SÁNG KIẾN KINH NGHIỆM
ĐỀ TÀI:
“BỒI DƯỠNG NĂNG LỰC TỔ CHỨC HOẠT ĐỘNG GIÁO DỤC
CHO GIÁO VIÊN NHẰM ĐỔI MỚI GIÁO DỤC TRONG TRƯỜNG
THPT TRIỆU QUANG PHỤC”
MỤC LỤC
DANH MỤC CÁC TỪ VIẾT TẮT .......................................................... 4
PHẦN I: MỞ ĐẦU ................................................................................... 5
I.1. Đặt vấn đề ....................................................................................... 5
I.1.1. Lý do chọn đề tài ...................................................................... 5
I.1.2. Ý nghĩa thực tiến và khoa học của đề tài ................................. 6
I.1.3. Đối tượng nghiên cứu: ............................................................. 7
I.1.4. Phương pháp nghiên cứu: ........................................................ 7
I.2. Phương pháp tiến hành ................................................................... 7
I.2.1. Cơ sở lý luận của đề tài ............................................................ 7
I.2.2 Những khó khăn chính ảnh hưởng tới khả năng tổ chức các hoạt động giáo dục
của GV trong trường phổ thông nói chung. ...................................... 7
I.2.3. Thực trạng về khả năng tổ chức các hoạt động giáo dục trong trường THPT
Triệu Quang Phục. ............................................................................. 9
PHẦN II: NỘI DUNG ............................................................................ 10
II.1. Mục tiêu của đề tài ...................................................................... 10
II.2. Một số biện pháp nhằm bồi dưỡng năng lục tổ chức các hoạt động cho GV trong
trường THPT Triệu Quang Phục ......................................................... 10
II.2.1. Bồi dưỡng năng lực tổ chức hoạt động dạy học ................... 10
II.2.2. Bồi dưỡng năng lực tổ chức các hoạt động GDNGLL ........ 20
II.2.3. Bồi dưỡng năng lực tổ chức các hoạt động ngoại khóa ....... 25
II.3. Kết quả đạt được. ......................................................................... 29
PHẦN III. KẾT LUẬN: .......................................................................... 33
: Phương pháp dạy học
TDTT
: Thể dục thể thao
THPT
: Trung học phổ thông
PHẦN I: MỞ ĐẦU
I.1. Đặt vấn đề
I.1.1. Lý do chọn đề tài
Ngày nay mọi quốc gia trên thới giới đều nhận thức được vai trò then chốt của giáo
dục và đào tạo trong việc xây dựng chiến lược con người nhằm củng cố an ninh – quốc
phòng, phát triển kinh tế - xã hội, phát triển đất nước.
Ở Việt Nam, nghị quyết Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ IX đã chỉ rõ mục tiêu là
“Đổi mới toàn diện giáo dục và đào tạo, phát triển nguồn nhân lực chất lượng cao” Để
thực hiện được mục tiêu đó, cần phải đổi mới toàn diện giáo dục và đào tạo, chuẩn hưng
nền giáo dục Việt Nam làm cho giáo dục và đào tạo cùng khoa học và công nghệ thực sự
là quốc sách hàng đầu.
Ngày 4 tháng 11 năm 2013, tổng bí thư Nguyễn Phú Trọng cũng đã ký ban hành
Nghị quyết Hội nghị lần thứ 8, Ban Chấp hành Trung ương khóa XI (Nghị quyết số 29NQ/TW) về đổi mới căn bản, toàn diện giáo dục và đào tạo, đáp ứng yêu cầu CNH-HĐH
trong điều kiện kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa và hội nhập quốc tế. Đảng
ta đã nhận đình: “Giáo dục và đào tạo là quốc sách hàng đầu, là sự nghiệp của Đảng, Nhà
nước và của toàn dân. Đầu tư cho giáo dục là đầu tư phát triển, được ưu tiên đi trước
trong các chương trình, kế hoạch phát triển kinh tế - xã hội.”
Mục tiêu của Nghị quyết đó là tạo chuyển biến căn bản, mạnh mẽ về chất lượng,
Yêu cầu đổi mới trong giáo dục THPT hiện nay là việc làm hết sức quan trọng, phải được
áp dụng thường xuyên để có hiệu quả thiết thực.
Tuy nhiên, trong giai đoạn hiện nay, mặc dù có sự quan tâm đặc biệt của Đảng,
Nhà nước, nền giáo dục vẫn gặp nhiều khó khăn và thách thức. Đôi khi, kết quả những
hoạt động giáo dục của GV vẫn chưa thực sự đáp ứng được yêu cầu ngày càng cao của xã
hội. Điều đó đòi hỏi các các bộ quản lý giáo dục phải trăn trở suy nghĩ tìm tòi các biện
pháp hữu hiệu để hoàn thành tốt nhiệm vụ của mình.
Xuất phát từ những nguyên nhân trên tôi mạnh dạn lựa chọn đề tài nghiên cứu “Bồi
dưỡng năng lực tổ chức hoạt động giáo dục cho giáo viên nhằm đổi mới giáo dục
trong trường THPT Triệu Quang Phục”
I.1.2. Ý nghĩa thực tiến và khoa học của đề tài
Ý nghĩa quan trọng nhất mà đề tài đưa ra, đó là nâng cao chất lượng tổ chức các
hoạt động giáo dục của GV nhằm đổi mới giáo dục, đào tạo ra những con người có thể
đáp ứng được các yêu cầu của thời kỳ mới.
I.1.3. Đối tượng nghiên cứu:
Nghiên cứu về biện pháp nâng cao năng lực tổ chức các hoạt động giáo dục cho
GV trong trường học, đối tượng chính là GV, nhân viên, HS của trường THPT Triệu
Quang Phục.
I.1.4. Phương pháp nghiên cứu:
Phương pháp nghiên cứu chủ yếu là tự luận, nghiên cứu các văn bản, nghị quyết,
chỉ thị về công tác quản lý giáo dục của các cấp.
Ngoài ra còn dùng phương pháp phân tích, tổng hợp, điều tra, quan sát và tổng hợp
kinh nghiệm trong công tác quản lý trường học trong những năm gần đây.
I.2. Phương pháp tiến hành
I.2.1. Cơ sở lý luận của đề tài
Chất lượng giáo dục là một khái niệm “động”. Người quản lí cần đưa ra câu hỏi:
“chất lượng giáo dục” là gì? Chất lượng giáo dục là cái tạo lên phẩm chất giá trị của một
thức tư tưởng tới hành động thực tiễn, từ đổi mới trên lý luận tới đổi mới trên những công
việc giáo dục thực tiễn hàng ngày. Đây là quá trình hoàn toàn không dễ dàng.
I.2.2.2. Về khả năng của HS.
"HS là chủ thể của nhà trường; là đối tượng của quá trình dạy học, giáo dục; là
chủ thể của quá trình nhận thức…”
Bước sang tuổi HS THPT các chức năng tâm lý, sinh lý của con người có nhiều sự
thay đổi. Đặc biệt là trong quá trình lĩnh vực tư duy, trí tuệ, tình cảm, thế giới quan. Tất
cả cả yếu tố chủ quan và khách quan đó đã ảnh hưởng tới khả năng tự ý thức tự đánh giá
của HS THPT.
Tuy nhiên, với sự phát triển của xã hội hiện đại đã có ít nhiều ảnh hưởng xấu tới sự
nhận thức của các em. Các phương tiện truyền thống, giải trí ngày càng trở lên phổ biến,
điện thoại di động, internet trực tuyến, truyền hình đã làm cho một bộ phận không nhỏ
HS ngày nay mắc bệnh lười học trầm trọng. Điều đó có ảnh hưởng rất lớn tới chất lượng
giáo dục.
I.2.2.3. Về phương tiện và điều kiện để tổ chức các hoạt động .
Với ý nghĩa là hệ thống công cụ h trợ giáo dục, thiết bị giáo dục vừa có ý nghĩa
như một nguồn tri thức cần khai thác, vừa như một điều kiện kích thích tính tích cực ở
người học. Tuy nhiên, trong trường phổ thông ở ta hiện nay, vẫn thiếu trầm trọng các
phương tiện dạy học thông thường cũng như hiện đại. Điều này dẫn đến các hạn chế khi
tổ chức các hoạt động giáo dục.
I.2.3. Thực trạng về khả năng tổ chức các hoạt động giáo dục trong trường THPT
Triệu Quang Phục.
I.2.3.1. Thuận lợi.
Hoạt động giáo dục của nhà trường được sự quan tâm của chính quyền địa phương,
được sự quan tâm chỉ đạo sâu xắc của Sở giáo dục và đào tạo và các cấp lãnh đạo, hội
cha mẹ HS trong và ngoài trường.
Đội ngũ GV của nhà trường có phẩm đức tốt, chấp hành nghiêm chỉnh chủ trương,
chính sách của Đảng và Nhà nước. Đội ngũ GV đoàn kết, nhất trí trong toàn trường.
thức một cách sáng tạo trong quá trình dạy học.
Đổi mới phương pháp dạy học có ý nghĩa quan trọng tới: "Phát triển năng lực tư
duy của HS bằng cách tổ chức cho mọi HS động não trong việc tham gia vào quá trình
học tập. Cách tổ chức là cho các em trao đổi, tranh luận với nhau trong khi học"
Đổi mới PPDH một mặt, làm cho tập thể sư phạm cần thống nhất nhận thức: đây là
yêu cầu của sự nghiệp đổi mới giáo dục, là hạt nhân của việc thực hiện chương trình,
sách giáo khoa mới, là điều kiện trực tiếp để nâng cao chất lượng giáo dục; mặt khác, cần
coi đây là thách thức đội ngũ mà đội ngũ cần phải đáp ứng, nhưng cũng là cơ hội phát
triển của m i GV và của m i nhà trường.
Cần coi việc đổi mới PPDH là nhiệm vụ xuyên suốt năm học. Đổi mới PPDH là
một biện pháp nâng cao chất lượng, hiệu quả dạy và học.
Tổ chức thực hiện giờ lên lớp theo hướng đổi mới không chỉ đơn thuần là cung cấp
tri thức cho HS mà phải hướng dẫn HS hoạt động. HS được đặt vào những tình huống
của đời sống thực tế để trực tiếp quan sát, thảo luận, làm thí nghiệm, giải quyết vấn đề và
rèn luyện các kỹ năng theo cách của mình. Quản lý giờ lên lớp hiện nay yêu cầu GV phải
chuyển từ việc dạy kiến thức sang việc dạy phương pháp học tập của HS, làm cho GV
nhận thức được đầy đủ ý nghĩa và hành động theo phương châm: "Người thầy giáo tồi
truyền đạt chân lý, người thầy giáo giỏi dạy cách tìm ra chân lý". Thầy giáo phải là
người chủ đạo tổ chức giờ học, hướng dẫn, gợi mở, đưa HS vào các tình huống có vấn đề,
tổ chức cho HS thực hành, thảo luận, nhập vai, tự nghiên cứu để giải quyết vấn đề; GV
chú trọng rèn luyện cho HS phát triển tự học ngay trong giờ học ở lớp.
* Những định hướng cơ bản của đổi mới PPDH hiện nay:
- Phát huy tính tích cực tự giác, chủ động sáng tạo của HS;
- Bồi dưỡng phương pháp tự học;
- Rèn luyện kỹ năng vận dụng kiến thức vào thực tiễn;
- Tác động đến tình cảm, đem lại niềm vui, hứng thú học tập cho HS.
* Những đặc trưng cơ bản của phương pháp tích cực:
- Dạy học thông qua tổ chức các hoạt động của HS;
dự giờ đánh giá có sự tiếp thu chỉnh lí như thế nào?
* Thực hiện kế hoạch dự giờ kiểm tra đáng giá:
Dự giờ thường xuyên: Là dự giờ nằm trong kế hoạch xây dựng từ đầu năm học đó
chính là hoạt động kiểm tra toàn diện.
Dự giờ đột xuất: là việc dự giờ không báo trước chỉ nằm trong mục tiêu cần đạt của
cán bộ quản lý. M i GV lên lớp phải chấp hành việc dự giờ đột xuất bất kì mà cán bộ
quản lý đề xuất.
Dự giờ hội giảng: Là hoạt động sư phạm mang tính tập thể của GV trong trường.
Dự giờ chuyên đề: Là hoạt động sư phạm cấp trường hoặc cấp tổ nhằm đi đến thống
nhất các bước lên lớp, hay tháo gỡ một dạng bài lí thuyêt hoặc thực hành nào đó khó dạy.
Dự giờ có sử dụng công nghệ thông tin: là hoạt động sư phạm ứng dụng công nghệ
thông tin vào giảng dạy.
Dự giờ song song: Là việc dự cùng một tiết nhưng dự hai GV khác nhau.
Thông qua việc dự giờ: cán bộ quản lý cho người dạy tiết 1 cùng dự để rút kinh
nghiệm cho việc dạy của mình và bổ sung cho đồng nghiệp. GV dạy tiết thứ nhất học
được ở GV dạy tiết sau những vấn đề gì? Người dạy tiết thứ nhất bổ sung cho người dạy
ở tiết dạy sau những vấn đề gì?
Thông qua việc làm đó: M i GV thấy rõ nhất điểm mạnh của mình để phát huy, để
tự khẳng định mình và điểm hạn chế của mình của đồng nghiệp để rút kinh nghiệm cho
tiết dạy sau tốt hơn.
II.2.1.4.Đổi mới các buổi sinh hoạt tổ, nhóm chuyên môn:
- Sinh hoạt chuyên môn tốt là điều kiện thuận lợi cho GV bồi dưỡng tay nghề:
- Sinh hoạt chuyên môn tại các khối cần có nội dung cụ thể về việc thực hiện quy
chế chuyên môn, bàn các tiết khó, các phần dạy khó và hướng giải quyết; các giải pháp
để giúp đỡ GV có tay nghề còn non; thảo luận các nội dung trong QĐ 51, 58/ BGD - ĐT
về đánh giá xếp loại HS; xây dựng các tiết lên lớp chuyên đề trong khối, toàn trường...;
người quản lý cần xây dựng kế hoạch để dự sinh hoạt chuyên môn với các khối, tránh
buông lỏng.
+ Tổ trưởng duyệt bản thảo;
+ Báo cáo chuyên đề ở tổ, nhóm, các tổ viên góp ý, phản biện;
+ Cá nhân phụ trách hoàn thiện chuyên đề;
+ Nhân bản cho toàn thể tổ viên áp dụng và lưu hồ sơ để áp dụng nhiều năm.
- Khi trao đổi, thảo luận ở tổ cần làm rõ những vấn đề tế nhị. Chẳng hạn, chuyên đề
về đổi mới phương pháp dạy học cần nhận thức đúng đắn, đầy đủ về dạy học tích cực.
Tránh hiểu sai lầm, thuyết trình là không tích cực, chỉ có tổ chức dạy học theo nhóm mới
là tích cực. Vấn đề là làm sao để HS suy nghĩ nhiều hơn, hành động nhiều hơn, hợp tác
nhiều hơn, bày tỏ ý kiến nhiều hơn. Cũng vậy, chuyên đề về ứng dụng CNTT trong dạy
học cần quan tâm đến liều lượng và hiệu quả: Sử dụng CNTT đến mức độ nào trong bài
giảng cụ thể này? Kết hợp giữa viết bảng và trình chiếu trên màn hình như thế nào để đạt
hiệu quả? Điều quan trọng là, trong m i tiết dạy, GV biết lựa chọn phương pháp thích
hợp, biết kết hợp các phương pháp hiện đại với các phương pháp truyền thống tùy thuộc
vào từng bài giảng, không nên lạm dụng phương pháp nào. GV phải coi trọng các thủ
pháp dẫn dắt HS tiếp nhận kiến thức một cách tự nhiên, lôgíc.
* Rèn luyện kỹ năng sư phạm của GV
- Nâng cao chất lượng giờ dạy là khát vọng của các GV, tổ chuyên môn và nhà
trường. Điều này được thực hiện qua nhiều biện pháp khác nhau. Kỹ năng sư phạm của
GV có ảnh hưởng lớn đến việc chất lượng giờ dạy. Ở các buổi sinh hoạt tổ có thể trao
đổi, góp ý, giúp nhau sửa chữa những tồi tại, những nhược điểm như phong cách lên lớp,
ngôn ngữ diễn đạt, trình bày bảng của GV, v.v. Hoạt động này nhằm hoàn thiện kỹ năng
sư phạm của nhiều GV, trong khi góp ý sau tiết dự giờ, thao giảng thường hướng tới từng
cá nhân cụ thể.
+ Phong cách lên lớp mà chúng ta mong muốn là chững chạc, tự tin, làm chủ bài
giảng. Chú ý đến giọng nói, cử chỉ đi đứng, động tác tay, ánh mắt, nụ cười, ... Mọi cái
nên vừa phải, trong lớp tránh đi lại quá nhiều, vung tay quá mạnh. Nói chung, GV cần
chú ý đến cả yếu tố phi ngôn ngữ. Tổ chuyên môn nên chọn GV có tác phong lên lớp tốt
làm mẫu để các tổ viên học hỏi và xây dựng cho mình một phong cách phù hợp.
thông qua việc xử lí tình huống của đồng nghiệp, GV sẽ khắc phục được những thiếu xót
trong quá trình giảng dạy... Bởi vậy, ngoài mục đích đánh giá năng lực của GV thì điều
quan trọng là các tổ, nhóm cần tổ chức tốt việc góp ý, rút kinh nghiệm về phương pháp
giảng dạy, về kiến thức, về phong cách lên lớp, về tổ chức lớp học.
- Các tổ chuyên môn cần tăng cường quản lý, định hướng tổ chức dự giờ, thao
giảng coi đây là biện pháp quan trọng để nâng cao chất lượng giờ dạy ... Tổ chức thao
giảng phải có ít nhất 2/3 thành viên của tổ, nhóm tham dự, phải có mục tiêu, rút ra được
những kinh nghiệm. Dự giờ rồi đánh giá, rút kinh nghiệm giờ dạy là việc làm thường
xuyên của tổ chuyên môn, nếu được tổ chức tốt sẽ xóa bỏ được tình trạng còn có GV
chưa tự giác, tích cực dự giờ đồng nghiệp hoặc tâm lí cho rằng đi dự giờ là kiểm tra tiết
dạy của GV. Cần tránh dự giờ để đối phó nhằm đạt chỉ tiêu số lượng theo quy định. Nên
tăng cường các tiết dạy mẫu và quan tâm dự giờ các tiết ôn tập, trả bài cho HS.
- Khi đánh giá, rút kinh nghiệm các tiết dạy cần thẳng thắn, chân tình với tinh thần
giúp nhau cùng tiến bộ, phải đánh giá thực chất, nêu ra được những điểm mạnh, những
hạn chế của người dạy về kiến thức, kỹ năng, thái độ, về nội dung, phương pháp, phong
cách. Cần phê phán lối dạy đọc chép, dạy chay trong khi có và cần sử dụng đồ dùng dạy
học. Đối với những tiết học mà GV gặp nhiều khó khăn thì cần trao đổi kỹ, có thể tổ chức
cho một GV có kinh nghiệm trong nhóm dạy mẫu tiết đó để cùng nhau học hỏi. Các giờ
được dự cần được xếp loại và lưu lại ý kiến cũng như kết quả xết loại; đối với tiết dạy
được thanh tra hoặc dùng để xếp loại GV cần lưu cả phiếu đánh giá giờ dạy.
- Đánh giá giờ dạy phụ thuộc vào nhiều yếu tố khác nhau. Chẳng hạn khi phân tích
khía cạnh rèn luyện kỹ năng vận dụng kiến thức của HS, các GV đã lưu ý đến đặc điểm
môn học. Đối với các môn khoa học xã hội, GV thấy hạn chế của nhiều HS trong viết và
trình bày bài; bài viết thường dài dòng, không rõ ý, chữ viết xấu, viết sai ngữ pháp, trình
bày cẩu thả. Do vậy, rèn luyện rèn luyện kỹ năng viết bài, vận dụng kiến thức đã học vào
bài viết của m i em là rất quan trọng. Cần thay đổi cách viết khuôn sáo theo bài mẫu, ít
sáng tạo. Trong dạy học cần chấm dứt tình trạng đọc chép, cần hạn chế việc ghi nhớ máy
móc, ghi nhớ nhiều số liệu, nhiều sự kiện; trong các tiết ôn tập chú ý rèn luyện hành văn;
chấm trả bài cần kỹ hơn, chỉ l i cụ thể từng em để giúp các em sửa chữa. Đối với các
môn khoa học tự nhiên thì lại chú trọng đến việc giúp HS vận dụng kiến thức vào giải các
đắn, chăm chỉ, có tinh thần vượt khó trong học tập, trung thực trong kiểm tra, thi cử. Giáo
dục HS qua các buổi chào cơ đầu tuần, sinh hoạt tập thể, thông qua hoạt động giảng dạy
trên lớp hình thành cho HS phương pháp tiếp thu, lĩnh hội kiến thức, tích cực, chủ động
sáng tao, theo định hướng đổi mới .
- Xây dựng các tổ tự quản của các lớp để theo dõi tình hình học tập bộ môn. Thông
qua tần số và nội dung phát biểu xây dựng bài, điểm kiểm tra 15 phút, 1 tiết, kịp thời
khen ngợi động viên hoặc uốn nắn HS.
- Chú trọng chỉ đạo việc phụ đạo HS yếu kém và bồi dưỡng HS giỏi. Đầu năm học,
cán bộ quản lý yêu cầu GV phân loại HS: giỏi, khá, trung bình, yếu, kém. Người cán bộ
quản lý phải biết chỉ đạo GV giảm tỷ lệ yếu kém và tăng tỷ lệ khá, giỏi.
- Xây dựng nội dung bồi dưỡng, phụ đạo hợp đối tượng. Đối với HS giỏi, GV phải
xây dựng các chương trình nâng cao, sâu rộng. Đối với HS kém cần tái hiện kiến thức cũ,
nội dung "lấp l hổng" kiến thức, kỹ năng thực hành, luyện tập theo nhóm.
Trong giờ dạy, GV phải chú ý đến các đối tượng HS, lựa chọn cách kiểm tra, phát
vấn, dẫn dắt HS lĩnh hội kiến thức bài học trọn vẹn. Phối hợp tốt các lực lượng giáo dục:
GV bộ môn, GVCN, Đoàn thanh niên, gia đình để phát huy sức mạnh tổng hợp nâng cao
chất lượng học tập.
- Quản lý chặt chẽ hoạt động học tập ở nhà. HS chỉ có 1/6 thời gian học tập ở
trường, thời gian còn lại chịu sự quản lý của gia đình và xã hội. Việc học ở nhà nghiêm
túc có tác dụng mạnh trong việc nâng cao chất lượng của HS.
II.2.2. Bồi dưỡng năng lực tổ chức các hoạt động GDNGLL
Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ IX đã khẳng định Giáo dục – Đào tạo cùng với
Khoa học – công nghệ là quốc sách hàng đầu. Phát triển giáo dục là một trong những
động lực quan trọng thúc đẩy sự nghiệp CNH-HĐH, là điều kiện để phát huy nguồn lực
con người – yếu tố cơ bản để phát triển xã hội, tăng trưởng kinh tế nhanh và bền vững.
Muốn đào tạo nguồn lực con người đáp ứng với yêu cầu phát triển của xã hội cần phải
quan tâm đến việc nâng cao chất lượng giáo dục toàn diện cho HS
Nói về giáo dục toàn diện, Rabơle (1494 – 1553) nhà tư tưởng, nhà giáo dục thời
hoạt động GDNGLL còn nhiều hạn chế, hình thức hoạt động còn đơn điệu, công tác phối
hợp kết hợp giữa các lực lượng giáo dục trong và ngoài nhà trường chưa đồng bộ.
Điều đáng quan tâm là đa số HS hiện nay ngại tham gia các hoạt động GDNGLL,
số HS có năng lực học tập thì chỉ chuyên tâm vào việc học các môn văn hóa, trong các
môn văn hóa, các em cũng chỉ đầu từ cho một vài môn sở trường – số còn lại, nhất là các
môn khoa học xã hội thì hầu như bị “bỏ ngỏ”. Số HS chưa tích cực trong học tập thì lại
dành thời gian cho các việc vui chơi, giải trí khác, nhất là các trò chơi điện tử, các thông
tin lệch lạc trên Internet… Thực tế đó đã dẫn đến tình trạng ngày càng có nhiều HS hư
hỏng, đua đòi, sống thực dụng, thờ ơ, bi quan với cuộc sống, nói năng, hành xử thô bạo,
thiếu văn hoá… Nếu không kịp thời chấn chỉnh thì sẽ xa rời mục tiêu giáo dục.
Thực trạng nêu trên đòi hỏi các nhà trường cần phải chú trọng nhiều hơn nữa đến
việc giáo dục toàn diện cho HS, trong đó có hoạt động GDNGLL.
II.2.2.1. Nâng cao nhận thức về vị trí, vai trò của hoạt động GDNGLL cho cán bộ, GV,
HS và các lực lượng xã hội khác:
Cần làm cho cán bộ, GV, HS và các lực lượng xã hội khác nhận thức một cách
đúng đắn mục tiêu giáo dục nói chung và mục tiêu giáo dục của nhà trường phổ thông.
Về mục tiêu chung, điều 2, Luật Giáo dục: “Đào tạo con người Việt Nam phát triển toàn
diện, có đạo đức, tri thức, sức khoẻ, thẩm mỹ và nghề nghiệp, trung thành với lí tưởng
độc lập, dân chủ và chủ nghĩa xã hội, hình thành và bồi dưỡng nhân cách, phẩm chất và
năng lực của công dân, đáp ứng yêu cầu xây dựng và bảo vệ Tổ quốc.”; đối với nhà
trường phổ thông, điều 23, Luật Giáo dục: “Mục tiêu giáo dục phổ thông giúp HS phát
triển toàn diện về đạo đức, trí tuệ, phẩm chất, thẩm mỹ và các kỹ năng cơ bản nhằm hình
thành nhân cách con người Việt Nam xã hội chủ nghĩa, xây dựng tư cách và trách nhiệm
công dân chuẩn bị cho HS tiếp tục học lên hoặc đi vào cuộc sống lao động, tham gia xây
dựng và bảo vệ Tổ quốc.”
Để nâng cao nhận thức, cần phải thông qua nhiều hình thức hoạt động khác nhau
như tổ chức hoặc kết hợp với các buổi sinh hoạt chính trị, nghe thời sự, học nghị quyết,
họp hội đồng giáo dục, tổ chức hội thảo, trao đổi kinh nghiệm quản lí, tổ chức ngoại khoá
giới thiệu những tư liệu cần thiết, liên quan đến hoạt động GDNGLL cho HS, tổ chức các
buổi tuyên truyền giáo dục ý thức chấp hành, tinh thần, thái độ và đề cao trách nhiệm và
quyền lợi của HS khi tham gia các hoạt động.
Cần có biện pháp kiểm tra, theo dõi, đánh giá kết quả, khen thưởng, động viên kịp
thời đối với những HS có thành tích tốt trong các hoạt động. Tăng cường vận động,
thuyết phục, kích thích lòng nhiệt tình và sự say mê hoạt động trong HS, đồng thời
nghiêm khắc xử lý những đối tượng có hành vi chây lười, làm ảnh hưởng đến hoạt động
giáo dục chung.
II.2.2.4. Chỉ đạo nội dung, chương trình hoạt động GDNGLL
Nội dung, chương trình hoạt động GDNGLL là yếu tố trọng tâm của quá trình giáo
dục, là sự thể hiện mục tiêu, nhiệm vụ của hoạt động giáo dục cụ thể, là phương tiện
tương tác giữa người tổ chức giáo dục với người tiếp thu các nội dung giáo dục. Qua việc
thực hiện nội dung, chương trình HS nắm được hệ thống kiến thức, kỹ năng, kỹ xảo, từ
đó hình thành năng lực, phẩm chất, phát triển trí tuệ, tình cảm, thể lực, ý chí, lí luận và
khả năng hoạt động thực tiễn. Tất cả nội dung này được sắp xếp khoa học giữa giáo dục
và giáo dưỡng. Việc thực hiện đầy đủ, nghiêm túc nội dung, chương trình hoạt động
GDNGLL là yếu tố cơ bản để thực hiện mục tiêu giáo dục. Vì vậy, nhà trường phải xem
đây là vấn đề có tính pháp lệnh và cần có sự chỉ đạo thực hiện một cách thống nhất.
Để đảm bảo thực hiện đầy đủ, đúng nội dung chương trình, hiệu trưởng cùng với
ban chỉ đạo hoạt động GDNGLL dự kiến thực hiện chương trình theo từng học kì, tháng,
tuần và cả năm. Cần chú ý đến các thời điểm quan trọng, dự kiến những vấn đề nảy sinh
và biện pháp khả thi của các hoạt động. Hàng tuần, hàng tháng, hiệu trưởng theo dõi,
kiểm tra tiến độ thực hiện nội dung, chương trình đề ra.
II.2.2.5. Chỉ đạo đổi mới hình thức các hoạt động GDNGLL:
Hoạt động GDNGLL ở các trường phổ thông rất đa dạng và phong phú, thường
diễn ra trong một không gian rộng, thời gian không cố định. Do đó, muốn thu hút HS
tham gia đầy đủ các hoạt động cần phải thường xuyên đổi mới nội dung, chương trình,
hình thức tổ chức hoạt động GDNGLL.
h trợ của các lực lượng ngoài xã hội để tăng cường CSVC cho nhà trường, tạo mọi điều
kiện tốt nhất để các lực lượng ngoài xã hội cùng tham gia hoạt động, tham gia giáo dục
HS.
Đổi mới công tác thi đua khen thưởng cũng là một trong những yếu tố đem lại hiệu
quả cho các hoạt động GDNGLL. Công tác thi đua khen thưởng là động lực thúc đẩy
phong trào học tập, rèn luyện của HS. Để làm tốt việc khen thưởng, hiệu trưởng cần quan
tâm đến khâu kiểm tra, đánh giá các hoạt động ngoài giờ. Nếu kiểm tra, đánh giá và
động viên khen thưởng kịp thời thì chất lượng hoạt động GDNGLL sẽ được nâng cao.
Tóm lại, hoạt động GDNGLL là một trong những con đường để phát triển năng lực
trong m i cá nhân HS trong nhà trường phổ thông, tạo ra môi trường thuận lợi để HS
phát triển tư duy, hình thành nhân cách đáp ứng theo yêu cầu của xã hội.
Việc nhìn nhận đúng vị trí, vai trò của hoạt động GDNGLL sẽ giúp các cấp quản lí
dành sự đầu tư thích đáng để chỉ đạo hoạt động này ở trường, giúp đội ngũ GV có thái
độ tích cực và sáng tạo khi tham gia tổ chức các hoạt động, tạo ra sự chuyển biến về chất
trong các hoạt động ngoài giờ nhằm thực hiện tốt mục tiêu giáo dục trong nhà trường phổ
thông.
Để làm được điều đó, cần phải có sự cải tiến công tác quản lí hoạt động GDNGLL
theo hướng tích cực hoá các họat động, nâng giá trị của hoạt động GDNGLL ngang tầm
với hoạt động dạy học – giáo dục nói chung.
II.2.3. Bồi dưỡng năng lực tổ chức các hoạt động ngoại khóa
Căn cứ vào Quyết định số 47/2002/Q Đ-BGD&ĐT ngày 19.11.2002 thì chương
trình Hoạt động ngoại khóa, hoạt động ngoài giờ lên lớp là một bộ phận của hệ thống
giáo dục ở trường THPT phân ban từ năm 2002-2003 và đối với các trường THPT phân
ban đại trà từ năm học 2006- 2007 cho đến nay. Do vậy để có thể tổ chức quản lý tốt hoạt
động này cần có sự quan tâm đúng mức và đầu tư nghiên cứu về bản chất hoạt động, cách
thức quản lý để mang lại hiệu quả cao đối với việc nâng cao chất lượng giảng dạy - học
tập trong nhà trường phổ thông.
Trong những năm qua hoạt động ngoại khóa ở các trường THPT thường gắn với