Đánh giá tuân thủ điều trị và kỹ thuật sừ dụng các thuốc dạng hít trên bệnh nhân bệnh phổi tắc nghẽn mạn tính tại bệnh viện bạch mai - Pdf 40

MỤC LỤC
DANH MỤC CÁC KÝ HIỆU, CÁC CHỮ VIẾT TẮT
ĐẶT VẤN ĐỀ ………………………………………….. ……………………….……..1
Chương 1. TỔNG QUAN ................................................................................. 3
1.1. Tổng quan về bệnh phổi tắc nghẽn mạn tính (COPD) .............................. 3
1.1.1. Một số đặc điểm về COPD .................................................................. 3
1.1.2. Chẩn đoán và phân loại giai đoạn COPD ............................................ 4
1.2. Tổng quan về sử dụng các thuốc dạng hít trong điều trị COPD .............. 10
1.2.1. Một số thuốc dạng hít thường được sử dụng trong điều trị COPD ... 10
1.2.2. Vai trò của các thuốc dạng hít trong điều trị COPD ......................... 12
1.2.3. Các yếu tố ảnh hưởng đến hiệu quả của các thuốc dạng hít trong điều
trị COPD...................................................................................................... 12
1.2.4. Thực trạng sai sót trong kỹ thuật sử dụng các thuốc dạng hít ........... 14
1.2.5. Các yếu tố liên quan tới kỹ thuật sử dụng các thuốc dạng hít ........... 17
1.3. Tổng quan về tuân thủ điều trị của bệnh nhân COPD ............................. 19
1.3.1. Khái niệm, vai trò và tình hình tuân thủ trong điều trị COPD .......... 19
1.3.2. Các yếu tố ảnh hưởng tới tuân thủ điều trị trong điều trị COPD ...... 20
1.3.3. Các biện pháp đánh giá tuân thủ điều trị COPD ............................... 21
1.3.4. Các nghiên cứu về tuân thủ điều trị COPD ....................................... 22
Chương 2. ĐỐI TƯỢNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU .................. 25
2.1. Đối tượng nghiên cứu .............................................................................. 25
2.2. Phương pháp nghiên cứu ........................................................................ 25
2.2.1. Thiết kế nghiên cứu ........................................................................... 25
2.2.2. Phương pháp đánh giá kỹ thuật sử dụng các dụng cụ hít .................. 25
2.2.3. Phương pháp đánh giá tuân thủ điều trị ............................................ 27
2.2.4. Phân tích các yếu tố liên quan tới tuân thủ và kỹ thuật sử dụng của
nhóm bệnh nhân nghiên cứu ....................................................................... 28






4.2.1. Về tỷ lệ tuân thủ tái khám và lĩnh thuốc ........................................... 49
4.2.2. Về tỷ lệ tuân thủ điều trị theo thang Morisky ................................... 50
4.3. Bàn luận về các yếu tố liên quan tới tuân thủ điều trị và kỹ thuật sử dụng
MDI ................................................................................................................ 51
4.3.1. Về các yếu tố liên quan tới tuân thủ điều trị ..................................... 51
4.3.2. Về các yếu tố liên quan tới kỹ thuật sử dụng MDI ........................... 53
KẾT LUẬN VÀ ĐỀ XUẤT ........................................................................... 55
1. Kết luận....................................................................................................... 55
1.1. Sai sót trong kỹ thuật sử dụng các thuốc dạng hít của bệnh nhân COPD
..................................................................................................................... 55
1.2. Tuân thủ điều trị của bệnh nhân COPD ............................................... 55
1.3. Các yếu tố liên quan đến tuân thủ điều trị và kỹ thuật sử dụng các thuốc
dạng hít của bệnh nhân COPD .................................................................... 56
2. Đề xuất ........................................................................................................ 56




DANH MỤC CÁC KÝ HIỆU, CÁC CHỮ VIẾT TẮT
CAT:
COPD:
DPI:
FVC:
FEV1:
GOLD:
ICS:
LABA:
LAMA:
MDI:

Glucocorticoid dùng theo đường uống
(Oral corticosteroid)
Thuốc chủ vận beta-adrenergic tác dụng nhanh
(Short agonist beta adrenergic)
Thuốc kháng cholinergic tác dụng nhanh
(Short-acting muscarinic antagonist)
Tổ chức y tế thế giới
(World Health Organization)


ĐẶT VẤN ĐỀ
Bệnh phổi tắc nghẽn mạn tính (COPD) đang là gánh nặng y tế, kinh tế và
có xu hướng gia tăng ở nhiều quốc gia, trong đó có Việt Nam. Theo Tổ chức
Y tế Thế giới (WHO), COPD sẽ trở thành nguyên nhân thứ 3 gây tử vong trên
thế giới vào năm 2030 [67]. Ở Việt Nam, một nghiên cứu dịch tễ năm 2010
cho thấy tỷ lệ mắc COPD chiếm tới 2,2% dân số cả nước [5]. Bệnh nhân
COPD thường chiếm 25% số giường bệnh tại khoa hô hấp [4].
Trong phác đồ điều trị COPD, các thuốc dạng hít đóng vai trò quan trọng
do hiệu quả cao và ít tác dụng phụ toàn thân [2],[24]. Mỗi thuốc dạng hít đều
có quy trình sử dụng riêng qua nhiều bước, do đó bệnh nhân cần có kỹ thuật
sử dụng đúng để có hiệu quả tối đa. Tuy nhiên bệnh nhân mắc sai sót khi sử
dụng các dạng thuốc hít hiện nay rất phổ biến. Tỷ lệ mắc lỗi trong kỹ thuật sử
dụng có thể lên tới 90% số bệnh nhân. Sai sót này ảnh hưởng nghiêm trọng
tới hiệu quả điều trị của phác đồ thuốc dạng hít [9].
Bên cạnh kỹ thuật sử dụng các dạng thuốc hít, tuân thủ điều trị là vấn đề
cần đặc biệt quan tâm với bệnh mạn tính như COPD. Vai trò của tuân thủ
điều trị trong COPD đã được chứng minh là giúp tối ưu hoá hiệu quả điều trị,
giảm chi phí điều trị và nâng cao chất lượng cuộc sống cho bệnh nhân
[2],[16],[24]. Tuy nhiên, nhiều nghiên cứu về tuân thủ điều trị của bệnh nhân
COPD cho kết quả không mấy khả quan. Tỷ lệ tuân thủ trong điều trị thực tế


Chương 1. TỔNG QUAN
1.1. Tổng quan về bệnh phổi tắc nghẽn mạn tính (COPD)
1.1.1. Một số đặc điểm về COPD
1.1.1.1. Khái niệm và dịch tễ
Khái niệm bệnh phổi tắc nghẽn mạn tính theo “Hướng dẫn chẩn đoán và
điều trị bệnh phổi tắc nghẽn mạn tính” của Bộ Y tế năm 2015: “Bệnh phổi tắc
nghẽn mạn tính là bệnh lý hô hấp mạn tính có thể dự phòng và điều trị được.
Bệnh đặc trưng bởi sự tắc nghẽn luồng khí thở ra không có khả năng hồi phục
hoàn toàn, sự cản trở thông khí này thường tiến triển từ từ và liên quan đến
phản ứng viêm bất thường của phổi với các hạt bụi hoặc khí độc hại mà trong
đó khói thuốc lá, thuốc lào đóng vai trò hàng đầu” [2].
Hiện nay trên thế giới có 65 triệu người mắc COPD mức độ vừa và nặng
[67]. Theo báo cáo của GOLD năm 2015, trong hầu hết các dữ liệu quốc gia,
có khoảng 6% người trưởng thành bị mắc COPD. Cũng theo báo cáo của
GOLD năm 2015, một tổng quan hệ thống và phân tích tổng hợp các nghiên
cứu được thực hiện tại 28 quốc gia từ năm 1990 đến năm 2004 và một nghiên
cứu khác từ Nhật Bản, cung cấp bằng chứng cho thấy sự phổ biến của COPD
là do hút thuốc và tỷ lệ mắc bệnh ở những người hút thuốc cao hơn đáng kể
so với những người không hút thuốc, ở những người trên 40 tuổi nhiều hơn
những người dưới 40 tuổi và ở nam nhiều hơn so với phụ nữ [24].
Ở Việt Nam, một nghiên cứu cắt ngang thực hiện trên 25000 người lớn
từ 15 tuổi trở lên tại 70 điểm thuộc 48 tỉnh thành phố, đại diện cho dân số
Việt Nam từ tháng 9/2006 đến tháng 6/2007 cho thấy: tỷ lệ mắc COPD chung
toàn quốc ở tất cả các lứa tuổi nghiên cứu là 2,2%, tỷ lệ mắc COPD ở nam là
3,4% và ở nữ là 1,1%. Tỷ lệ mắc COPD ở lứa tuổi trên 40 tuổi là 4,2%, trong
khi ở nhóm dưới 40 tuổi tỷ lệ chỉ là 0,4%. Tỷ lệ mắc COPD ở miền Bắc là
cao nhất 3,1% so với miền Trung là 2,2% và miền Nam là 1,0% [5].

3

các cơ sở y tế có đủ điều kiện để làm các xét nghiệm chẩn đoán xác định.
4



Các yếu tố nguy cơ:
- Hút thuốc lá, thuốc lào.
- Ô nhiễm môi trường trong, ngoài nhà.
- Tiếp xúc khói, khí, bụi nghề nghiệp.
Các dấu hiệu lâm sàng nghi ngờ COPD:
- Khó thở tăng dần.
- Ho kéo dài.
- Khạc đờm mạn tính.
Các xét nghiệm chẩn đoán xác định COPD:
- Đo chức năng thông khí: đây là tiêu chuẩn vàng để chẩn đoán xác định
và đánh giá mức độ nặng COPD. Biểu hiện rối loạn thông khí tắc nghẽn
không hồi phục hoàn toàn sau nghiệm pháp giãn phế quản: chỉ số Gaensler
(FEV/FVC) < 70%; FEV1 không tăng hoặc tăng dưới 12%.
- Xquang phổi: COPD giai đoạn sớm có thể có hình ảnh Xquang bình
thường. Giai đoạn muộn và điển hình có hội chứng phế quản và hình ảnh khí
phế thũng.
- Điện tâm đồ: ở giai đoạn muộn có thể thấy các dấu hiệu của tăng áp
động mạch phổi và suy tim phải.
1.1.2.2. Phân loại mức độ nặng của bệnh COPD
Theo GOLD, phân loại giai đoạn COPD dựa vào các yếu tố sau: mức độ
khó thở xác định bởi thang điểm mMRC (modified Medical Research
Council) và ảnh hưởng của COPD lên cuộc sống bằng thang điểm CAT
(COPD Assessment Test), số đợt cấp phải nhập viện trong năm, chức năng
thông khí. Từ các yếu tố trên bệnh nhân được phân làm 4 giai đoạn A,B,C,D.
Phân loại mức độ khó thở theo thang mMRC được trình bày trong bảng

Khó thể đến mức không thể rời khỏi nhà, khó thở khi thay quần áo

Thang điểm CAT (hình 1.1): gồm 8 câu hỏi, bệnh nhân tự đánh giá mức
độ từ nhẹ tới nặng, mỗi câu đánh giá có 6 mức độ tương ứng với mức điểm từ
0-5.

Hình 1.1. Thang điểm CAT
6



Mức độ tắc nghẽn đường thở dựa theo chức năng thông khí được trình
bày trong bảng 1.2:
Bảng 1.2. Phân loại mức độ tắc nghẽn đường thở
Giai đoạn
I (nhẹ)
II (trung bình)
III (nặng)
IV (rất nặng)

Giá trị FEV1 sau test giãn phế quản
FEV1 ≥ 80% trị số lý thuyết
50 ≤ FEV1 < 80% trị số lý thuyết
30% ≤ FEV1 < 50% trị số lý thuyết
FEV1 < 30% trị số lý thuyết

Mức độ nặng của bệnh COPD được chia thành 4 giai đoạn (A, B, C, D)
trình bày trong hình 1.2:

Hình 1.2. Mức độ nặng COPD theo chức năng thông khí, triệu chứng lâm

trọng để không làm nặng thêm bệnh COPD. Để cai thuốc, việc tư vấn người
bệnh đóng vai trò then chốt và các thuốc hỗ trợ cai giúp người bệnh dễ bỏ
thuốc hơn.
- Tiêm vắc xin phòng nhiễm trùng đường hô hấp
- Phục hồi chức năng hô hấp
1.1.3.3. Biện pháp dùng thuốc

8



Hiện nay mục tiêu chính của việc dùng thuốc trong điều trị COPD là để
kiểm soát triệu chứng và giảm biến chứng, bao gồm cả tần suất và mức độ
nặng của các đợt cấp, cải thiện tình trạng sức khoẻ tổng thể và tăng cường khả
năng hoạt động thể lực của bệnh nhân. Các hướng dẫn điều trị quốc tế khuyến
cáo phương pháp tiếp cận từng bước dựa trên mức độ nặng của bệnh, xác
định dựa trên kết quả đo chức năng hô hấp, tính chất của các triệu chứng
(hình 1.1) [16],[24].
Nên cá thể hoá trong lựa chọn thuốc cho bệnh nhân dựa trên cơ sở: hiệu
quả cao, tác dụng phụ ít, sự sẵn có trên thị trường và khả năng chi trả của
bệnh nhân. Các thuốc giãn phế quản tác dụng kéo dài được ưu tiên dùng hơn
các thuốc tác dụng ngắn, các thuốc giãn phế quản dạng phun hít được khuyến
cáo nhiều hơn các thuốc dạng uống do có hiệu quả cao và ít tác dụng phụ hơn.
Cần kiểm tra việc sử dụng thuốc của bệnh nhân mỗi lần tái khám đặc biệt là
cách sử dụng các dạng thuốc hít.
Lựa chọn thuốc điều trị theo khuyến cáo của GOLD được trình bày trong
bảng 1.3 [2],[24].
Bảng 1.3. Lựa chọn thuốc điều trị COPD theo khuyến cáo của GOLD
Mức
độ

LAMA + LABA

phosphodiesterase 4 +
(SABA và/hoặc SAMA)

9


Theophylin


(ICS + LAMA)
hoặc (ICS + LABA +
LAMA)

D

ICS + (LABA và/hoặc

hoặc (ICS + LABA + ức

LAMA)

chế phosphodiesterase 4)
hoặc (LAMA + LABA)

Carbocystein +
(SABA và/hoặc SAMA) +
Theophylin


MDI [7]. Để khắc phục tình trạng hít không đúng kỹ thuật với MDI, một dụng
hỗ trợ khác được dùng kèm là buồng đệm. Dụng cụ này khi phối hợp với
MDI sẽ giúp bệnh nhân có thể hít thuốc vào phổi nhiều hơn, ít lắng đọng ở
vùng hầu họng hơn mà không cần phải phối hợp chặt chẽ động tác ấn và hít
[40]. Một vấn đề cần lưu ý khi sử dụng MDI là hiệu ứng gây lạnh (coldFreon) gây ra do thuốc tác động trực tiếp vào thành sau họng. Khi gặp hiệu
ứng này, bệnh nhân có phản xạ ngưng thở làm cho dòng khí hít vào không
liên tục. Hiệu ứng này giảm hơn khi thay khí đẩy từ CFC sang HFA [22].
Dạng ống hít bột khô (DPI):
Có nhiều dạng ống hít bột khô trên thị trường và phổ biến nhất là các
loại turbuhaler, accuhaler và handihaler. Loại ống hít turbuhaler là dạng ống
hít có chứa bột khô với tất cả các liều thuốc được chứa trong cùng một bồn
chứa, loại accuhaler thì các liều thuốc bột được đóng gói riêng lẻ (từng liều
một) và cũng được sắp xếp bên trong dụng cụ hít còn handihaler là dụng cụ
không chứa thuốc, mỗi khi bệnh nhân cần hít thuốc thì họ phải bỏ thuốc viên
từ bên ngoài vào dụng cụ để hít. Ưu điểm của DPI so với MDI là hạt thuốc
được tạo ra do lực hút của bệnh nhân, do vậy dụng cụ này không cần chất đẩy
thuốc nên không bị hiệu ứng ‘cold-Freon’ và cũng không cần sự phối hợp
động tác ấn và hít của bệnh nhân. Tuy nhiên, vì hạt thuốc được tách ra và
thuốc được đưa ra khỏi dụng cụ dựa vào lực hít của bệnh nhân nên có thể một
số bệnh nhân không hít được thuốc hay hít thuốc không đúng kỹ thuật. Với
cùng một lưu lượng đỉnh, người hít nhanh mạnh ngay từ đầu (đạt lưu lượng
đỉnh ngay từ đầu) sẽ tạo năng lượng xoáy tốt hơn và đưa thuốc vào đường hô
hấp tốt hơn người hít mạnh từ từ và đạt lưu lượng đỉnh ở nửa cuối của thì hít
vào [33]. Một tổng quan các nghiên cứu cho thấy có khoảng 4-94% bệnh
nhân không hít đúng kỹ thuật khi sử dụng DPI. Sai sót thường gặp nhất là
11



không thở ra trước khi hít vào, không nín thở sau khi hít vào, đặt dụng cụ sai


độ càng giảm, cho đến khi gia tốc không thắng nổi trọng lực thì phân tử thuốc
sẽ lắng đọng. Còn lại những phân tử do kích thước quá nhỏ, trọng lượng thấp
sẽ di chuyển sâu vào các phế quản tận hay phế nang và chuyển động hỗn loạn
theo chuyển động Brown. Tại đây, một số hạt sẽ dính vào niêm mạc đường hô
hấp do va chạm, số còn lại bị đưa ra khỏi đường hô hấp khi bệnh nhân thở ra
[10],[41].
Như vậy hiệu quả của các thuốc dạng hít sẽ phụ thuộc vào kích thước
tiểu phân thuốc, lực hít và cách hít của bệnh nhân.
Kích thước tiểu phân thuốc:
Những hạt có kích thước 5µm có xu hướng lắng đọng ở vùng hầu họng
[10],[20]. Do vậy một dụng cụ được cho là tốt khi tạo ra phần lớn các hạt
thuốc có kích thước nhỏ (1-5 µm) vì những hạt này sẽ có cơ hội đi vào những
vùng chứa các thụ thể tiếp nhận thuốc.
Lực hít của bệnh nhân:
Với MDI, nếu hít vào nhanh sẽ làm tăng lực quán tính của tiểu phân
thuốc nên làm tăng nguy cơ lắng đọng thuốc ở vùng hầu họng và giảm khả
năng thuốc đi sâu vào đường dẫn khí ngoại biên. Một nghiên cứu thực nghiệm
trên mô hình (phổi nhân tạo) cho thấy khi tăng lưu lượng hít vào từ 30 lên 180
l/p thì số lượng thuốc lắng đọng trong phổi giảm đi một phần ba [11].
Với DPI, do thuốc không tự ra khỏi bình thuốc nên bệnh nhân cần hít
mạnh để lấy thuốc ra khỏi bình. Ngoài ra, sự phối hợp giữa lực hít của bệnh
nhân và kháng lực của dụng cụ hít (mỗi dụng cụ đều có một kháng lực cản trở
luồng khí hít vào của bệnh nhân) sẽ tạo ra một năng lượng xoáy bên trong
dụng cụ. Năng lượng này sẽ giúp tách hạt thuốc ra khỏi chất chuyên chở
(thường là đường lactose – nên một số bệnh nhân cảm nhận được vị ngọt khi
13

Chaicharn Pothirat và cộng sự (2015) đã tiến hành một nghiên cứu cắt
14



ngang từ tháng 3/2013 đến tháng 2/2014 tại phòng khám ngoại trú lồng ngực
thuộc Bệnh viện Đại học Chiang Mai ở Thái Lan. Nghiên cứu đánh giá kỹ
thuật sử dụng các thuốc dạng hít của các bệnh nhân COPD trên bốn loại dụng
cụ: MDI, MDI có kèm buồng đệm, Accuhaler và Handihaler. Đối tượng
nghiên cứu là những bệnh nhân được chẩn đoán mắc COPD giai đoạn ổn
định, đã dùng một trong bốn dụng cụ nói trên trong hơn ba tháng tính tới thời
điểm nghiên cứu và chỉ nhận được chỉ dẫn bằng lời về kỹ thuật đúng từ dược
sỹ của mình. Bệnh nhân đến khám tại phòng khám và được đánh giá kỹ thuật
hít bởi một y tá chuyên khoa hô hấp trước khi gặp bác sỹ. Bệnh nhân thao tác
trên mô hình giả dược kết hợp với lời nói tương ứng với từng bước thực hiện,
y tá sẽ đánh giá kỹ thuật hít của bệnh nhân dựa trên một bảng kiểm (xây dựng
dựa trên các nghiên cứu trước đó và khuyến nghị từ các nhà cung cấp). Sau
đó, bệnh nhân được hướng dẫn thực hiện đúng kỹ thuật theo hình thức đào tạo
mặt-đối-mặt (face-to-face) và được đánh giá lại kỹ thuật sau một tháng. Kết
quả: có 200 quan sát kỹ thuật hít đã được thực hiện trên 103 bệnh nhân
COPD, trong đó 74,8% bệnh nhân thực hiện ít nhất một bước không chính
xác cho tất cả các thiết bị. MDI là dụng cụ có tỷ lệ bệnh nhân mắc sai sót cao
nhất (77,3%) với các bước thường mắc lỗi là “thở ra hết sức” và “lắc hộp
thuốc”. Nghiên cứu sử dụng mô hình hồi quy để phân tích các yếu tố liên
quan đến kỹ thuật hít của bệnh nhân. Mô hình đơn biến đã chỉ ra ba yếu tố có
nguy cơ ảnh hưởng đến kỹ thuật hít của bệnh nhân là: tuổi, trình độ học vấn
và điểm CAT. Nhưng chỉ duy nhất yếu tố học vấn cho thấy sự ảnh hưởng có ý
nghĩa thống kê lên kỹ thuật hít của bệnh nhân trong mô hình hồi quy đa biến,
cụ thể bệnh nhân có trình độ học vấn càng cao thì khả năng mắc sai sót trong
kỹ thuật hít càng thấp. Hình thức đào tạo mặt-đối-mặt làm giảm đáng kể tỷ lệ

tháng 10 năm 2010 đến tháng 4 năm 2011. Những bệnh nhân nhập viện với
chẩn đoán COPD, đã sử dụng các thuốc dạng hít ít nhất một tháng trước khi
nhập viện được tham gia nghiên cứu. Bảng kiểm được xây dựng dựa trên các
dạng thuốc hít có sẵn ở Canada: MDI, MDI có kèm buồng đệm, Turbuhaler,
Diskus và Handihaler. Với mỗi dụng cụ, bảng kiểm gồm từ 7-9 bước, được
16



xây dựng dựa trên những công bố trước đó và các khuyến nghị từ nhà sản
xuất. Dựa trên các nghiên cứu trước đó, một số bước được xác định là bước
quan trọng, là các bước mà nếu thao tác sai sẽ có rất ít hoặc không có thuốc
vào được phổi[64]. Bệnh nhân được yêu cầu thao tác trên mô hình và kỹ thuật
hít được ghi nhận, đánh giá dựa trên bảng kiểm đã được xây dựng. Kết quả:
37 bệnh nhân (tuổi trung bình là 78) đủ điều kiện tham gia vào nghiên cứu.
Trong đó, 59% bệnh nhân đã mắc ít nhất một lỗi nghiêm trọng và 26% bệnh
nhân mắc sai sót trong tất cả các bước khi thực hiện kỹ thuật hít [32].
Andrea S. Melani và cộng sự (2008) đã thực hiện một nghiên cứu cắt
ngang, quan sát ở 24 phòng khám chuyên khoa lồng ngực trên toàn nước Ý.
Các bệnh nhân ngoại trú trên 14 tuổi thường xuyên sử dụng thuốc dạng hít (ít
nhất một lần mỗi ngày trong 4 tuần trong vòng 3 tháng trước khi tham gia
nghiên cứu) được lựa chọn. Mỗi phòng khám có một chuyên gia được đào tạo
sẽ hỏi bệnh nhân bảng câu hỏi gồm các thông tin chung và các thông tin riêng
về việc sử dụng các thuốc dạng hít, bệnh nhân cũng được yêu cầu thực hiện
lại thao tác hít với mô hình giống với thiết bị họ vẫn thường sử dụng ở nhà.
Các chuyên gia sẽ họp định kỳ và phân tích kết quả tập trung vào các lỗi quan
trọng mà bệnh nhân mắc phải. Kết quả: 2288 quan sát kỹ thuật hít đã được
ghi nhận trên 1633 bệnh nhân, tỷ lệ bệnh nhân mắc ít nhất một lỗi nghiêm
trọng lần lượt là 12%, 34,5%, 35%, 43,5% tương ứng với các thiết bị MDI,
Diskus, Handihaler và Turbuhaler. Nghiên cứu cũng dùng các mô hình hồi

thuật hít. Joshua Batterink và cộng sự đã chỉ ra bệnh nhân dùng các bình xịt
định liều (MDI) thường gặp sai sót hơn so với các dụng cụ khác như
Turbuhaler hay Handihaler [32]. Ngoài ra, sự giáo dục và hướng dẫn bệnh
nhân sử dụng dụng cụ hít cũng có liên quan tới kỹ thuật sử dụng dụng cụ hít
của bệnh nhân. Bệnh nhân nhận được sự hướng dẫn sử dụng dụng cụ hít từ
nhân viên y tế sẽ có kỹ thuật tốt hơn so với tự học [46]. Hình thức đào tạo
mặt-đối-mặt làm giảm đáng kể tỷ lệ bệnh nhân mắc sai sót trong kỹ thuật hít
[12].

18



1.3. Tổng quan về tuân thủ điều trị của bệnh nhân COPD
1.3.1. Khái niệm, vai trò và tình hình tuân thủ trong điều trị COPD
Theo định nghĩa của Tổ chức Y tế Thế giới: Tuân thủ điều trị
(medication adherence) là từ để chỉ mức độ hành vi của người bệnh trong việc
thực hiện đúng các khuyến cáo đã được thống nhất giữa người đó và thầy
thuốc bao gồm sử dụng thuốc, thay đổi chế độ ăn và/hoặc thay đổi lối sống.
Định nghĩa này nhấn mạnh vai trò chủ động của người bệnh trong việc phòng
và điều trị bệnh cho bản thân [68]. COPD là bệnh mạn tính, bệnh nhân phải
dùng thuốc lâu dài nên các hướng dẫn điều trị COPD đều yêu cầu bệnh nhân
phải tuân thủ điều trị để tối ưu hoá hiệu quả điều trị, giảm chi phí điều trị và
nâng cao chất lượng cuộc sống cho bệnh nhân [2],[16],[24]. Một nghiên cứu
về tuân thủ điều trị trên 4880 bệnh nhân COPD (trên 40 tuổi) đã chứng minh
việc không tuân thủ điều trị dẫn tới tăng tỷ lệ tử vong và tỷ lệ nhập viện [65].
Không tuân thủ điều trị trong bệnh hô hấp mạn tính gây thiệt hại nhiều về
kinh tế do phải tăng cường các nguồn lực y tế khi bệnh không được kiểm soát
tốt. Một nghiên cứu khác trên 33816 bệnh nhân COPD sử dụng thuốc theo
đơn đã chỉ ra các bệnh nhân tuân thủ điều trị có tỷ lệ nhập viện thấp hơn và

thuốc uống có tỷ lệ tuân thủ cao hơn so với các thuốc dạng hít [29],[62].
Ngoài ra, tác dụng phụ và giá cả của thuốc cũng là yếu tố quan trọng ảnh
hưởng tới tuân thủ của bệnh nhân [8],[23].
Các yếu tố thuộc về bệnh nhân có thể liên quan tới tuân thủ điều trị bao
gồm tuổi, bệnh mắc kèm, kỹ thuật hít và nhận thức của bệnh nhân. Đối với
các bệnh mãn tính, tuân thủ thường tốt hơn ở người già [48]. Tuy nhiên tuổi
càng cao thì càng nhiều bệnh mắc kèm và lượng thuốc phải dùng càng nhiều.
Bệnh nhân có nhiều bệnh mắc kèm, phải dùng nhiều thuốc cũng là một yếu tố
có thể dẫn tới bệnh nhân bỏ qua liều, giảm tuân thủ điều trị [66]. Bệnh nhân
mắc sai sót trong kỹ thuật sử dụng thuốc dạng hít làm giảm hiệu quả sử dụng
thuốc và tuân thủ điều trị [36]. Tuân thủ cũng bị ảnh hưởng bởi nhận thức của
bệnh nhân về căn bệnh này. Bệnh nhân có thể ngừng điều trị khi không còn
thấy xuất hiện các triệu chứng lâm sàng [15]. Niềm tin, kinh nghiệm và thói
20



quen cũng tạo ra sự khác biệt đáng kể về mức độ tuân thủ giữa các bệnh nhân
[23],[55].
Ngoài ra, các yếu tố xã hội như sự giúp đỡ từ cộng đồng, mối quan hệ
bệnh nhân và cán bộ y tế cũng đã được chỉ ra có liên quan tới tuân thủ điều trị
bệnh lý này [23],[30],[37]. Tư vấn thường xuyên, giải thích về bệnh và
phương pháp điều trị, theo dõi giám sát bệnh nhân liên tục đã được chứng
minh là các biện pháp giúp cải thiện tuân thủ điều trị [62].
1.3.3. Các biện pháp đánh giá tuân thủ điều trị COPD
Có một số biện pháp để đánh giá tuân thủ điều trị của bệnh nhân COPD,
mỗi phương pháp đều có những ưu điểm và hạn chế riêng. Các biện pháp
được áp dụng hiện nay chia làm 2 loại: đánh giá chủ quan và đánh giá khách
quan.
Các biện pháp đánh giá khách quan bao gồm đếm liều dùng, quan sát


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status