưng thực
chất xúc cảm trên là của tác giả, nhà thơ mượn cô gái để bày tỏ cảm xúc của mình. Đây là
hình thức chuyển cảm xúc của chủ thể cho khách thể. Cách bày tỏ cảm xúc của tác giả
cũng thật tế nhị và đằm thắm: mở đầu bài thơ là một câu hỏi giản dị như một lời nói
thường “Sao anh không về chơi thôn Vĩ”, biết bao nhiêu sắc thái biểu cảm trong câu nói
thường ấy
Một lời mời chào?
Một lời trách móc?
Một nỗi nhớ mong?
Một câu hỏi?
Một khát khao, ao ước, chờ đợi?
Thôn Vĩ có gì khiến nhà thơ có nhiều nỗi niềm đến vậy? Có một từ “ai” phiếm chỉ
thấp thoáng sau bức tranh thiên nhiên kia đã làm cho ánh nắng, sắc trời của thôn Vĩ trở
nên trong xanh, huyền diệu…và đại từ phiếm chỉ „ai” theo suốt hành trình của bài thơ
được vẻ đẹp của thi phẩm này cũng đòi hỏi tư duy thơ sáng tạo và mới mẻ hơn. Nhưng trên
thực tế phần lớn GV chưa thật sự đào sâu và khám phá hết nét mới lạ và độc đáo của tác
phẩm nên thực trạng dạy học bài thơ theo hướng khái thác chất thơ của tác phẩm chưa thật
sự đạt kết quả tốt. Theo chúng tôi, có một số lí do sau dẫn đến khó tiếp nhận bài thơ trong
quá trình dạy học.
1.2.1. Về thể loại thơ
Thanh Thảo viết về con người và nghệ thuật của Lorca bằng một loại hình thơ
không dễ nắm bắt và ít được làm quen trong chương trình phổ thông- loại hình thơ tượng
trưng, siêu thực. Phần lớn lấy chất liệu trong thơ Lorca để xây dựng biểu tượng. Quy luật
tồn tại liên văn bản của tác phẩm văn học (đặc biệt ở thi phẩm này) Thanh Thảo đòi hỏi
người đọc thơ phải đi tìm và giải mã cuộc đời và sáng tác của Lorca, có được vốn liếng
tri thức cơ bản về con người và sáng tác của Lorca, rồi mới có cơ sở tiến tới giải mã nghệ
thuật bài thơ của Thanh Thảo.
Quy luật tiếp nhận văn học gắn với loại hình, loại thể đòi hỏi người đọc phải có
hiểu biết về loại hình thơ tượng trưng, kinh nghiệm đọc thơ tượng trưng mới mong thâm
nhập được vào thế giới nghệ thuật của bài thơ.
1.2.2. Về phía giáo viên
Xuất phát từ bản thân là một GV dạy ngữ văn và của đồng nghiệp khi tìm hiểu và
nghiên cứu thiết kế giáo án bài thơ này, chúng tôi đều phải đối diện với những khó khăn:
Những hiểu biết hạn chế về chủ nghĩa tượng trưng siêu thực trong thơ, hiểu biết hạn chế
về Lorca và thế giới nghệ thuật cũng như những cách tân sáng tạo trong thơ ông. Phần
lớn những tiết giảng bài thơ này mà tôi trực tiếp dự giảng đều khai thác vẻ đẹp bài thơ
theo hướng cắt ngang theo kết cấu tác phẩm để từ đó làm bật lên hình tượng Lorca. Một
số giáo viên đã dạy bài thơ này như dạy một tác phẩm truyện vì mải mê hướng dẫn học
sinh tìm hiểu vẻ đẹp của hình tượng Lorca mà quên mất đây là bài thơ của Thanh Thảo,
là tấc lòng tri âm, tiếng nói cảm thông sâu sắc, sự đánh giá cao của Thanh Thảo với
Lorca. Có giáo viên lại “tung hỏa mù” theo kiểu lại đưa ra hàng loạt các ý kiến, cách hiểu
khác nhau mà không hề hướng cho học sinh.
Nhưng thực tế, nét độc đáo trong thi phẩm này là sự đan cài và nhiều khi là song
trùng 3 hình tượng: Cây đàn ghi ta, hình tượng Lorca và hình tượng cái tôi nội cảm của
“ĐÀN GHI TA CỦA LORCA” VÀO DẠY HỌC BÀI THƠ
2.1. Biểủ hiện của chất thơ trong Đàn ghi ta của Lorca
Đàn ghi ta của Lorca là một bài thơ hay, khó, mới mẻ, vẫn đang là một thách thức
với cả người học và người dạy. Đi tìm chất thơ của thi phẩm là công việc cần thiết để
phát hiện và cảm nhận được nguồn cảm hứng thẩm mĩ thi ca của một nhà thơ tài hoa về
một người nghệ sĩ bậc thầy. Chất thơ trong Đàn ghi ta của Lorca cũng là chiếc chìa khóa
giúp người dạy và người học bài thơ này mở ra cánh cửa bí mật đến gần hơn với đời
sống riêng “vạm vỡ” và “tươi xanh” của tác phẩm trên thi đàn thơ hiện đại Việt Nam.
2.2. Một thế giới hình tượng, hình ảnh đa sắc màu văn hóa trong tư duy thơ của
Thanh Thảo
Đàn ghi ta của Lorca – một sự cộng hưởng của những khát vọng sáng tạo, một khả
năng nhập cảm sâu sắc vào thế giới nghệ thuật thơ Lorca, một suy nghiệm thâm trầm về
nỗi đau và niềm hạnh phúc của những cuộc đời đã dâng hiến trọn vẹn cho cái đẹp. Lor ca
là một nhà thơ nổi tiếng, ông còn là tiếng nói, là niềm vui nỗi buồn của đất nước mình.
Nhờ những vần thơ tài hoa của ông mang đậm chất dân gian, mà người ta nghe thấy tiếng
hoàng hôn than khóc ánh bình minh, tiếng đôi thằn lằn thì thầm bên tảng đá ven sông,
tiếng cát lạo sạo dưới chân cặp người yêu bên nhau. Cũng nhờ tiếng thơ của ông, đất
nước TBN hiện lên với chiều dài lịch sử với những sắc màu độc đáo nồng nhiệt. Nhưng
vẫn phảng phất đâu đó những nỗi buồn. Nhân cách cao đẹp và số phận oan khốc của
Lorca đã khiến Thanh Thảo ngưỡng mộ và xúc động sâu sắc, tạo được sự đồng cảm giữa
người sáng tác và người đọc, gợi được những nét đặc trưng của văn hóa TBN, nơi nuôi
dưỡng tâm hồn của Lorca.
a. Hình tƣợng cây đàn trong thơ Lorca và trong bài thơ “Đàn ghi ta của Lorca”
Hình tượng trung tâm của tác phẩm là hình tượng đàn ghi ta và Lorca.Vì đàn ghi ta
chính là thơ Lorca, là bản mệnh của Lorca. Đọc thơ Lorca ta thương bắt gặp hình tượng
một chàng kĩ sĩ đi mải miết, vô định dưới vầng trăng khi đỏ, khi rạng ngời, khi u tối, khi
nồng nàn, khi buốt lạnh…Ta cũng thường ngập mình trong phong vị, hương sắc riêng
không thể nào quên được của miền quê Gra-na đa thuộc xứ Anđa-lu-xi-a, ở đó có những
chàng hiệp sĩ đấu bò tót khoác trên mình tấm áo choàng đỏ, có những cô gái Digan nước
da nâu gợi tình tràn trề sức sống, có những vườn cam, những rặng ôliu xanh màu xanh
ghi ròng ròng máu chảy” thì tiếng đàn với những âm thanh tuôn trào sôi động không chỉ
là âm thanh mà còn là tiếng kêu cứu của con người, của cái đẹp trong thời khắc bị đẩy tới
chỗ tuyệt diệt. Không có gì khó hiểu khi dưới ngòi bút Thanh Thảo , tiếng đàn cũng có
màu (nâu, xanh), có hình thù (tròn), có sinh mệnh (ròng ròng máu chảy), bởi tiếng đàn
chính là sự cảm nhận của nhà thơ nay về tiếng đàn xưa. Theo đó, tiếng đàn không còn là
tiếng đàn cụ thể nữa, nó là sự sống muôn màu hiện hình trong thơ Lorca và là sinh quyển
văn hóa, sinh quyển chính trị xã hội bao quanh cuộc đời, sự nghiệp Lorca.
b.Hình ảnh “áo choàng đỏ gắt”
Một hình ảnh mang đậm bản sắc của TBN chính là hình ảnh áo choàng đỏ.
Hình ảnh “áo choàng đỏ” nhắc nhở môn đấu bò tót, một hoạt động văn hóa khiến TBN
nổi tiếng thế giới. Nhưng đây không phải đấu trường giữa đấu sĩ với bò tót mà là đấu
trường đặc biệt giữa khát vọng đấu tranh dân chủ của công dân Lorca với nền chính trị
độc tài của khát vọng cách tân nghệ thuật trong chàng nghệ sĩ Lorca với nền nghệ thuật
già nua. Màu áo đỏ gắt tráng lệ, bỗng biến thành bê bết đỏ, màu đỏ đau thương đã nhốm
máu thi nhân, đã hủy diệt cái đẹp. Màu đỏ gắt của tấm áo choàng, không nghi ngờ gì, là
sáng tạo của Thanh Thảo. Đây là hình ảnh có sự kết hợp giữa cái thực là truyền thống đấu
bò tót của Tây Ba Nha, mà theo đó các hiệp sĩ đấu bò bao giờ cũng mặc áo choàng đỏ để
chọc tức con bò hoang, để lôi nó vào cuộc chiến. Nhưng cái khác thường là cái màu “đỏ
gắt” là màu máu tươi, lại gắn với cụm từ Tây Ban Nha ở đầu câu thì sẽ thấy tình hình
chính trị với những cuộc đàn áp khốc liệt của chính quyền độc tài ở đây về tinh thần đấu
tranh quyết liệt của nhân dân cách mạng vùng lên. Như vậy có thể hiểu, cả Tây Ban Nha
đang trở thành một đấu trường, không phải giữa người với bò mà giữa người với người,
giữa dân chủ và độc tài, giữa tự do bị bóp nghẹt và thể chế chính trị hà khắc. Cả TBN
phải đổ máu phải đổ máu để giàng lại những quyền cơ bản của con người. Cuộc đấu tranh
đó đang diễn ra từng giờ, từng phút, diễn ra hàng ngày như tính chất đơn điệu của nền
chính trị TBN.
Nhìn theo góc độ nào cũng chỉ thấy con người tự do, nhà cách tân nghệ thuật mong
manh, đơn độc đi tìm cái đẹp trong thế giới bạo tàn, trong niềm cảm thông của nhà thơ
cảnh chính trị và nghệ thuật Tây Ban Nha và hình tượng Lorca trong cảm xúc của Thanh
Thảo
Lấy cảm hứng từ cuộc đời thật của nhà cách mạng- nhà nghệ sỹ Lorca.. Với tính
cách trung thực yêu tự do, yêu cái đẹp và một tâm hồn tràn đầy khát vọng về cuộc sống
tươi sáng cho nhân dân mình. Việc Lorca đến với cuộc đấu tranh chống áp bức là tất yếu.
Năm 1936 - ông và một số người cùng chí hướng trong đó có cả các đảng viên cộng
sản thành lập liên đoàn trí thức chống Phát xít. Ngày 16/07/1936 ông trở về quê hương,
để dự hội thánh. Đó cũng là những ngày bùng lên cuộc nội chiến giữa lực lượng dân chủ
Tây Ban Nha với lực lượng Phát xít phản động. Trên đường đi ông bị bọn phản động
chặn bắt. Rồi bị xử bắn tại mảnh đất gần quê hương vào một sáng 8/1936 cạnh gốc cây
Olive. Cái chết của Lorca là sự kiện gây chấn động lớn không chỉ ở Tây Ban Nha mà còn
với toàn thế giới, không chỉ lúc bấy giờ mà còn âm vang tới nhiều năm sau.
Thanh Thảo muốn phục sinh thời khắc bi tráng đó để tỏ sự ngưỡng mộ đau xót bằng
hình ảnh biểu tượng nghệ thuật Lorca qua một hình ảnh quen thuộc và độc đáo đàn Ghita, khổ
2 và 3 đã tập trung khắc họa ấn tượng về cái chết bi phẫn của Lorca.
Đối lập giữa khát vọng tự do của người nghệ sĩ với thế lực tàn ác của bọn Phát xít.
Đối lập giữa tiếng đàn, tiếng hát yêu đời vô tư, với hiện thực phũ phàng đến kinh hoàng,
hiện thực đẫm máu. Áo choàng bê bết đỏ, tiếng ghi ta tròn bọt nước vỡ tan, tiếng ghi ta
ròng ròng máu chảy. Trên tất cả là sự đổi lập giữa tình yêu cái đẹp với những thế lực dã
man tàn bạo.
Trong bài thơ của mình Thanh Thảo đã xây dựng nên hình tượng Lorca đậm chất
thơ – người chiến hiện lên hào hùng, bi tráng với tư cách một người chiến sĩ, một người
nghệ sĩ đấu tranh cho tự do, dân chủ
Những tiếng đàn bọt nước
Tây Ba Nha áo choàng đỏ gắt
li-la-li-la-li-la
đi lang thang về miền đơn độc
với vầng trăng chếnh choáng,
đọc nhưng nó lại được đón nhận bởi hàng triệu người. Trong bài thơ này tiếng đàn chính
là biểu tượng cho những sáng tạo nghệ thuật của Lorca, là những cống hiến cho nghệ
thuật của Lorca.
Câu thơ “không ai chôn cất tiếng đàn” có lẽ được bật ra trong tâm thức của Thanh
Thảo khi ông nghĩ tới lời thỉnh cầu của Lorca trong bài Ghi nhớ- lời thỉnh cầu đã được
dùng làm lời đề từ cho bài thơ Đàn ghi ta của Lorca. Ở đây có một sự đồng điệu tuyệt vời
giữa ý nguyện của Lorca – một ý nguyện thể hiện chất nghệ sĩ bẩm sinh hoàn hảo của
nhà thơ với liên tưởng của Thanh Thảo về sức sống của nghệ thuật. “không ai chôn cất
tiếng đàn” và dù muốn chôn cũng không được ! Đây là tiếng đàn, một giá trị tinh thần,
chứ không phải một cây đàn vật thể. Tiếng đàn ấy trường cửu cùng tự nhiên và hơn thế
bản thân nó chính là tự nhiên.
2.3. Sự đồng điệu về tâm hồn giữa cái tôi trữ tình và đối tượng trữ tình
Chúng ta đều biết rằng, đặc trưng của thơ là sự thể hiện của cái “tôi” trữ tình. Cái tôi
trữ tình khiến cho hình tượng nghệ thuật giàu sức thuyết phục hơn, đồng thời cũng qua cái
“tôi” trữ tình, tư tưởng và chủ đề của tác phẩm sẽ được bộc lộ mạnh mẽ hơn. Có thể khẳng
định rằng: Cái “tôi” trữ tình là sự hiện diện bộ mặt tinh thần của nhà thơ trong những tác
phẩm thơ ca, đó chính là cái “tôi” nhà thơ đã được nghệ thuật hóa, được thể hiện dưới
những sắc thái thẩm mỹ phong phú hơn với chất lượng tư tưởng nghệ thuật cao hơn. Cái
“tôi” trữ tình là một trong những nhân tố quan trọng tạo nên phong cách nhà thơ. Có một
điều đặc biệt trong thi phẩm “Đàn ghi ta của Lorca” đó là sự đồng điệu về tâm hồn giữa
chủ thể trữ tình và đối tượng trữ tình.
Thơ Thanh Thảo bên cạnh những vần thơ giản dị cất lên từ những cảm xúc chân
thành của lòng mình còn là những vần thơ mang tính khám phá với những suy tư trăn trở
về con người, về cuộc đời.Theo tác giả hành trình thơ chính là hành trình đi tìm “chất
thật” trong mỗi con người
Ta đã ném thơ mình vào thác xiết
Đã trộn trong ta hàng nghìn số phận
Như bột nhào như vôi vữa
Mong một ngày hiện rõ
Chất thật mỗi con người
Lorca đã không có được những cộng sự đắc lực, Lorca đi về miền đơn độc là hình ảnh về
sự bất lực của người nghệ sĩ giàu khát vọng nhưng cô đơn và lẻ loi. Vầng trăng “chếnh
choáng” hay khát vọng tiến bộ của Lorca phải “chếnh choáng” trước sức mạnh của thứ
nghệ thuật già nua, lạc hậu hay cũng chính là Lorca đang “chếnh choáng”trước đòn thù
của các thế lực phản động….âm điệu câu thơ càng lúc càng trùng xuống cùng với hình
ảnh “Lorca trên yên ngựa mỏi mòn”. Người kĩ sĩ văn chương đã kiệt sức trong một cuộc
chiến không cân sức. Lorca đã nỗ lực và kiên trì trong cuộc đấu tranh cho những giá trị
nhân văn, tiến bộ trong cuộc đời và nghệ thuật. Dư âm của nỗi buồn bất lực, của những