SÁNG KIẾN KINH NGHIỆM
ĐỀ TÀI:
"MỘT VÀI SUY NGHĨ GÓP PHẦN DẠY TỐT VỀ XUÂN DIỆU
TRONG CHƢƠNG TRÌNH NGỮ VĂN 11"
1
Phần 1: Mục đích, lí do chọn đề tài
Bài giảng về xuân diêu trong chương trình ngữ văn lớp 11 gồm có bài học về tác gia
Xuân Diệu và văn bản Vội vàng.Để giúp cho việc dạy tốt những vấn đề thuộc về phong
cách tác giả xuân diệu, chúng tôi xin trình bày một số vấn đề cơ bản sau đây:
- Vai trò của cái tôi đối với quá trình sáng tác thơ Xuân Diệu trước năm 1945.
- Những cách tân nghệ thuật về thiên nhiên trong Thơ thơ và “Gửi hương cho gió”.
- Đặc điểm thời gian nghệ thuật trong thơ Xuân Diệu trước cách mạng tháng 8 (Có so
sánh với các tác giả khác thuộc trào lưu phong trào thơ mới)
- Quan niệm sống và triết lí thời gian của Xuân Diệu qua 4 câu thơ nổi tiếng trong bài
Giục giã
Phần 2: Phƣơng pháp nghiên cứu.
.1 Phương pháp hệ thống
.2 Phương pháp thống kê.
2
3 Phương pháp so sánh
.4 Các phương pháp hỗ trợ khác.
Phần 3: Nội dung trình bày
- Tôi là con chim đến từ núi lạ
-
Tôi là con nai bị chiều giăng lưới
-
Tôi là một kẻ điên cuồng
4
-
Tôi khờ khạo quá ngu ngơ quá.
Cái tôi được Xuân Diệu đẩy lên ở vị trí cao nhất, có thể xưng “ta” trong một bản ngã đầy
quyền uy.
“Hỡi xuân hồng ta muốn cắn vào ngươi”
Các nhà thơ khác cũng xưng “ta” như Vũ Hoàng Chương là chữ ta phiêu bạt, còn Thế Lữ
là chữ “ta” xa cách lạnh lùng, và Chế Lan Viên là chữ “ta” trang trọng. Với Xuân Diệu
ta chính là tôi: ta là một là riêng là thứ nhất.
Vai trò của cái tôi chi phối hết sức quan trọng đến sáng tác của Xuân Diệu. Cái tôi là tâm
điểm nghệ thuật, nó vừa quyết định chỗ đứng, điểm nhìn trước cuộc đời, vừa thể hiện
quan niệm sáng tác của Xuân Diệu. Xuân Diệu là người chủ trương sống hưởng thụ, sống
gấp gáp, Xuân Diệu là nhà thơ trần gian ham sống, ham yêu. Tình yêu của Xuân Diệu
vừa có ý niệm con người trần tục lại vừa mang ý tưởng thánh thiện, huyền ảo. Sự kết hợp
cái trần tục và khát vọng ấy đã khiến cho Xuân Diệu trở thành ông hoàng thơ tình.
“Nếu tôi có làm tiên thì chỉ làm một hai ngày tôi sẽ rủ tiên ông, tiên bà xuống trần gian
để phạm tội”. Xuân Diệu yêu hết mình, cảm thấy bất lực với thời gian. Xuân Diệu yêu
mới và nhất là Xuân Diệu đã tạo nên những bức tranh thiên nhiên đẹp, dù vui hay buồn
nhưng bao giờ cũng nhuốm đầy tâm trạng và màu sắc cá thể hoá rõ rệt. Hai tập “Thơ thơ”
và “Gửi hương cho gió” của Xuân Diệu qua hình ảnh thiên nhiên đã mang đến một thế
giới tâm hồn và khả năng cảm thụ riêng của Xuân Diệu.
Xuân Diệu là nhà thơ yêu thiên nhiên tha thiết , là nhà thơ “say đắm cảnh trời” với tuyên
ngôn say đắm bắt nguồn từ thiên nhiên:
“Là thi sĩ nghĩa là ru với gió
Mơ theo trăng và vơ vẩn cùng mây
“Không có cánh nhưng vẫn thèm bay bổng
Đi trong sân mà nhớ chuyện trên trời
Trút ngàn năm trong một phút chơi vơi
Ngắm phong cảnh giữa hai bề lá cỏ”
(Cảm xúc)
7
Trong nền cảm xúc lãng mạn và hiện đại của thơ mới khi viết về mùa xuân, Xuân Diệu có
một lối cách tân táo bạo, bất ngờ với “Nụ cười xuân”, “Xuân đầu”, “Xuân rụng”, ông đã
tạo ra vẻ tươi tắn về màu sắc, rộn rã về âm thanh, hài hoà và tình tứ như một nụ cười duyên:
“cánh hồng kết những nụ cười tươi” (Nụ cười Xuân). Mùa xuân chính là ý xuân để so với
lòng mình, xuân của Xuân Diệu đồng nghĩa với lòng người, với tình cảm tươi trẻ:
“Từ lúc yêu nhau hoa nở mãi
Trong vườn thơm ngát của hồn tôi”
(Nguyên Đán)
Mùa xuân là hình ảnh gắn với những rung động đầu đời của tình yêu tuổi trẻ:
“Hỡi xuân hồng ta muốn cắn vào ngươi”
“Tháng giêng ngon như một cặp môi gần”
(Vội Vàng)
thơ” có 18/47 bài, ở “Gửi hương cho gió” có 17/57 bài viết về thiên nhiên. Ngoài những
hình tượng lớn đã nói ở trên, Xuân Diệu còn có rất nhiều những sáng tạo cách tân về hoa,
hương, cây, lá, gió, sương, mưa…
“Nõn nà sương ngọc quanh thềm đậu
Nắng nhỏ bâng khuâng chiều lỡ thì”
Cách khám phá của Xuân Diệu rất mới, kiểu “lai Tây” hết mình như là:
“Gió vừa chạy vừa rên vừa tắt thở”
“Gió canh khuya hay nghìn ngón tay ôm”
“Sương nương theo trăng ngừng lưng trời ”
“Hoa bưởi thơm rồi đêm đã khuya”.
Xuân Diệu có cảm giác đặc biệt tinh tế, giao cảm, tương giao, thiên nhiên ở đây chính là
con người trần gian ở những điểm mút của xúc cảm vĩnh viễn.
Điều đáng chú ý nhất là: Là một tâm hồn khao khát tình yêu nên Xuân Diệu luôn tiếp cận
thiên nhiên qua lăng kính ái ân. Nhà thơ thường mang cái cảm xúc trẻ trung, sôi nổi của
tâm hồn mình trải lên cảnh vật. Ông nhìn thấy trong sắc nắng mùa xuân những hồi hộp
xao xuyến của tình yêu ngây thơ, non trẻ.
10
“Ánh sáng ôm trùm những ngọn cao
Cây vàng rung nắng lá xôn xao
Gió thơm phơ phất bay vô ý
Đem đụng cành mai sát nhánh đào”.
(Nụ cười xuân)
Chỉ có Xuân Diệu mới có cái nhìn trần thế.
“Tháng giêng ngon như một cặp môi gần”
Với Xuân Diệu, thiên nhiên đã trở thành nguồn ân ái, một kho tài sản vô tận để con người
tìm đến và thoả mãn những cảm xúc yêu đương.
Là một hồn thơ nhạy cảm, tinh tế, Xuân Diệu đã cảm nhận thiên nhiên bằng nhiều các
qua 2 tập thơ của Xuân Diệu trước 1945 và ngay cả với phong trào thơ mới lúc bấy giờ,
thời gian trong thơ của Xuân Diệu cũng có những điểm mới riêng biệt và độc đáo.
Trước hết, cần phân biệt hai phạm trù thời gian khác nhau trong thơ Xuân Diệu: Thứ
nhất, là quan niệm về thời gian như một bộ phận quan trọng cấu thành hệ thống quan
điểm về vũ trụ, nhân sinh của nhà thơ. Thứ hai, phạm trù thời gian đã được xử lí như một
yếu tố hình thức để kiến tạo nên tác phẩm.
Xuân Diệu nhạy cảm và tâm đắc với phạm trù “Không – Thời gian”, ông đàm đạo trực
tiếp về thời gian, đồng thời qua đó khái quát thành những tư tưởng mang ý nghĩa triết
học: Đó là các bài: “Thời gian”, “Gió tàn”, “Hết ngày hết tháng”… Cái cốt lõi của các
bài thơ trên là quan niệm về một dòng thời gian – dòng đời – luôn chuyển động và thay
đổi không ngừng. Có thể coi bài “Thời gian” là phát ngôn cho cảm thức thời gian của
Xuân Diệu.
“Dưới thuyền nước trôi
Trên nước thuyền chuồi
Và nước và thuyền
Xuôi dòng đi xuôi”.
13
Xuân Diệu luôn nhìn thấy sự đối lập nghiệt ngã giữa thời gian vô tận của vũ trụ và thời
gian quá ngắn ngủi của kiếp người, ông sáng tạo hình ảnh “ngọn gió thời gian” với
chuyển động tàn nhẫn, sức tàn phá “khô héo”, “rụng rời”.
“Và giữa vườn im hoa run, sợ hãi
Bao nỗi phôi pha, khô héo, rụng rời”.
(Tiếng gió)
Càng yêu cuộc sống tha thiết, Xuân Diệu càng thấy nhịp thời gian trôi chóng mặt, chưa
có nhà thơ nào luyến tiếc thời gian đến xót xa như Xuân Diệu: Thời gian cứ thế mà “đi”,
“cứ thế mà bay” “những ngày, những tháng”… Vì vậy trong niềm say sưa bồng bột trước
cuộc đời, tình yêu, sự hiện hữu của thời gian khiến ông chưa bao giờ bình thản: “Mau với
Xuyên suốt thơ Xuân Diệu trước 1945 là ngọn gió thời gian, chất xúc tác kì diệu, tạo nên
nồng độ đắm đuối mà chỉ có tâm hồn nuối tiếc từng giọt thời gian như ông mới có được.
Xuân Diệu là người duy nhất trong phong trào thơ mới đề xuất thời gian với tư cách là
phạm trù triết học trong thơ.
Tuy nhiên, tìm hiểu thời gian nghệ thuật cần khám phá thơ Xuân Diệu ở cả hai phía: Nội
dung cảm hứng và hình thức nghệ thuật. Vì vâỵ, sự tiếp cận thời gian nghệ thuật từ phía
nội dung cảm hứng là cần thiết bởi từ đó chúng ta có thể đi vào tìm hiểu thế giới thời gian
trong thơ ông với tư cách là một thao tác thuộc về hình thức nghệ thuật.
Thời gian trong nghệ thuật thường có ba dòng: Quá khứ, hiện tại, tương lai. Mỗi khuynh
hướng nghệ thuật có cách lựa chọn thời gian riêng biệt.
Phần lớn các nhà thơ lãng mạn Việt Nam giai đoạn 1930 – 1945 lựa chọn thời gian quá
khứ như Thế Lữ, Lưu Trọng Lưu, Chế Lan Viên, Nguyễn Nhược Pháp, Vũ Đình Liên...
thì Xuân Diệu, nhà thơ mới nhất, đỉnh cao của thơ lãng mạn lại say sưa với thời gian hiện
tại. Xuân Diệu dù viết về ngày xưa hay ngày sau thì chủ ý vẫn là nói về thời đang sống.
Xuân Diệu luôn tìm cách thuyết phục lối sống cho hôm nay, luôn sợ ngày mai, không
giống Chế Lan Viên thích tìm về quá khứ. Xuân Diệu luôn nói về ý nghĩa của hiện tại:
“Cần chi biết ngày mai hay bữa trước
Gần hôm nay thì yêu dấu là nên…
16
Gặp nhau đây ai biếy tự thuở nào
Xa nhau nữa ai đoán ngày tái hội…
“Yêu đi em anh rất sợ ngày mai”.
Và cuối cùng, Xuân Diệu nói về những “Khoảnh khắc” sau khi đi hết vòng thời gian của
năm tháng, cuộc đời, chịu đựng nhiều tổn thương tinh thần do những “cú xốc” thời gian
gây nên. Vì biết cuộc đời đi theo phút giây nên ông “độc chiếm” những khoảnh khắc:
điểm hội tụ của sự sống, tình yêu: một phút, một giây, một chớp, một thoáng, một chút…
tận, 69 năm, chưa một ngày thi sĩ sống trong tuổi già.
18
Bàn về Xuân Diệu và phạm trù thời gian trong thơ ông, quả là một vấn đề lớn và đa dạng,
phong phú. Bài viết nhỏ này chỉ xin nói đôi điều về quan niệm sống và triết lí thời gian
Xuân Diệu trong một khổ thơ 4 câu của bài “Giục giã” nổi tiếng từ trước năm 1945:
“Hái một mùa hoa lá thuở măng tơ
Đốt muôn nến sánh mặt trời chói lói
Thà một phút huy hoàng rồi chợt tối
Còn hơn buồn le lói suốt trăm năm”.
(Giục giã - Xuân Diệu)
Thơ chính là con người, mà tư tưởng bao trùm của mỗi nhà thơ chính là quan niệm nhân
sinh được nói trong thơ. Xuân Diệu là người có một quan niệm sống đặc biệt, không phải
quan niệm sống của Xuân Diệu bao giờ và lúc nào cũng được dư luận chấp thuật và đồng
tình. Hoài Thanh ngay từ trước 1945 đã chỉ ra trong thơ ông là một nguồn sống dồi dào
chưa từng thấy ở chốn nước non lặng lẽ này.
Nhưng sau đó, vào thời cách mạng sau 1945 trở đi, có nhiều ý kiến đã gọi thơ mới lãng
mạn là tiểu tư sản, là thứ “nấm độc, nấm lạ” về tư tưởng. Họ đã kết tội Xuân Diệu là nhà
thơ của lí tưởng cá nhân hưởng thụ.
19
Do vậy, câu thơ này được xem là quan niệm sống “hưởng thụ tiêu cực” của Xuân Diệu,
làm “ảnh hưởng đến đời sống cách mạng” nói chung.
Thực ra, đó là hạn chế của tư tưởng một thời, ấu trĩ, giáo điều. Những năm sau đó, Xuân
Diệu được nhìn nhận khách quan hơn, nhiều nhà nghiên cứu, nhà khoa học đã đánh giá
cao quan niệm sống này của Xuân Diệu.
Người được xem là tiên phong trong việc phát hiện và định giá về Xuân Diệu đó là giáo
thời gian:
“Thà một phút huy hoàng rồi chợt tối
Còn hơn buồn le lói suốt trăm năm”.
21
Vấn đề thời gian cũng là một phạm trù mang tính triết lí trong thơ Xuân Diệu, tuyên ngôn
về thời gian chính là quan niệm sống vội vàng, gấp gáp để chống lại thời gian.
Người xưa quan niệm thời gian là vô tận, chu kì. Thời gian của Xuân Diệu là một đi
không trở lại. Mĩ học trung đại có vấn đề “phi thời gian”, còn mĩ học của Xuân Diệu là
“thời gian trôi nhanh mất đi từng giây từng phút”.
Bởi vậy trong Giục giã, đúng như nhan đề Xuân Diệu thúc dục tuổi trẻ hãy sống nhanh
lên, khẩn trương lên, sống gấp gáp để tận hưởng lạc thú tình yêu và tuổi trẻ. Xuân Diệu
hái hoa lá măng tơ, hướng về ánh mặt trời, Xuân Diệu thà sống một phút nhân văn còn
hơn cả trăm năm phi nhân bản. Thời gian ở đây “một phút” chính là khẳng định lối sống
thực dụng, đón trước thời gian.
“Giục giã” của Xuân Diệu trong đoạn thơ này chính là hối thúc mình và mọi người hãy
sống khẩn trương cho trọn vẹn niềm vui tuổi trẻ, cuộc đời, thời gian luôn mất đi, không
đợi, chúng ta hãy triệt để tiết kiệm từng phút giây để có ý nghĩa khi ta được góp mặt nơi
cõi sống .
22
Bài học về quan niệm sống có ý nghĩa và tiết kiệm thời gian của Xuân Diệu từ trước 1945
thiết nghĩ vẫn còn nguyên giá trị cho mỗi người chúng ta hôm nay.
Phần 4: Kết luận