Một vài suy nghĩ góp phần dạy tốt về Xuân Diệu trong chương trình Ngữ văn 11 - Pdf 25


BỐ CỤC
Phần 1: Mục đích, lí do chọn đề tài
Phần 2: Phương pháp nghiên cứu.
Phần 3: Nội dung trình bày
Phần 4: Kết luận
1
Phần 1: Mục đích, lí do chọn đề tài
Bài giảng về xuân diêu trong chương trình ngữ văn lớp 11 gồm
có bài học về tác gia Xuân Diệu và văn bản Vội vàng.Để giúp cho
việc dạy tốt những vấn đề thuộc về phong cách tác giả xuân diệu,
chúng tôi xin trình bày một số vấn đề cơ bản sau đây:
- Vai trò của cái tôi đối với quá trình sáng tác thơ Xuân Diệu trước năm
1945.
- Những cách tân nghệ thuật về thiên nhiên trong Thơ thơ và “Gửi
hương cho gió”.
- Đặc điểm thời gian nghệ thuật trong thơ Xuân Diệu trước cách mạng
tháng 8 (Có so sánh với các tác giả khác thuộc trào lưu phong trào thơ
mới)
- Quan niệm sống và triết lí thời gian của Xuân Diệu qua 4 câu thơ nổi
tiếng trong bài Giục giã
Phần 2: Phương pháp nghiên cứu.
.1 Phương pháp hệ thống
.2 Phương pháp thống kê.
3 Phương pháp so sánh
.4 Các phương pháp hỗ trợ khác.
2
Phần 3: Nội dung trình bày
1. Vai trò của cái tôi đối với quá trình sáng tác
thơ Xuân Diệu trước 1945.
Cái tôi trữ tình là sự thể hiện con người của nhà thơ. Thơ ca muôn

thơ Xuân Diệu, tràn ngập chữ tôi, là chủ ngữ đứng đầu câu thơ, cái tôi
phô diễn hết sức đa dạng:
- Tôi là con chim đến từ núi lạ
- Tôi là con nai bị chiều giăng lưới
- Tôi là một kẻ điên cuồng
- Tôi khờ khạo quá ngu ngơ quá.
Cái tôi được Xuân Diệu đẩy lên ở vị trí cao nhất, có thể xưng “ta”
trong một bản ngã đầy quyền uy.
“Hỡi xuân hồng ta muốn cắn vào ngươi”
Các nhà thơ khác cũng xưng “ta” như Vũ Hoàng Chương là chữ ta
phiêu bạt, còn Thế Lữ là chữ “ta” xa cách lạnh lùng, và Chế Lan Viên là
chữ “ta” trang trọng. Với Xuân Diệu ta chính là tôi: ta là một là riêng là
thứ nhất.
Vai trò của cái tôi chi phối hết sức quan trọng đến sáng tác của
Xuân Diệu. Cái tôi là tâm điểm nghệ thuật, nó vừa quyết định chỗ đứng,
điểm nhìn trước cuộc đời, vừa thể hiện quan niệm sáng tác của Xuân
Diệu. Xuân Diệu là người chủ trương sống hưởng thụ, sống gấp gáp,
Xuân Diệu là nhà thơ trần gian ham sống, ham yêu. Tình yêu của Xuân
Diệu vừa có ý niệm con người trần tục lại vừa mang ý tưởng thánh thiện,
huyền ảo. Sự kết hợp cái trần tục và khát vọng ấy đã khiến cho Xuân
Diệu trở thành ông hoàng thơ tình.
“Nếu tôi có làm tiên thì chỉ làm một hai ngày tôi sẽ rủ tiên ông,
tiên bà xuống trần gian để phạm tội”. Xuân Diệu yêu hết mình, cảm thấy
bất lực với thời gian. Xuân Diệu yêu đời tột cùng say đắm nhưng cũng có
lúc bơ vơ, tuyệt vọng: Cơm áo không đùa với khách thơ. Xuất thân từ
Bình Định nhưng thơ Xuân Diệu không tìm màu siêu thoát, ảo giác, ông
tìm cái đẹp ở ngay cuộc sống trần gian, đời thường. Cái tôi đồng nghĩa
với quan niệm sáng tác, ông có đầy đủ phát ngôn từ Thơ thơ quan điểm
riêng của mình về cái đẹp.
“Là thi sĩ nghĩa là ru với gió

Đi trong sân mà nhớ chuyện trên trời
Trút ngàn năm trong một phút chơi vơi
5
Ngắm phong cảnh giữa hai bề lá cỏ”
(Cảm xúc)
Trong nền cảm xúc lãng mạn và hiện đại của thơ mới khi viết về mùa
xuân, Xuân Diệu có một lối cách tân táo bạo, bất ngờ với “Nụ cười xuân”,
“Xuân đầu”, “Xuân rụng”, ông đã tạo ra vẻ tươi tắn về màu sắc, rộn rã về
âm thanh, hài hoà và tình tứ như một nụ cười duyên: “cánh hồng kết những
nụ cười tươi” (Nụ cười Xuân). Mùa xuân chính là ý xuân để so với lòng
mình, xuân của Xuân Diệu đồng nghĩa với lòng người, với tình cảm tươi trẻ:
“Từ lúc yêu nhau hoa nở mãi
Trong vườn thơm ngát của hồn tôi”
(Nguyên Đán)
Mùa xuân là hình ảnh gắn với những rung động đầu đời của tình
yêu tuổi trẻ:
“Hỡi xuân hồng ta muốn cắn vào ngươi”
“Tháng giêng ngon như một cặp môi gần”
(Vội Vàng)
Sự cách tân táo baọ của Xuân Diệu còn thể hiện trong cảm xúc khi
viết về mùa thu. Thu của Xuân Diệu gắn với mùa của tình ái, tình yêu,
ông gọi là mùa yêu. Trong thơ Xuân Diệu ta vẫn gặp những nét thu
truyền thống, nhưng có lẽ tạo ra màu sắc đau thương như “Đây mùa thu
tới” thì chỉ có ở Xuân Diệu:
“Rặng liễu đìu hiu đứng chịu tang
Tóc buồn buông xuống lệ ngàn hàng
Đây mùa thu tới mùa thu tới
Với áo mơ phai dệt là vàng”
(Đây mùa thu tới)
Cảm xúc cô đơn, đau thương để khát khao được ấm lạnh, được kết

vĩnh viễn.
Điều đáng chú ý nhất là: Là một tâm hồn khao khát tình yêu nên
Xuân Diệu luôn tiếp cận thiên nhiên qua lăng kính ái ân. Nhà thơ thường
mang cái cảm xúc trẻ trung, sôi nổi của tâm hồn mình trải lên cảnh vật.
Ông nhìn thấy trong sắc nắng mùa xuân những hồi hộp xao xuyến của
tình yêu ngây thơ, non trẻ.
“Ánh sáng ôm trùm những ngọn cao
Cây vàng rung nắng lá xôn xao
Gió thơm phơ phất bay vô ý
Đem đụng cành mai sát nhánh đào”.
(Nụ cười xuân)
Chỉ có Xuân Diệu mới có cái nhìn trần thế.
7
“Tháng giêng ngon như một cặp môi gần”
Với Xuân Diệu, thiên nhiên đã trở thành nguồn ân ái, một kho tài
sản vô tận để con người tìm đến và thoả mãn những cảm xúc yêu đương.
Là một hồn thơ nhạy cảm, tinh tế, Xuân Diệu đã cảm nhận thiên
nhiên bằng nhiều các giác quan thân thể, các vị giác, xúc giác, khứu
giác… được ông vận dụng rất tài tình:
- Những luồng run rẩy rung rinh lá
- Linh lung bóng sáng bỗng rung mình
- Đàn ghê như nước lạnh trời ơi.
Do ảnh hưởng của thuyết tương giao cho nên thơ Xuân Diệu có sự
hô ứng giữa sự vật và con người, nhưng ông xử lí một cách sáng tạo để
có những câu thơ sực nức hương vị, đạm đà màu sắc, dìu dặt âm thanh:
“Này lắng nghe em khúc nhạc hường
Dẫn vào thế giới của du dương
Ngừng hơi thở lại nghe trong ấy
Hiển hiện hoa và phảng phất hương
(Huyền Diệu)

Trên nước thuyền chuồi
Và nước và thuyền
Xuôi dòng đi xuôi”.
Xuân Diệu luôn nhìn thấy sự đối lập nghiệt ngã giữa thời gian vô
tận của vũ trụ và thời gian quá ngắn ngủi của kiếp người, ông sáng tạo
hình ảnh “ngọn gió thời gian” với chuyển động tàn nhẫn, sức tàn phá
“khô héo”, “rụng rời”.
“Và giữa vườn im hoa run, sợ hãi
Bao nỗi phôi pha, khô héo, rụng rời”.
(Tiếng gió)
Càng yêu cuộc sống tha thiết, Xuân Diệu càng thấy nhịp thời gian
trôi chóng mặt, chưa có nhà thơ nào luyến tiếc thời gian đến xót xa như
Xuân Diệu: Thời gian cứ thế mà “đi”, “cứ thế mà bay” “những ngày,
những tháng”… Vì vậy trong niềm say sưa bồng bột trước cuộc đời, tình
yêu, sự hiện hữu của thời gian khiến ông chưa bao giờ bình thản: “Mau
với chứ vội vàng lên với chứ”, “gấp đi em anh rất sợ ngày mai”, hơn thế
nữa có lúc nó trở thành nỗi kinh hoàng: “Hết ngày, hết tháng, hết! Em ơi
– Kinh hãi không gian quặn tiếng còi” (Hết ngày hết tháng)
9
Đọc “Thơ thơ” và “Gửi hương cho gió” dễ nhận ra một Xuân Diệu
đang cô đơn chống lại sự tàn phá của thời gian. Các thi sĩ phương Đông
quan niệm về thời gian rất bình thản, ung dung vì thời gian với họ là chu
kì, tuần hoàn như Nguyễn Du, Nguyễn Khuyến:
“Mấy chùm trước giậu hoa năm ngoái”.
Tư tưởng Lão Trang đã giúp họ có một thái độ an nhiên tự tại với
thời gian.
Ngay trong quan niệm truyền thống, người Việt Nam
cũng “Đi đâu mà vội mà vàng”. Cùng thời với Xuân Diệu, có Nguyễn
Bính, quan niệm thời gian của thi sĩ chân quê này cũng khác với Xuân
Diệu: không vội vàng; thời gian thủng thẳng tính bằng tâm lí “chừng dập

lựa chọn thời gian quá khứ như Thế Lữ, Lưu Trọng Lưu, Chế Lan Viên,
Nguyễn Nhược Pháp, Vũ Đình Liên thì Xuân Diệu, nhà thơ mới nhất,
đỉnh cao của thơ lãng mạn lại say sưa với thời gian hiện tại. Xuân Diệu
dù viết về ngày xưa hay ngày sau thì chủ ý vẫn là nói về thời đang sống.
Xuân Diệu luôn tìm cách thuyết phục lối sống cho hôm nay, luôn sợ ngày
mai, không giống Chế Lan Viên thích tìm về quá khứ. Xuân Diệu luôn
nói về ý nghĩa của hiện tại:
“Cần chi biết ngày mai hay bữa trước
Gần hôm nay thì yêu dấu là nên…
Gặp nhau đây ai biếy tự thuở nào
Xa nhau nữa ai đoán ngày tái hội…
“Yêu đi em anh rất sợ ngày mai”.
Và cuối cùng, Xuân Diệu nói về những “Khoảnh khắc” sau khi đi
hết vòng thời gian của năm tháng, cuộc đời, chịu đựng nhiều tổn thương
tinh thần do những “cú xốc” thời gian gây nên. Vì biết cuộc đời đi theo
phút giây nên ông “độc chiếm” những khoảnh khắc: điểm hội tụ của sự
sống, tình yêu: một phút, một giây, một chớp, một thoáng, một chút…
“Thà một phút huy hoàng…”
Gần 30 bài trong hai tập thơ trước 1945 Xuân Diệu đã khai thác
thời gian ở trục hiện tại: “Phải nói”, “Tình trai”, “Vô biên”, “Đây mùa
thu tới”, “Vội vàng”, “Muộn màng”, “Thở than”, “Dại khờ”… Điều
đáng nói nhất là ở Xuân Diệu, khoảnh khắc của tâm trạng đã được kéo
dài ra thành một thứ thời gian tâm linh. Nó đồng nhất cả quá khứ, hiện
tại, tương lai. Đó là một nỗ lực để nhân thời gian sống, một hình thức
chiếm lĩnh và tự chiến thắng thời gian của Xuân Diệu.
11
Xuân Diệu đặc biệt vượt qua thơ truyền thống và các nhà thơ mới
khi ông sáng tạo được hình ảnh thời gian đi trong cảm giác. Nhà thơ Vũ
Quần Phương viết:
“Câu thơ vừa chạm tiếng ve

bao giờ và lúc nào cũng được dư luận chấp thuật và đồng tình. Hoài
Thanh ngay từ trước 1945 đã chỉ ra trong thơ ông là một nguồn sống dồi
dào chưa từng thấy ở chốn nước non lặng lẽ này.
Nhưng sau đó, vào thời cách mạng sau 1945 trở đi, có nhiều ý kiến
đã gọi thơ mới lãng mạn là tiểu tư sản, là thứ “nấm độc, nấm lạ” về tư
tưởng. Họ đã kết tội Xuân Diệu là nhà thơ của lí tưởng cá nhân hưởng
thụ.
Do vậy, câu thơ này được xem là quan niệm sống “hưởng thụ tiêu
cực” của Xuân Diệu, làm “ảnh hưởng đến đời sống cách mạng” nói
chung.
Thực ra, đó là hạn chế của tư tưởng một thời, ấu trĩ, giáo điều.
Những năm sau đó, Xuân Diệu được nhìn nhận khách quan hơn, nhiều
nhà nghiên cứu, nhà khoa học đã đánh giá cao quan niệm sống này của
Xuân Diệu.
Người được xem là tiên phong trong việc phát hiện và định giá về
Xuân Diệu đó là giáo sư Lý Hoài Thu, ngay từ năm 1996, giáo sư đã có
công trình khoa học gây tiếng vang rộng rãi: Thơ Xuân Diệu trước năm
1945, trong đó đặc biệt đánh giá về quan niệm nhân sinh lành mạnh, tích
cực và rất nhân bản này của Xuân Diệu, giáo sư viết:
“ Thà một phút huy hoàng rồi chợt tối
Còn hơn buồn le lói suốt trăm năm.
(Giục giã)
Câu thơ vang lên như một sự giải thoát, trút bỏ những quan niệm
sống khắc kỉ, khổ hạnh đang đè nặng lên đời sống tình cảm con người.
Giữa nhịp sống lê thê, lắt lay, buồn tẻ, câu thơ Xuân Diệu đã thổi bùng
lên khát vọng sống, khát vọng hưởng thụ trong mỗi một con người bấy
lâu bị vùi dập bởi những khuôn thước, luân lí xưa” (Lý Hoài Thu – Thơ
Xuân Diệu trước 1945, Nxb Giáo dục 1998, trang 25).
Có thể nói, tác giả Lí Hoài Thu đã mạnh dạn nêu được mệnh đề
sống táo bạo của Xuân Diệu, khát vọng hưởng thụ ở đây là nhân văn, rất

nhân bản. Thời gian ở đây “một phút” chính là khẳng định lối sống thực
dụng, đón trước thời gian.
14
“Giục giã” của Xuân Diệu trong đoạn thơ này chính là hối thúc
mình và mọi người hãy sống khẩn trương cho trọn vẹn niềm vui tuổi trẻ,
cuộc đời, thời gian luôn mất đi, không đợi, chúng ta hãy triệt để tiết kiệm
từng phút giây để có ý nghĩa khi ta được góp mặt nơi cõi sống .
Bài học về quan niệm sống có ý nghĩa và tiết kiệm thời gian của
Xuân Diệu từ trước 1945 thiết nghĩ vẫn còn nguyên giá trị cho mỗi người
chúng ta hôm nay.
Phần 4: Kết luận
Trên đây là một số vấn đề thuộc thi pháp Xuân Diệu có thể giúp cho
việc soạn bài giảng Vội vàng và phần tác giả Xuân Diệu trước năm 1945
tốt hơn
Chúng tôi đã cố gắng đi sâu vào các nội dung trọng tâm mà sách giáo
khoa đã đặt ra để làm tư liệu tham khảo và minh họa cho tác gia Xuân
Diệu - cái tôi mới nhất trong số các nhà thơ mới
Dù đã cố gắng song không thể tránh khỏi những hạn chế.Mong quý
bạn đồng nghiệp thông cảm và chân thành góp ý
Xin trân trọng cảm ơn tác giả Lí Hoài Thu , người đã trực tiếp định
hướng và giúp đỡ cho người viết sáng kiến kinh nghiệm này

XÁC NHẬN
CỦA THỦ TRƯỞNG ĐƠN VỊ
Thanh Hóa, ngày 25 tháng 5 năm 2013
Tôi xin cam đoan đây là sáng kiến kinh
nghiệm của mình viết, không sao chép nội
dung của người khác.
Lê Văn Khải
15


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status