SÁNG KIẾN KINH NGHIỆM
ĐỀ TÀI:
"MỘT VÀI SUY NGHĨ GÓP PHẦN DẠY TỐT VỀ XUÂN DIỆU
TRONG CHƯƠNG TRÌNH NGỮ VĂN 11"
1
Phần 1: Mục đích, lí do chọn đề tài
Bài giảng về xuân diêu trong chương trình ngữ văn lớp 11 gồm có bài học về tác gia
Xuân Diệu và văn bản Vội vàng.Để giúp cho việc dạy tốt những vấn đề thuộc về phong
cách tác giả xuân diệu, chúng tôi xin trình bày một số vấn đề cơ bản sau đây:
- Vai trò của cái tôi đối với quá trình sáng tác thơ Xuân Diệu trước năm 1945.
- Những cách tân nghệ thuật về thiên nhiên trong Thơ thơ và “Gửi hương cho gió”.
- Đặc điểm thời gian nghệ thuật trong thơ Xuân Diệu trước cách mạng tháng 8 (Có so
sánh với các tác giả khác thuộc trào lưu phong trào thơ mới)
- Quan niệm sống và triết lí thời gian của Xuân Diệu qua 4 câu thơ nổi tiếng trong bài
Giục giã
Phần 2: Phương pháp nghiên cứu.
.1 Phương pháp hệ thống
.2 Phương pháp thống kê.
3 Phương pháp so sánh
.4 Các phương pháp hỗ trợ khác.
Phần 3: Nội dung trình bày
2
1. Vai trò của cái tôi đối với quá trình sáng tác thơ Xuân Diệu trước 1945.
Cái tôi trữ tình là sự thể hiện con người của nhà thơ. Thơ ca muôn đời vẫn là sự bộc lộ
cảm xúc của người cầm bút. Tuy nhiên ở mỗi thời kì , mỗi trào lưu sáng tác lại có sự
khám phá, phản ánh khác nhau về cái tôi sáng tạo.
Trong thời kì trung đại cái tôi mờ nhạt, chủ thể ẩn do ảnh hưởng chi phối bởi quan niệm
“thi ngôn chí” “văn dĩ tải đạo”, nên đã lấn át bản ngã thi ca. Thời trung đại là “vô ngã”,
“phi ngã”, các nhà thơ như Nguyễn Du, Hồ Xuân Hương, Nguyễn Công Trứ đã có lúc
“loé” lên cái tôi cá nhân nhưng dù sao vẫn là nằm trong quy luật của một thời kì văn học.
Đến thời kì hiện đại do ảnh hưởng của văn hoá phương Tây cho nên thơ Việt Nam đã
quan niệm sáng tác của Xuân Diệu. Xuân Diệu là người chủ trương sống hưởng thụ, sống
gấp gáp, Xuân Diệu là nhà thơ trần gian ham sống, ham yêu. Tình yêu của Xuân Diệu
vừa có ý niệm con người trần tục lại vừa mang ý tưởng thánh thiện, huyền ảo. Sự kết hợp
cái trần tục và khát vọng ấy đã khiến cho Xuân Diệu trở thành ông hoàng thơ tình.
“Nếu tôi có làm tiên thì chỉ làm một hai ngày tôi sẽ rủ tiên ông, tiên bà xuống trần gian
để phạm tội”. Xuân Diệu yêu hết mình, cảm thấy bất lực với thời gian. Xuân Diệu yêu
4
đời tột cùng say đắm nhưng cũng có lúc bơ vơ, tuyệt vọng: Cơm áo không đùa với khách
thơ. Xuất thân từ Bình Định nhưng thơ Xuân Diệu không tìm màu siêu thoát, ảo giác, ông
tìm cái đẹp ở ngay cuộc sống trần gian, đời thường. Cái tôi đồng nghĩa với quan niệm
sáng tác, ông có đầy đủ phát ngôn từ Thơ thơ quan điểm riêng của mình về cái đẹp.
“Là thi sĩ nghĩa là ru với gió
Mơ theo trăng và vơ vẩn cùng mây
Để tâm hồn ràng buộc với muôn dây”.
Tóm lại: Những quan niệm mới mẻ, tích cực về cái tôi, cái bản ngã trên đây của Xuân
Diệu đã quyết định chỗ đứng và điểm nhìn của nhà thơ trước cuộc đời. Quan niệm về cái
tôi và ý thức về sự tồn tại cá nhân không chỉ quyết định chỗ đứng và điểm nhìn của nhà
thơ trước cuộc đời mà còn chi phối đến hệ thống quan niệm nghệ thuật của Xuân Diệu.
2: Những cách tân nghệ thuật về thiên nhiên trong “Thơ thơ” và “Gửi hương cho
gió”.
Đọc thơ Xuân Diệu trước năm 1945 chúng ta nhất trí đó là thơ cách tân hiện đại, thơ của
một trí thức Tây học, bên cạnh những ảnh hưởng từ tinh hoa thơ Đường, thơ dân tộc
truyền thống, Xuân Diệu là nhà cách tân nghệ thuật bậc nhất của thơ mới.
Điều này được thể hiện qua hình ảnh thiên nhiên trong hai tập “Thơ thơ” và “Gửi hương
cho gió”.
Thiên nhiên là cảm xúc vô tận của thi ca. Nhưng trong thơ truyền thống, thiên nhiên chỉ
hiện lên bằng hình ảnh tĩnh tại. Trong thơ hiện đại từ đầu thế kỷ XX trở đi nhất là phong
trào thơ mới 1932 – 1942, thiên nhiên thật sự là tâm trạng, là cảm xúc của thi nhân. Thơ
mới và nhất là Xuân Diệu đã tạo nên những bức tranh thiên nhiên đẹp, dù vui hay buồn
5
Tóc buồn buông xuống lệ ngàn hàng
Đây mùa thu tới mùa thu tới
Với áo mơ phai dệt là vàng”
(Đây mùa thu tới)
Cảm xúc cô đơn, đau thương để khát khao được ấm lạnh, được kết đôi, thành đôi, để bớt bơ
vơ cô độc chính là gương mặt mùa thu của Xuân Diệu.
Cùng với thu là trăng, một đề tài truyền thống nhưng Xuân Diệu nhìn trăng như một
“nàng” một biểu tượng của cái đẹp, là nguồn cảm hứng sáng tạo bất tận của thi nhân:
“Trăng vú mộng muôn đời thi sĩ
Giơ hai tay mơn trớn vẻ tròn đầy”.
(Ca Tụng)
Trong thơ mới, nhiều thi sĩ viết rất hay về trăng, như Hàn Mặc Tử .Nhưng chỉ có ở Xuân
Diệu mới có đầy đủ một thế giới trăng với đủ mọi hình hài, dáng vẻ và mọi trạng thái
cảm xúc: Trăng ngà, trăng ngần, trăng vàng, trăng sáng, trăng xa, trăng rộng, trăng
7
mộng, trăng vú mộng, trăng hoa vàng, trăng điã ngọc, trăng ngẩn ngơ, trăng đẹp, trăng
thánh thót, trăng thâu, trăng tàn, trăng thương, trăng nhớ…
Thiên nhiên chiếm tỉ lệ lớn trong hai tập “Thơ thơ” và “Gửi hương cho gió”. Ở “Thơ
thơ” có 18/47 bài, ở “Gửi hương cho gió” có 17/57 bài viết về thiên nhiên. Ngoài những
hình tượng lớn đã nói ở trên, Xuân Diệu còn có rất nhiều những sáng tạo cách tân về hoa,
hương, cây, lá, gió, sương, mưa…
“Nõn nà sương ngọc quanh thềm đậu
Nắng nhỏ bâng khuâng chiều lỡ thì”
Cách khám phá của Xuân Diệu rất mới, kiểu “lai Tây” hết mình như là:
“Gió vừa chạy vừa rên vừa tắt thở”
“Gió canh khuya hay nghìn ngón tay ôm”
“Sương nương theo trăng ngừng lưng trời ”
“Hoa bưởi thơm rồi đêm đã khuya”.
Xuân Diệu có cảm giác đặc biệt tinh tế, giao cảm, tương giao, thiên nhiên ở đây chính là
con người trần gian ở những điểm mút của xúc cảm vĩnh viễn.
hiểu thêm về thi sĩ mới nhất trong các nhà thơ mới.
3. Đặc điểm thời gian nghệ thuật trong thơ Xuân Diệu trước 1945.
Với thơ, thời gian nghệ thuật gắn liền với nguồn cảm hứng sáng tạo của thi nhân
bởi hình tượng thơ là hình tượng của cảm xúc.
Trước đây, Nguyễn Du nhìn thời gian “Sen tàn, cúc lại nở hoa”, Tản Đà “Trăm năm là
ngắn, một ngày dài ghê”… Đến Xuân Diệu và thơ mới, thời gian không còn quan niệm
theo thời gian của cõi thiên thu bất biến nữa mà đó là thời gian tâm trạng, thời gian theo
tốc độ một đi không trở lại. Có thể thấy quan niệm rất mới mẻ này về thời gian nghệ
thuật qua 2 tập thơ của Xuân Diệu trước 1945 và ngay cả với phong trào thơ mới lúc bấy
giờ, thời gian trong thơ của Xuân Diệu cũng có những điểm mới riêng biệt và độc đáo.
Trước hết, cần phân biệt hai phạm trù thời gian khác nhau trong thơ Xuân Diệu: Thứ
nhất, là quan niệm về thời gian như một bộ phận quan trọng cấu thành hệ thống quan
điểm về vũ trụ, nhân sinh của nhà thơ. Thứ hai, phạm trù thời gian đã được xử lí như một
yếu tố hình thức để kiến tạo nên tác phẩm.
Xuân Diệu nhạy cảm và tâm đắc với phạm trù “Không – Thời gian”, ông đàm đạo trực
tiếp về thời gian, đồng thời qua đó khái quát thành những tư tưởng mang ý nghĩa triết
học: Đó là các bài: “Thời gian”, “Gió tàn”, “Hết ngày hết tháng”… Cái cốt lõi của các
bài thơ trên là quan niệm về một dòng thời gian – dòng đời – luôn chuyển động và thay
đổi không ngừng. Có thể coi bài “Thời gian” là phát ngôn cho cảm thức thời gian của
Xuân Diệu.
10
“Dưới thuyền nước trôi
Trên nước thuyền chuồi
Và nước và thuyền
Xuôi dòng đi xuôi”.
Xuân Diệu luôn nhìn thấy sự đối lập nghiệt ngã giữa thời gian vô tận của vũ trụ và thời
gian quá ngắn ngủi của kiếp người, ông sáng tạo hình ảnh “ngọn gió thời gian” với
chuyển động tàn nhẫn, sức tàn phá “khô héo”, “rụng rời”.
“Và giữa vườn im hoa run, sợ hãi
Bao nỗi phôi pha, khô héo, rụng rời”.
(Thanh niên)
Xuyên suốt thơ Xuân Diệu trước 1945 là ngọn gió thời gian, chất xúc tác kì diệu, tạo nên
nồng độ đắm đuối mà chỉ có tâm hồn nuối tiếc từng giọt thời gian như ông mới có được.
Xuân Diệu là người duy nhất trong phong trào thơ mới đề xuất thời gian với tư cách là
phạm trù triết học trong thơ.
12
Tuy nhiên, tìm hiểu thời gian nghệ thuật cần khám phá thơ Xuân Diệu ở cả hai phía: Nội
dung cảm hứng và hình thức nghệ thuật. Vì vâỵ, sự tiếp cận thời gian nghệ thuật từ phía
nội dung cảm hứng là cần thiết bởi từ đó chúng ta có thể đi vào tìm hiểu thế giới thời gian
trong thơ ông với tư cách là một thao tác thuộc về hình thức nghệ thuật.
Thời gian trong nghệ thuật thường có ba dòng: Quá khứ, hiện tại, tương lai. Mỗi khuynh
hướng nghệ thuật có cách lựa chọn thời gian riêng biệt.
Phần lớn các nhà thơ lãng mạn Việt Nam giai đoạn 1930 – 1945 lựa chọn thời gian quá
khứ như Thế Lữ, Lưu Trọng Lưu, Chế Lan Viên, Nguyễn Nhược Pháp, Vũ Đình Liên
thì Xuân Diệu, nhà thơ mới nhất, đỉnh cao của thơ lãng mạn lại say sưa với thời gian hiện
tại. Xuân Diệu dù viết về ngày xưa hay ngày sau thì chủ ý vẫn là nói về thời đang sống.
Xuân Diệu luôn tìm cách thuyết phục lối sống cho hôm nay, luôn sợ ngày mai, không
giống Chế Lan Viên thích tìm về quá khứ. Xuân Diệu luôn nói về ý nghĩa của hiện tại:
“Cần chi biết ngày mai hay bữa trước
Gần hôm nay thì yêu dấu là nên…
Gặp nhau đây ai biếy tự thuở nào
Xa nhau nữa ai đoán ngày tái hội…
“Yêu đi em anh rất sợ ngày mai”.
Và cuối cùng, Xuân Diệu nói về những “Khoảnh khắc” sau khi đi hết vòng thời gian của
năm tháng, cuộc đời, chịu đựng nhiều tổn thương tinh thần do những “cú xốc” thời gian
gây nên. Vì biết cuộc đời đi theo phút giây nên ông “độc chiếm” những khoảnh khắc:
điểm hội tụ của sự sống, tình yêu: một phút, một giây, một chớp, một thoáng, một chút…
“Thà một phút huy hoàng…”
13
Gần 30 bài trong hai tập thơ trước 1945 Xuân Diệu đã khai thác thời gian ở trục hiện tại:
(Giục giã - Xuân Diệu)
Thơ chính là con người, mà tư tưởng bao trùm của mỗi nhà thơ chính là quan niệm nhân
sinh được nói trong thơ. Xuân Diệu là người có một quan niệm sống đặc biệt, không phải
quan niệm sống của Xuân Diệu bao giờ và lúc nào cũng được dư luận chấp thuật và đồng
tình. Hoài Thanh ngay từ trước 1945 đã chỉ ra trong thơ ông là một nguồn sống dồi dào
chưa từng thấy ở chốn nước non lặng lẽ này.
Nhưng sau đó, vào thời cách mạng sau 1945 trở đi, có nhiều ý kiến đã gọi thơ mới lãng
mạn là tiểu tư sản, là thứ “nấm độc, nấm lạ” về tư tưởng. Họ đã kết tội Xuân Diệu là nhà
thơ của lí tưởng cá nhân hưởng thụ.
Do vậy, câu thơ này được xem là quan niệm sống “hưởng thụ tiêu cực” của Xuân Diệu,
làm “ảnh hưởng đến đời sống cách mạng” nói chung.
15
Thực ra, đó là hạn chế của tư tưởng một thời, ấu trĩ, giáo điều. Những năm sau đó, Xuân
Diệu được nhìn nhận khách quan hơn, nhiều nhà nghiên cứu, nhà khoa học đã đánh giá
cao quan niệm sống này của Xuân Diệu.
Người được xem là tiên phong trong việc phát hiện và định giá về Xuân Diệu đó là giáo
sư Lý Hoài Thu, ngay từ năm 1996, giáo sư đã có công trình khoa học gây tiếng vang
rộng rãi: Thơ Xuân Diệu trước năm 1945, trong đó đặc biệt đánh giá về quan niệm nhân
sinh lành mạnh, tích cực và rất nhân bản này của Xuân Diệu, giáo sư viết:
“ Thà một phút huy hoàng rồi chợt tối
Còn hơn buồn le lói suốt trăm năm.
(Giục giã)
Câu thơ vang lên như một sự giải thoát, trút bỏ những quan niệm sống khắc kỉ, khổ hạnh
đang đè nặng lên đời sống tình cảm con người. Giữa nhịp sống lê thê, lắt lay, buồn tẻ,
câu thơ Xuân Diệu đã thổi bùng lên khát vọng sống, khát vọng hưởng thụ trong mỗi một
con người bấy lâu bị vùi dập bởi những khuôn thước, luân lí xưa” (Lý Hoài Thu – Thơ
Xuân Diệu trước 1945, Nxb Giáo dục 1998, trang 25).
Có thể nói, tác giả Lí Hoài Thu đã mạnh dạn nêu được mệnh đề sống táo bạo của Xuân
Diệu, khát vọng hưởng thụ ở đây là nhân văn, rất con người, hưởng thụ tình yêu và tuổi
trẻ một cách trần thế, thánh thiện chứ không hề dung tục, tầm thường, nhỏ bé. Đây là
cõi sống .
Bài học về quan niệm sống có ý nghĩa và tiết kiệm thời gian của Xuân Diệu từ trước 1945
thiết nghĩ vẫn còn nguyên giá trị cho mỗi người chúng ta hôm nay.
Phần 4: Kết luận
Trên đây là một số vấn đề thuộc thi pháp Xuân Diệu có thể giúp cho việc soạn bài
giảng Vội vàng và phần tác giả Xuân Diệu trước năm 1945 tốt hơn
Chúng tôi đã cố gắng đi sâu vào các nội dung trọng tâm mà sách giáo khoa đã đặt ra để
làm tư liệu tham khảo và minh họa cho tác gia Xuân Diệu - cái tôi mới nhất trong số các
nhà thơ mới
Dù đã cố gắng song không thể tránh khỏi những hạn chế.Mong quý bạn đồng nghiệp
thông cảm và chân thành góp ý
Xin trân trọng cảm ơn tác giả Lí Hoài Thu , người đã trực tiếp định hướng và giúp đỡ
cho người viết sáng kiến kinh nghiệm này
18