SÁNG KIẾN KINH NGHIỆM
ĐỀ TÀI:
"MỘT SỐ KINH NGHIỆM KHI DẠY TOÁN CHUYỂN ĐỘNG ĐỀU
CHO HỌC SINH LỚP 5"
1
PHẦN I: ĐẶT VẤN ĐỀ
A- LÝ DO CHỌN ĐỀ TÀI
1- Cơ sở lý luận.
Giáo dục là nền tảng văn hoá của một nước, là sức mạnh tương lai của một dân tộc.
Chính vì vậy Đảng ta đã nhận định rằng: " Giáo dục là quốc sách hàng đầu, đầu tư cho
giáo dục là đầu tư cho tương lai." Bởi vậy, việc nâng cao chất lượng học tập và giáo dục
cho học sinh đang được Đảng, nhà nước, cha mẹ học sinh và các ngành các cấp quan tâm
, đặc biệt là bậc Tiểu học.
Tiểu học là bậc học nền tảng đặt nền móng vững chắc cho ngành GD. Mỗi môn học ở
Tiểu học đều góp phần vào việc hình thành và phát triển cơ sở ban đầu rất quan trọng của
nhân cách con người Việt Nam. Trong các môn học ở Tiểu học cùng với môn Tiếng Việt
thì môn Toán đóng vai trò vô cùng quan trọng.
Môn Toán có vai trò rất lớn trong việc rèn luyện phương pháp suy nghĩ, phương pháp
suy luận, phương pháp giải quyết vấn đề có căn cứ khoa học, linh hoạt, sáng tạo ....
Môn toán là môn học thống nhất có sự sắp xếp theo lôgíc và trật tự nhất định, nó làm
nổi rõ toàn bộ hạt nhân của toàn bộ chương trình. Môn toán ở tiểu học chiếm số giờ rất
lớn, xuyên suốt quá trình học toán là việc thực hiện các phép tính từ đơn giản đến phức
tạp. Trong chương trình Toán lớp 5 những bài toán về “Chuyển động đều " chiếm một
số lượng tương đối lớn. Đây là một dạng toán khó đối với học sinh. Học tốt dạng toán
này giúp học sinh rèn kĩ năng đổi đơn vị đo thời gian, kĩ năng tính toán, kĩ năng giải toán
có lời văn. Đồng thời là cơ sở tiền đề giúp học sinh học tốt chương trình toán và chương
trình vật lí ở các lớp trên.
tốt các bài toán phần chuyển động đều ở lớp 5.
3- Kết luận
Từ vị trí, tầm quan trọng của bậc Tiểu học nói chung và của học sinh lớp 5 nói
riêng. Từ thực tế giảng dạy phát hiện được những sai lầm của học sinh khi tính toán và
giải toán phần chuyển động đều. Với lương tâm và trách nhiệm của một nhà giáo dục ,
một "Kỹ sư tâm hồn" làm nhiệm vụ "Trồng người" nên tôi chọn đề tài này để nghiên
cứu. Tôi mong muốn được đóng góp một phần công sức nhỏ bé của mình vào sự nghiệp
giáo dục của huyện, tỉnh nhà nói chung và của trường tôi nói riêng giúp các em học môn
Toán được tốt hơn.
B- MỤC ĐÍCH CỦA ĐỀ TÀI.
Tôi chọn đề tài này để nghiên cứu không những nhằm chỉ ra những lỗi học sinh
thường mắc, mà còn giúp học sinh lớp 5 của trường thực hiện đúng các phép tính, có kỹ
năng tính toán thành thạo khi giải toán chuyển động đều. Ngoài ra, tôi còn hy vọng với
kinh nghiệm nhỏ bé của mình phần nào giúp giáo viên trong trường và đồng nghiệp có
thêm phương pháp, cách thức, kinh nghiệm giảng dạy môn Toán phần chuyển động đều ở
một số trường hợp học sinh dễ mắc sai lầm. Từ đó tạo nên nền tảng vững chãi cho các em
trong kỹ năng giải Toán và là bàn đạp thúc đẩy việc học Toán sơ cấp, cao cấp sau này của
học sinh. Giúp chất lượng giáo dục của trường, huyện nhà ngày càng tiến bước.
C . KHÁCH THỂ VÀ ĐỐI TƢỢNG NGHIÊN CỨU:
3
1. Khách thể nghiên cứu:
- Học sinh lớp 5A, Giáo viên dạy lớp 5 Trường Tiểu học Tiên Tiến.
2. Đối tượng nghiên cứu:
- Biện pháp nâng cao chất lượng dạy toán chuyển động đều lớp 5.
D . NHIỆM VỤ NGHIÊN CỨU:
1. Nghiên cứu thực trạng về việc dạy và học toán chuyển động đều ở lớp 5.
2. Tìm hiểu những sai sót khi giải dạng toán này, phân dạng các bài toán chuyển
Giáo dục ở tiểu học nhằm giúp học sinh :
+) Có những kiến thức cơ sở ban đầu về số học các số tự nhiên, phân số, các số
thập phân, các đại lượng cơ bản và một số yếu tố hình học .
+) Hình thành và rèn luyện kỹ năng thực hành tính, đo lường, giải bài toán có nhiều
ứng dụng thiết thực trong đời sống .
+) Bước đầu hình thành và phát triển năng lực trừu tượng hoá, khái quát hoá, kích
thích trí tưởng tượng, gây hứng thú học tập toán, phát triển hợp lý khả năng suy luận và
biết diễn đạt đúng (bằng lời, bằng viết) các suy luận đơn giản góp phần rèn luyện phương
pháp học tập, làm việc khoa học, linh hoạt sáng tạo. Ngoài những mục tiêu trên, cũng như
các môn học khác ở tiểu học, môn toán góp phần hình thành và rèn luyện các phẩm chất,
các đức tính cần thiết của người lao động trong xã hội hiện đại.
b) Nhiệm vụ:
Môn toán ở tiểu học có nhiệm vụ giúp học sinh:
+) Hình thành hệ thống các kiến thức cơ bản, có nhiều ứng dụng trong đời sống về
số học các số tự nhiên, các số thập phân và hình học.
+) Có những hiểu biết ban đầu thiết thực nhất về các đại lượng cơ bản như: Độ dài,
khối lượng, thời gian, diện tích, dung tích, tiền Việt Nam và một số đơn vị đo thông dụng
nhất của chúng. Biết sử dụng các dụng cụ để thực hành đo lường, biết sử dụng các đơn vị
đo đơn giản.
+) Rèn luyện để nắm chắc các kỹ năng thực hành tính nhẩm, tính viết về bốn phép
tính với các số tự nhiên, số thập phân, các số đo đại lượng.
+) Biết nhận dạng và bước đầu biết phân biệt một số các hình hình học thường gặp.
Biết tính chu vi, diện tích thể tích một số hình. Biết sử dụng các dụng
cụ đơn giản để đo và vẽ một số hình.
+) Có những hiểu biết ban đầu, sơ giản về dùng chữ thay số, về biểu thức toán học,
về phương trình và bất phương trình đơn giản nhất bằng phương pháp phù hợp với tiểu
học.
+) Biết cách giải và trình bày bài giải với các bài toán có lời văn. Nắm chắc, thực
hiện đúng quy trình giải toán. Bước đầu biết giải các bài toán bằng các cách khác nhau.
lượng tỉ lệ thuận và đại lượng tỉ lệ nghịch, kĩ năng tóm tắt bài toán bằng sơ đồ, kĩ năng
tính toán…
* Dạy giải các bài toán chuyển động đều góp phần bồi dưỡng năng khiếu toán học.
Là một trong những thể loại toán điển hình có tính mũi nhọn, bài toán chuyển
động đêu đặc biệt quan trọng. Nó góp phần không nhỏ trong việc phát hiện học sinh năng
khiếu qua các kì thi, bởi vì đi sâu tìm hiểu bản chất của loại bài toán này ta thấy đây là
loại toán phức tạp, kiến thức không nặng, nhưng nhiều bất ngờ ở từng bước giải. Thực tế
6
cho thấy gần đây loại toán này được sử dụng khá rộng rãi trong việc ra các đề thi và các
tài liệu bồi dưỡng cho giáo viên và học sinh.
* Dạy giải các bài toán chuyển động đều gây hứng thú toán học, giáo dục tư tưởng tình
cảm và nhân cách cho học sinh.
Ở bậc tiểu học nói chung và lớp 5 nói riêng do đặc điểm nhận thức lứa tuổi này
các em thường chỉ hay làm những việc mình thích, những việc nhanh thấy kết quả.
Trong quá trình hệ thống hóa các bài toán chuyển động đều, tôi thấy để đi được
đến bước dùng công thức cơ bản để tìm đáp số của bài toán, học sinh phải xử lí rất nhiều
các chi tiết phụ ( rất quan trọng ) của bài toán.Ở mỗi bài lại có các bước phân tích, tìm
tòi lời giải khác nhau. Điều này đòi hỏi mỗi học sinh phải tích cực , chủ động sáng tạo.
Các tình huống của bài toán phải xử lí linh hoạt, chính xác để cuối cùng đưa bài toán về
dạng đơn giản về điển hình.
Qua giải bài toán chuyển động đều, không chỉ tạo được sự hứng thú say mê ở
mỗi học sinh, mà còn tạo cho các em một phong cách làm việc khoa học chính xác, cần
mẫn , sáng tạo.
* Dạy giải các bài toán chuyển động đều góp phần cung cấp vốn hiểu biết về cuộc sống
cho học sinh tiểu học.
Các kiến thức trong toán chuyển động đều rất thực tế và gần gũi với thực tế hàng
ngày như: quãng đường, thời gian, vận tốc…sẽ được tính toán và áp dụng ra
thực tiễn (rờ, nắn, cầm, bắt) nhưng với học sinh lớp 5, tri giác của các em không còn
gắn liền với hoạt động học thực tiễn, các em đã phân tích được từng đặc điểm của đối
tượng, biết tổng hợp thực tiễn, các em đã phân tích được từng đặc điểm của đối tượng,
biết tổng hợp các đặc điểm riêng lẽ theo qui định. Tuy nhiên do khả năng chú ý chưa
cao nên các em vẫn hay mắc sai lầm khi tri giác bài toán như: Đọc thiếu đề, chép sai hay
nhầm lẫn giữa các bài toán na ná giống nhau.
* Khả năng chú ý của học sinh lớp 5.
Đối với bài toán chuyển động đều đặc điểm chung ngôn ngữ trong bài là:
Mỗi đề toán thường rất dài, không đọc kĩ dễ nhầm. Để phân biệt được ý kiến của từ,
cụm từ trong bài cho chính xác, học sinh thường mắc phải lỗi thiếu chú ý tới từ cảm
ứng có trong bài mà trong quá trình giải toán, nhất là bài toán chuyển động đều thì đó
là “chìa khóa” có ý nghĩa vô cùng quan trọng.
Tóm lại: Chú ý của học sinh lớp 5 chưa thật bền vững, khả năng chú ý
kém, chóng mệt mỏi. Cho nên trong quá trình làm một bài toán có thể bước tìm hiểu
đề và lập kế hoạch giải rất nhanh, nhưng cuối bài lại trình bày rời rạc chất lượng kém.
* Đặc điểm trí nhớ của học sinh lớp 5.
Học sinh Tiểu học thường ghi nhớ một cách máy móc do vốn ngôn ngữ còn
ít. Vì thế các em có xu hướng học thuộc lòng từng câu , từng chữ nhưng không hiểu
gì. Ở các em trí nhớ trực quan hình tượng phát triển mạnh hơn trí nhớ logic. Cho nên
8
các em giải các bài toán điển hình như toán chuyển động đều một cách máy móc dựa
trên trí nhớ về các phép tính cơ bản. Khi gặp bài toán nâng cao học sinh rất dễ mắc sai
lầm. Trí nhớ của các em không đủ để giải quyết mâu thuẫn trong bài toán.
Tuy nhiên học sinh lớp 5 đã biết phối hợp sử dụng tất cả các giác quan để ghi nhớ
một cách tổng hợp. Bước đầu có nhiều biện pháp ghi nhớ tốt hơn các tài liệu đã học.
* Đặc điểm về tưởng tượng của học sinh Tiểu học.
Học sinh Tiểu học nói chung và học sinh lớp 5 nói riêng còn rất bỡ ngỡ trước
như những sai lầm mà học sinh thường mắc phải, tôi đã tiến hành khảo sát trên 2 lớp 5A
và 5B của trường.
Tôi chọn lớp 5B là lớp tiến hành dạy thực nghiệm, lớp 5A là lớp đối chứng.
Đề kiểm tra có nội dung như sau:
Câu 1: ( 2 điểm ) Điền vào ô trống trong bảng sau:
S (km)
250
v ( km/h)
45
18
t ( giờ)
2
3
256
12,8
5
Câu 2: ( 2 điểm) Một người đi xe đạp trong 45 phút với vận tốc 12, 5km/ giờ. Tính
quãng đường đi được của người đó.
Câu 3: ( 3 điểm )
Quãng đường AB dài 174 km. Hai ô tô khởi hành cùng một lúc. Một xe đi từ A đến
SL
%
Lớp
đối
20
chứng(5A)
3
15
6
30
9
45
2
10
Lớp thực 20
nghiệm(5B
3
- Học sinh chỉ nhớ công thức và vận dụng công thức làm bài, chứ chưa có sự sáng
tạo trong từng bài toán tình huống chuyển động cụ thể có trong cuộc sống.
- Khi làm bài nhiều em không đọc kĩ đề bài, suy nghĩ thiếu cẩn thận, hấp tấp nên bỏ
sót dữ kiện đề bài cho. Hoặc không chú ý đến sự tương ứng giữa các đơn vị đo của các
đại lượng khi thay vào công thức tính dẫn đến sai.
- Nhiều học sinh không nắm vững kiến thức cơ bản, tiếp thu bài máy móc, chỉ làm
theo mẫu chứ chưa tự suy nghĩ để tìm cách giải.
III-. VẤN ĐỀ CẦN GIẢI QUYẾT.
Trước thực trạng như vậy, được sự đồng ý của chuyên môn, tôi đã áp dụng các giải
pháp nâng cao hiệu quả dạy học phần toán chuyển động đều ở lớp 5B. Nhằm nâng cao
hiệu quả dạy học, góp phần tăng tỉ lệ học sinh khá, giỏi. Đối với loại toán chuyển động
đều tôi đã thực hiện như sau:
1 - Dạy giúp học sinh nắm chắc kiến thức cơ bản, làm rõ bản chất mối quan hệ
giữa các đại lượng: vận tốc, quãng đường, thời gian.
2 Rèn học sinh cách đổi đơn vị đo và ý nghĩa của chúng.
3 - Phân dạng bài tập, giúp học sinh nhận dạng các bài tập và phương pháp giải
các bài tập của từng dạng. Thông qua đó hướng dẫn học sinh nắm chắc các bước giải
toán ở từng dạng bài, rèn cho học sinh khắc phục những sai lầm mà học sinh mắc phải.
4 - Giáo viên tự học, tự bồi dưỡng nâng cao kiến thức, tìm tòi phương pháp giải,
phương pháp truyền đạt dễ hiểu để học sinh tiếp thu kiến thức tốt nhất.
11
IV- CÁC BIỆN PHÁP THỰC HIỆN
1- Dạy giúp học sinh nắm chắc kiến thức cơ bản, làm rõ bản chất mối quan hệ giữa
các đại lƣợng: vận tốc, quãng đƣờng, thời gian.
Để làm được điều này thì ngay trên lớp, khi dạy bài mới tôi đã chú trọng giúp học
sinh hiểu rõ bản chất toán học, hiểu rõ ý nghĩa, bản chất của nội dung kiến thức. Hướng
dẫn học sinh tự tìm hiểu kiến thức bằng hiểu biết của mình dựa trên những gợi ý, rồi tôi
sinh những vấn đề sau để học sinh tránh được những nhầm lẫn khi làm bài.
- Đơn vị vận tốc phụ thuộc vào đơn vị quãng đường và đơn vị thời gian.
Chẳng hạn:
12
s km
t giờ
sm
v km/giờ
t phút
v m/phút
- Đơn vị thời gian phụ thuộc vào đơn vị quãng đường và vận tốc.
Chẳng hạn: s km
v km/giờ
t giờ
- Đơn vị quãng đường phụ thuộc vào đơn vị vận tốc và thời gian.
v m/giờ
Chẳng hạn: v km/giờ
t giờ
s km
= 60.
- Ta chia số phải đổi cho tỉ số của 2 đơn
vị.
KL: Ta chia số phải đổi
ở ví dụ trên ta thực hiện 15 : 60 =
1
=
4
cho tỉ số của hai đơn vị.
0,5.
Vậy 15 phút =
1
4
giờ = 0,25 giờ.
* Cách đổi từ đơn vị lớn ra đơn vị nhỏ.
VD: Đổi
3
4
giờ = ... phút.
Tôi hướng dẫn như sau :
* Cách đổi từ km/giờ sang km/phút sang m/phút.
VD: 120 km/ giờ = ...km/ phút = ... m/ phút.
Ta làm theo 2 bước như sau:
Bƣớc 1: Thực hiện đổi từ km/giờ sang km/phút.
- Thực hiện đổi 120 km/giờ = ...km/phút.
- Tỉ số 2 đơn vị giờ và phút là 60.
120 : 60 = 2
* Vậy 120 km/giờ = 2 km/phút.
Ghi nhớ cách đổi: Muốn đổi từ km/giờ sang km/phút ta lấy số phải đổi chia cho 60.
Bƣớc 2: Thực hiện đổi từ km/phút sang m/phút.
- Đổi 2 km/phút = ... m/phút.
- Tỉ số giữa 2 đơn vị km và m là 1000 (Vì 1km = 1000 m).
2 x 1000 = 2000.
* Vậy 2 km/phút = 2000 m/phút.
Ghi nhớ cách đổi: Muốn đổi từ km/phút sang m/phút ta lấy số phải đổi nhân với
1000.
Vậy 120 km/giờ = 2 km/phút = 2000 m/phút.
* Cách đổi từ m/phút sang km/phút, sang km/giờ.
Ta tiến hành ngược với cách đổi trên.
Ví dụ: 2000 m/phút = ...km/phút = ...km/giờ.
- Tỉ số 2 đơn vị giữa km và m là: 1000.
Ta có: 2000 : 1000 = 2
Vậy 2000 m/phút = 2 km/phút.
- Tỉ số 2 đơn vị giờ và phút là 60.
15
Ta có: 2 x 60 = 120.
- t: Thời gian.
- s: Quãng đường.
- v: Vận tốc.
16
Đồng thời tôi giúp học sinh nắm vững mối quan hệ giữa các đại lượng vận tốc
quãng đường, thời gian.
- Khi đi cùng vận tốc thì quãng đường càng dài thì thời gian đi càng lâu .
- Khi đi cùng thời gian thì quãng đường càng dài thì vận tốc càng lớn
- Khi đi cùng quãng đường thì thời gian ngắn thì vận tốc nhanh, thời gian dài thì
vận tốc chậm
( Phải dùng từ như vậy vì toán tỉ lệ thuận, tỉ lệ nghịch các em không được học trong
chương trình tiểu học).
* Tiếp theo, tôi phân thành các dạng cơ bản:
Dạng 1: Những bài toán áp dụng công thức các yếu tố đề cho đã tƣờng minh.
Đây là dạng toán đơn giản nhất. Học sinh dễ dàng vận dụng hệ thống công
thức để giải.
Ví dụ: Bài tập 3/139 Toán 5.
Một người chạy được 400m trong 1phút 20giây. Tính vận tốc chạy của người đó
với đơn vị đo là m/giây.
- Với đề bài trên tôi hướng dẫn cho học sinh như sau:
* Đọc kĩ yêu cầu của đầu bài.
* Phân tích bài toán.
+ Đề bài cho biết gì ? Hỏi gì ?
+ Tính vận tốc theo đơn vị nào ?
+ Áp dụng công thức nào để tính ?
- Qua đó học sinh dễ dàng vận dụng để tính nhưng cần lưu ý đơn vị đo thời gian
phải đồng nhất với đơn vị đo vận tốc theo yêu cầu.
12,6 x 0,25 = 3,15 ( km )
Đáp số: 3,15 km.
Cách giải chung:
- Nắm vững đề bài.
- Xác định công thức áp dụng.
- Lưu ý đơn vị đo.
Dạng 2: Các bài toán áp dụng công thức có các yếu tố đề cho chƣa tƣờng minh.
Ví dụ 1: Bài tập 4/140.
Một xe máy đi từ 6 giờ 30phút đến 7giờ 30phút được quãng đường 40km. Tính
vận tốc của xe máy.
- Với bài toán trên tôi tiến hành hướng dẫn học sinh thông qua các bước sau:
* Đọc kĩ yêu cầu đề bài.
* Phân tích đề toán.
/?/ Đề bài cho biết gì ?Hỏi gì ?
/?/ Để tính vận tốc xe máy cần biết yếu tố gì ?
( Quãng đường, thời gian xe máy đi )
/?/ Để tính thời gian xe máy đi ta cần biết yếu tố nào ?
( Thời gian xuất phát, thời gian đến nơi )
Giúp học sinh nắm rõ quá trình phân tích bài toán bằng sơ đồ sau:
18
Vận tốc xe máy
Quãng đường
Thời gian xe máy đi
Thời gian đến nơi
40 :
5
4
= 32 km/giờ
Đáp số : 32 km/giờ.
19
* Lưu ý: Khi giải bài toán này cần hướng dẫn học sinh cách tính thời gian đi trên
đường bằng cách lấy thời gian đến nơi trừ thời gian xuất phát.
Ví dụ 2: Bài/166 Toán 5.Một ô tô đi từ Hà Nội lúc 6giờ 15phút và đến Hải Phòng
8giờ 56phút. Giữa đường ô tô nghỉ 25phút. Vận tốc của ô tô là 45km/giờ. Tính quãng
đường từ Hà Nội đến Hải Phòng ?
Với bài toán này cách giải cũng tiến hành tương tự VD1. Tôi hướng dẫn học sinh
như sau:* Đọc kĩ yêu cầu của đề bài.
* Phân tích bài toán.
- Đề bài cho biết gì ? Hỏi gì ?
- Để tính quãng đường từ Hà Nội đến Hải Phòng ta cần biết yếu tố nào ?
( Vận tốc và thời gian xe ô tô đi trên đường )
- Để tính thời gian đi trên đường ta cần biết yếu tố nào ?
( Thời gian xuất phát, thời gian đến nơi, thời gian nghỉ )
*Phân tích bài toán bằng sơ đồ.
Quãng đƣờng Hà Nội - Hải
Phòng
Vận tốc ô
tô
Quãng đƣờng Hà Nội - Hải
Phòng
* Học sinh trình bày bài giải.
Giải
Thời gian ô tô đi trên đường là:
8giờ 56phút - 6giờ 15phút - 25phút = 2giờ 16phút.
2giờ 16phút =
34
15
giờ.
Quãng đường từ Hà Nội đến Hải Phòng là:
45 x
34
15
= 102 ( km ).
Đáp số: 102 km.
* Ở bài tập trên ta lưu ý: Nếu xe nghỉ dọc đường thì thời gian đi trên đường bằng
thời gian đến nơi, trừ thời gian xuất phát và thời gian nghỉ dọc đường.
Dạng 3: Bài toán dựa vào mối quan hệ giữa quãng đƣờng, vận tốc và thời gian.
Ví dụ: Trên quãng đường AB nếu đi xe máy với vận tốc 36 km/giờ thì hết 3 giờ.
Hỏi nếu đi xe đạp với vận tốc 12km/giờ thì hết bao nhiêu thời gian ?
- Với bài toán trên, học sinh có thể giải theo 2 cách
Tổng vận tốc = vận tốc 1 + vận tốc 2.
Quãng đường
Thời gian gặp nhau =Tổng vận tốc
22
Quãng đường = Tổng vận tốc x Thời gian gặp nhau.
Quãng đường
Tổng vận tốc = Thời gian gặp nhau
Ví dụ: Quãng đường AB dài 276km. Hai ô tô khởi hành cùng một lúc, một xe đi từ A đến
B với vận tốc 42km/giờ, một xe đi từ B đến A với vận tốc 50km/giờ. Hỏi kể từ lúc bắt
đầu đi sau mấy giờ hai ô tô gặp nhau?
Với bài toán trên, tôi hướng dẫn học sinh phân tích bài toán và giải như sau:
Đọc kĩ yêu cầu của bài tập và trả lời các câu hỏi sau:
- Bài toán cho biết gì ? Hỏi gì ?
- Bài toán thuộc dạng toán nào ?
( Hai động tử chuyển động ngược chiều nhau ).
- Để tính thời gian gặp nhau cần biết yếu tố nào ?
( Quãng đường và tổng vận tốc )
Hướng dẫn học sinh áp dụng hệ thống công thức về dạng toán 2 động tử chuyển
động ngược chiều nhau để giải.
Bài giải
Tổng vận tốc của 2 xe là:
42 + 50 = 92 ( km/giờ )
Thời gian 2 xe gặp nhau là:
276 : 92 = 3 ( giờ )
Đáp số: 3 giờ.
* Qua bài trên điều quan trọng là: Giúp học sinh nhận diện ra dạng toán.
( Hai động tử chuyển động cùng chiều đuổi nhau )
Vẽ hình để học sinh dễ hình dung nội dung bài toán.
Xe đạp
Xe máy
A
B
C
72km
Để tính thời gian đuổi kịp nhau ta cần biết yếu tố nào ?
( Khoảng cách lúc đầu và hiệu vận tốc )
Học sinh vận dụng hệ thống quy tắc đã được cung cấp để giải bài toán.
Bài giải
24
Hiệu vận tốc của hai xe là:
36 - 12 = 24 ( km /giờ )
Thời gian để xe máy đuổi kịp xe đạp là:
72 : 24 = 3 ( giờ )
Đáp số: 3 giờ.
Ví dụ 2: Một xe máy đi từ A lúc 8giờ 37phút với vận tốc 36km/giờ. Đến
11giờ 7phút, một ô tô cũng đi từ A đuổi theo xe máy với vận tốc 54km/giờ. Hỏi ô tô đuổi
kịp xe máy lúc mấy giờ ?
Với bài toán trên cách giải tương tự như ví dụ 1 nhưng phức tạp hơn vì đây là bài