Mối quan hệ giữa hành vi điều chỉnh lợi nhuận và ý kiến kiểm toán của các công ty niêm yết trên sàn chứng khoán Việt Nam - Pdf 40

ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
ĐẠI HỌC KINH TẾ

BÁO CÁO
CÔNG TRÌNH NGHIÊN CỨU KHOA HỌC SINH VIÊN
Đề tài:
Mối quan hệ giữa hành vi điều chỉnh lợi nhuận và ý kiến kiểm toán
của các công ty niêm yết trên sàn chứng khoán Việt Nam

Hà Nội, 05/2016


ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
ĐẠI HỌC KINH TẾ
KHOA KẾ TOÁN – KIỂM TOÁN

CÔNG TRÌNH NGHIÊN CỨU KHOA HỌC SINH VIÊN

Đề tài nghiên cứu:
Mối quan hệ giữa hành vi điều chỉnh lợi nhuận và ý kiến kiểm toán của các công ty
niêm yết trên sàn chứng khoán Việt Nam

Hà Nội, 05/ 2016

Page 2


Chúng tôi xin cam đoan nghiên cứu “Mối quan hệ giữa điều chỉnh lợi nhuận
và ý kiến kiểm toán của các công ty niêm yết ở Việt Nam trong năm 2014” là công
trình nghiên cứu độc lập của chúng tôi.
Các trích dẫn, tài liệu tham khảo, các số liệu thống kê được sử dụng trong bài

2.1.3 Mối quan hệ giữa ý kiến kiểm toán và điều chỉnh lợi nhuận.................. 21
2.2 Tổng quan nghiên cứu ...................................................................................... 25
2.3 Tóm tắt chương II: ............................................................................................ 31
III. XÁC ĐỊNH GIẢ THUYẾT VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU ................ 33
3.1. Xây dựng giả thiết nghiên cứu ........................................................................ 33
3.2. Chọn mẫu .......................................................................................................... 34
3.3 Dữ liệu nghiên cứu ............................................................................................ 34
3.4 Mô hình nghiên cứu .......................................................................................... 34
3.4.1 Mô hình dùng để tính toán biến dồn tích có thể điều chỉnh (Dicretionary
Accruals) ............................................................................................................... 35
3.4.2. Mô hình hồi quy tổng thể nhằm đánh giá mối quan hệ giữa điều chỉnh
lợi nhuận và ý kiến kiểm toán ............................................................................. 36
3.5 Quy trình nghiên cứu ........................................................................................ 38
3.6.1 Kiểm định giả thiết ..................................................................................... 39
Page 5


3.6.2 Kiểm định về ý nghĩa của các hệ số hồi quy:............................................ 40
IV. KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU .................................................................................. 41
4.1. Phân tích thống kê số liệu nghiên cứu ............................................................ 41
4.2 Phân tích tương quan........................................................................................ 45
4.3. Kiểm định đa cộng tuyến ................................................................................. 46
4.4 Kết quả phân tích hồi quy ................................................................................ 47
4.4.1 Đánh giá sự phù hợp của mô hình ............................................................ 47
4.4.2 Kiểm định về độ tin cậy của mô hình ........................................................ 47
4.4.3 Kiểm định giả thuyết về các hệ số của mô hình hồi quy mẫu ................. 47
4.4.4 Kiểm định giả thuyết nghiên cứu .............................................................. 48
V. THẢO LUẬN KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU........................................................... 52
5.1 Thảo luận kết quả nghiên cứu ......................................................................... 52
5.2. Hạn chế của bài nghiên cứu ............................................................................ 55

Doanh nghiệp niêm yết
Earning management – (hành vi) điều chỉnh lợi nhuận
Genneral accepted accounting principles
Các nguyên tắc kế toán được thừa nhận chung
Hoạt động kinh doanh
Kiểm toán viên
Phần mềm thống kê kinh tế
Tài sản cố định
Vietnam accounting standard – Chuẩn mực kế toán Việt Nam
Vietnam standards of auditing – Chuẩn mực kiểm toán Việt Nam

Page 7


DANH MỤC BẢNG
Bảng

Tên bảng

Bảng 2.1

Tóm tắt các công trình tổng quan nghiên cứu

Bảng 3.1

Các biến độc lập của mô hình và cách tính

Bảng 4.1

Bảng thống kê mô tả giá trị các biến độc lập


Sơ đồ tác động của REM và AEM lên lợi nhuận

Hình 3.1

Quy trình nghiên cứu

Hình 4.1

Biểu đồ cơ cấu ý kiến kiểm toán không chấp nhận toàn phần

Hình 4.2

Biểu đồ cơ cấu kết quả kinh doanh năm 2013 của mẫu nghiên cứu

Hình 4.3

Cơ cấu công ty kiểm toán phát hành ý kiến kiểm toán không chấp
nhận toàn phần

Hình 4.4

Biểu đồ cơ cấu ý kiến kiểm toan năm 2013 của mẫu nghiên cứu

Hình 4.5

Kết quả đánh giá hồi quy

Page 9


nghìn tỷ đô và khoảng 20 nghìn nhân viên Enron mất việc làm, nhiều người trong số
họ mất luôn cả khoản tiết kiệm vì đã góp vốn vào công ty. Nguyên nhân của sự việc
này là do Enron đã tìm cách thổi phồng lợi nhuận của mình, che dấu hàng tỷ USD bị
thua lỗ, đồng thời tạo áp lực để Công ty Kiểm toán Arthur Andersan (một trong năm
công ty kiểm toán lớn nhất thế giời) bỏ qua các vấn đề kế toán có rủi ro quan trọng.
Trong khi đó, những người quan tâm lại hoàn toàn tin tưởng vào BCTC đã kiểm toán.
Ngay khi bị phát hiện, Enron đã trở thành vụ phá sản lớn nhất trong lịch sử Mỹ tính
Page 10


tới thời điểm đó. Rất nhiều các vụ bê bối khác như là Worldcom, Olympus, Tyco
International, hay Parmalat và gần đây nhất là Toshiba… cũng đã khiến cho nhiều nhà
đầu tư bị thua lỗ vì những quyết định đầu tư dựa trên các con số được điều chỉnh trên
các bản BCTC đã được kiểm toán.
Tại Việt Nam, nhiều nhà đầu tư đã bị “đánh lừa” bởi những con số đẹp được
trình bày trên các bản BCTC đã được kiểm toán. Ví dụ như trường hợp công ty Dược
Viễn Đông (DVD – sàn HSX) đã kinh doanh thua lỗ song BCTC vẫn thể hiện kết quả
ấn tượng, nhưng cả hai công ty kiểm toán lớn là ACC và Ernst & Young đều không
phát hiện ra hành vi điều chỉnh lợi nhuận của công ty này, khiến cho hàng nghìn nhà
đầu tư thua lỗ vì đã tin tưởng vào BCTC đã được kiểm toán bởi công ty kiểm toán.
Hay trong trường hợp ngược lại, các công ty như Tribeco (TRI), công ty Petrolimex,
CTCP Quốc Cường Gia Lai (QCG), CTCP Vận tải biển và bất động sản Việt Hải
(VSP), Tổng CTCP Phân bón và Hóa chất dầu khí (DPM) đã thực hiện hành vi điều
chỉnh giảm lợi nhuận trên BCTC so với thực tế, tuy nhiên đã được phát hiện bởi các
Kiểm toán viên cho thấy vai trò của KTV trong việc thực hiện chức năng kiểm tra của
mình. Và gần đây nhất là vụ việc của Ngân hàng Thương mại Xuất nhập khẩu Việt
Nam (Eximbank), đã làm nhu cầu của nhà đầu tư về việc nhận diện hành vi điều chỉnh
lợi nhuận của ban giám đốc ngày càng tăng. Vấn đề được đặt ra là những công ty có
hành vi điều chỉnh lợi nhuận có khả năng nhận được ý kiến kiểm toán không chấp
nhận toàn phần cao hơn các công ty khác hay không?

Về mặt thực tiễn, nghiên cứu này sẽ giúp những người quan tâm tới BCTC có
cái nhìn khách quan hơn tới tình hình hoạt động sản xuất kinh doanh của công ty. Cụ
thể nếu kết quả của bài nghiên cứu cho thấy mối quan hệ giữa ý kiến kiểm toán và
hành vi điều chỉnh lợi nhuận cùng chiều thì các báo cáo đã kiểm toán càng có độ tin
cậy cao và ngược lại nếu không tồn tại mối quan hệ này thì các đối tượng bên ngoài
cần tham khảo thêm từ các nguồn thông tin khác để có quyết định phù hợp hơn.
1.3. Mục tiêu nghiên cứu và câu hỏi nghiên cứu
Mục tiêu chính của bài nghiên cứu là kiểm định mối quan hệ giữa ý kiến kiểm
toán chấp nhận không toàn phần và hành vi điều chỉnh lợi nhuận trong công ty niêm
yết tại Việt Nam. Ngoài ra, nhóm nghiên cứu cũng đặt ra mục tiêu tìm hiểu về hành vi
điều chỉnh lợi nhuận và phân tích một số nhân tố ảnh hưởng tới ý kiến kiểm toán
không chấp nhận toàn phần.
Để trả lời cho mục tiêu nghiên cứu, nhóm nghiên cứu đặt ra những câu hỏi
nghiên cứu chi tiết cho vấn đề này như sau:
Thứ nhất, ý kiến kiểm toán không chấp nhận toàn phần và hành vi điều chỉnh
lợi nhuận có mối quan hệ như thế nào?
Thứ hai, ngoài điều chỉnh lợi nhuận, trong mô hình được xây dựng có những
nhân tố nào ảnh hưởng tới việc phát hành ý kiến không chấp nhận toàn phần của
KTV?
1.4. Phạm vi và đối tượng nghiên cứu
Phạm vi nghiên cứu: Để đánh giá mối quan hệ giữa ý kiến kiểm toán và hành vi
điều chỉnh lợi nhuận trong DN, nhóm nghiên cứu đã tham khảo các nghiên cứu trước
đây và đã tiến hành nghiên cứu tất cả các DN đang niêm yết (khoảng gần 900 DN)
trên sàn chứng khoán HNX và HOSE và đã chọn ra được 92 DN nhận được ý kiến
kiểm toán không chấp nhận toàn phần đối với BCTC năm 2014.
Đối tượng nghiên cứu: Mối quan hệ giữa ý kiến kiểm toán và hành vi điều chỉnh
lợi nhuận trong các công ty là đối tượng nghiên cứu của đề tài.

Page 12


Trong nghiên cứu của Ronen và Yaari, tùy thuộc vào động cơ mà điều chỉnh lợi nhuận
có thể được phân làm 3 nhóm:
Điều chỉnh lợi nhuận trắng (White Earnings Management): Ban giám đốc dựa
trên lợi thế về quyền lực để lựa chọn các chính sách kế toán một cách linh hoạt nhằm
thông báo tín hiệu cá nhân của họ về dòng tiền của DN trong tương lai (Ronen và
Sadan, 1981; Demski, Patell, và Wolfson, 1984; Suh, 1990; Demski, 1998; Beneish,
2001, Sankar và Subramanyam, 2001). Loại này được xem là có lợi và làm gia tăng
chất lượng BCTC. Mục đích của ban giám đốc là muốn công bố nhiều thông tin với
chất lượng tốt hơn đến người sử dụng, giúp các các nhà đầu tư khám phá ra các mong
đợi của họ về các dòng tiền mà DN sẽ mang lại trong tương lai (Beneish, 2011).
Điều chỉnh lợi nhuận xám (Grey Earnings Management): Các ban giám đốc lựa
chọn các chính sách kế toán trong hoặc ngoài các giới hạn cho phép nhằm làm gia
tăng giá trị của DN hoặc vì vụ lợi của họ (Watts và Zimmerman, 1990; Fields, Lys, và
Vincent 2001).

Page 14


Điều chỉnh lợi nhuận đen (Black Earnings Management): Là hành vi sử dụng
các thủ thuật của ban giám đốc để làm sai lệch hoặc giảm sự minh bạch của các BCTC
(Schipper, 1989; Levitt, 1998; Healy và Wahlen 1999; Tzur và Yaari, 1999; Chtourou,
Bédard, và Courteau, 2001; Miller và Bahnson, 2002).
Theo Carmen Joosten (2012), lợi nhuận bao gồm dòng tiền từ hoạt động và dòng tiền
tích lũy, ban giám đốc công ty có 2 phương thức để điều chỉnh lợi nhuận:
Điều chỉnh lợi nhuận bằng các giao dịch thực (Real earning management):
Công ty có thể điều chỉnh lợi nhuận thông qua những chỉnh sửa từ hoạt động kinh
doanh bình thường, vì vậy dòng tiền từ hoạt động kinh doanh có thể bị ảnh hưởng.
Những chỉnh sửa từ hoạt động kinh doanh bình thường để điều chỉnh BCKQHĐKD
này được gọi là điều chỉnh lợi nhuận bằng các giao dịch thực (REM)
(Rowchowdhury, 2006).

Lợi nhuận thuần
trên kết quả hoạt
động kinh doanh

Hình 2.1 Sơ đồ tác động của REM và AEM lên lợi nhuận
Ở Việt Nam, thuật ngữ Earning Management (EM) được dịch ra với nhiều cách
khác nhau như: điều chỉnh lợi nhuận, quản trị thu nhập, điều chỉnh lợi nhuận… Tuy
nhiên, điều đáng nói ở đây là những nghiên cứu của Việt Nam về EM thường đi theo
hướng tiêu cực như những phương pháp để “làm đẹp” BCTC hay “những thủ thuật
phù phép BCTC”. Nhóm nghiên cứu đã thống nhất trong bài nghiên cứu này thuật ngữ
EM được dùng với nghĩa điều chỉnh lợi nhuận.

Page 15


Đã có một số bài nghiên cứu và bài báo trong nước bàn về vấn đề điều chỉnh
lợi nhuận như bài viết của tác giả Lê Minh Thủy, công ty tư vấn tài chính Capstone
đăng trên tạp chí “Nhịp cầu đầu tư” ngày 26/04/2010 với tựa đề “Nỗi niềm mùa
BCTC” đã đưa ra các phương pháp kế toán mà chủ sở hữu hay ban giám đốc sử dụng
đề làm sai lệch về tình hình tài chính và kết quả kinh doanh của DN nhưng các
phương pháp này lại là các phương pháp gian lận như: dùng nghiệp vụ ảo, che giấu
giao dịch, phù phép về thời gian ghi nhận giao dịch. Bài viết với tiêu đề “Hoạt động
quản trị kết quả kinh doanh trên thế giới và khuyến nghị cho các DN Việt Nam”
(11/2011) của Ts. Trần Thị Kim Anh, với nội dung chính là các khái niệm, cách phân
loại, các phương pháp điều chỉnh lợi nhuận và kiến nghị cho DN Việt Nam. Ngoài ra,
Ths. Phạm Thị Bích Vân (2013), đã cung cấp cho các nhà đầu tư ở Việt Nam một số
cách để đo lường sự trung thực của chỉ tiêu lợi nhuận trên BCTC. Trong nghiên cứu
này, tác giả cũng nhắc đến 5 thủ thuật mà ban giám đốc sử dụng để điều chỉnh lợi
nhuận như: lựa chọn các phương pháp kế toán, lựa chọn thời điểm vận dụng các
phương pháp kế toán và các ước tính các khoản chi phí doanh thu, lựa chọn thời điểm

Nguyễn Thị Minh Trang (2012), BCKQHĐKD phải được ghi nhận theo cơ sở
dồn tích. Điều này mang lại cơ hội cho ban giám đốc thực hiện hành động điều chỉnh
lợi nhuận thông qua các giao dịch không bằng tiền nhằm đạt được một mục tiêu nào
đó. Trong khi đó, kế toán theo cơ sở tiền được sử dụng để lập báo cáo lưu chuyển tiền
tệ (theo phương pháp trực tiếp) dựa trên cơ sở thực thu, thực chi tiền nên ban giám
đốc không thể điều chỉnh các giao dịch. Từ đó chênh lệch giữa lợi nhuận trên
BCKQHĐKD và dòng tiền trên BCLCTT (theo phương pháp trực tiếp) tạo ra biến kế
toán gọi là Accruals. Vì vậy, công thức tính tổng dồn tích (total accrual) được xác
định như sau:
Biến kế toán dồn tích (Accruals) = Lợi nhuận sau thuế - Dòng tiền thuần từ
hoạt động kinh doanh (Phạm Thị Bích Vân, 2013).
Dòng tiền từ HĐKD trên BCLCTT được lập theo cơ sở tiền nên không thể điều
chỉnh được, nên muốn điều chỉnh lợi nhuận các ban giám đốc phải điều chỉnh các biến
kế toán dồn tích. Theo các nhà nghiên cứu, các biến kế toán dồn tích (Accruals) gồm
hai phần: phần không thể điều chỉnh (NDA) và phần có thể điều chỉnh từ ban giám
đốc (DA). Ví dụ như giảm khoản nợ phải thu do phải tăng dự phòng phải thu khó đòi
vì mức dự phòng cần trích lập lớn hơn so với năm trước, lự a chọn mức lập dự phòng
nào trong giới hạn cho phép của chế độ kế toán đều là ý muốn chủ quan của ban giám
đốc. Như vậy biến kế toán này có thể điều chỉnh được. Nhưng giảm khoản nợ phải thu
do thắt chặt chính sách tín dụng của DN thì không thể thay đổi theo ý muốn của ban
giám đốc được (Ths. Nguyễn Thị Minh Trang, 2012). Vì vậy, đo lường phần biến kế
toán dồn tích có thể điều chỉnh được là đo lường hành vi điều chỉnh lợi nhuận của DN.
Các nhà nghiên cứu trước đây đã sử dụng nhiều cách khác nhau để đo lường biến kế
toán dồn tích có thể điều chỉnh.
Mô hình của Healy (1985): Healy là người đầu tiên phát triển mô hình tổng dồn
tích. Mô hình này sử dụng giá trị trung bình của tổng dồn tích trong suốt kỳ đo lường
như một đại diện cho biến kế toán dồn tích không thể điều chỉnh, vì thế biến kế toán
dồn tích có thể điều chỉnh được đo lường bằng chênh lệch giữa biến kế toán dồn tích
không thể điều chỉnh và tổng dồn tích.
Mô hình của Deangelo (1986), sử dụng tổng dồn tích năm trước để để đo lường

Nội dung quan trọng nhất trong báo cáo kiểm toán là ý kiến nhận xét của KTV
về thông tin được kiểm toán. Trong báo cáo về kiểm toán Báo cáo kiểm toán, ý kiến
nhận xét của kiểm toán viên thường có sự phân định rõ, đặc biệt là ý kiến nhận xét của
kiểm toán viên độc lập về BCTC đã được kiểm toán. Do vậy đã hình thành nên các
loại báo cáo kiểm toán khác nhau, trong đó có ý kiến nhận xét khác nhau.
Để hình thành nên ý kiến nhận xét về BCTC, KTV phải căn cứ vào kết quả
kiểm toán về đánh giá, soát xét để đưa ra các kết luận về các khía cạnh sau đây:
-

Các BCTC lập ra có phù hợp với các thông lệ, nguyên tắc và chuẩn mực kế
toán hiện hành hoặc chấp nhận hay không
Các thông tin tài chính có phản ánh trung thực và hợp lý tình hình tài chính trên
các mặt trọng yếu hay không.
Các thông tin tài chính có phù hợp với các quy định pháp lý hiện hành không.

Page 18


-

Toàn cảnh các thông tin tài chính của doanh nghiệp có nhất quán với hiểu biết
của KTV về hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp hay không.

Tùy theo kết quả của từng cuộc kiểm toán BCTC, KTV có thể đưa ra ý kiến
thuộc một trong các loại ý kiến sau đây:
-

Ý kiến chấp nhận toàn phần
Ý kiến chấp nhận từng phần
Ý kiến từ chối (từ chối đưa ra ý kiến)

thể do phạm vi kiểm toán bị giới hạn hay không đồng ý với đơn vị.
Page 19


Phạm vi kiểm toán bị giới hạn là khi KTV không thể thực hiện được các thủ tục
kiểm toán mà họ cho là cần thiết. Nguyên nhân giới hạn phạm vi kiểm toán có thể là
do bản thân đơn vị hoặc do hoàn cảnh khách quan. Nếu phạm vi kiểm toán bị giới hạn
mà KTV không thể thực hiện được các thủ tục kiểm toán cần thiết thì KTV không thể
thực hiện được các thủ tục kiểm toán cần thiết thì KTV không thể thực hiện được các
thủ tục kiểm toán cần thiết thì KTV không có đủ bằng chứng để đưa ra ý kiến chấp
nhận toàn phần. Phạm vi kiểm toán bị hạn chế ở mức độ không lớn thì KTV đưa ra ý
kiến chấp nhận từng phần, có yếu tố ngoại trừ.
KTV có thể không đồng ý với đơn vị về việc lựa chọn và áp dụng chuẩn mực,
chế độ kế toán hay tính thích hợp của các thông tin đưa ra trong thuyết minh BCTC ở
mức độ không lớn thì KTV cũng đưa ra ý kiến chấp nhận từng phần, có yếu tố ngoại
trừ.
Khi đưa ra ý kiến chấp nhận từng phần có yếu tố ngoại trừ, KTV phải mô tả rõ
ràng trong báo cáo kiểm toán những lý do chủ yếu dẫn đến loại ý kiến này do phạm vi
bị giới hạn hay bởi bất đồng với đơn vị. Những lý do đó phải được ghi trong một đoạn
riêng, đặt trước đoạn nêu ý kiến và có thể được tham chiếu đến một đoạn thuyết minh
chi tiết hơn trong BCTC (nếu có).
Theo chuẩn mực kiểm toán Việt Nam số 700 Báo cáo kiểm toán đưa ra ý kiến
chấp nhận từng phần còn được trình bày trong trường hợp kiểm toán viên và công ty
kiểm toán cho rằng BCTC chỉ phản ánh trung thực và hợp lý trên các khía cạnh trọng
yếu.
Yếu tố tùy thuộc là yếu tố trọng yếu nhưng không chắc chắn, như các vấn đề
liên quan đến tính liên tục hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp, hoặc một khoản
doanh thu có thể không được công nhận làm ảnh hưởng đến kết quả kinh doanh của
công ty.
Yếu tố tùy thuộc do kiểm toán viên nêu ra thường liên quan đến các sự kiện có

đó phải được đặt trước đoạn nêu ý kiến của KTV. Trong trường hợp này KTV không
được đưa ra ý kiến nhận xét dạng từ chối để né tránh việc đưa ra ý kiến dạng không
chấp nhận.
Trong trường hợp cần thiết, KTV có thể nêu dẫn chứng về những điểm không
đồng ý với đơn vị trong phần phụ lục đính kèm báo cáo kiểm toán.
Theo Nguyễn Viết Lợi và Đặng Ngọc Châu (2013) Giáo trình Lý thuyết Kiểm
toán, NXB Tài chính, Hà Nội.
2.1.3 Mối quan hệ giữa ý kiến kiểm toán và điều chỉnh lợi nhuận
Mục đích của kiểm toán là làm tăng độ tin cậy của người sử dụng đối với báo
cáo tài chính, thông qua việc kiểm toán viên đưa ra ý kiến về việc liệu báo cáo tài
chính có được lập, trên các khía cạnh trọng yếu, phù hợp với khuôn khổ về lập và
trình bày báo cáo tài chính được áp dụng hay không. Để kiểm toán viên có cơ sở để
đưa ra ý kiến kiểm toán, chuẩn mực kiểm toán quốc tế yêu cầu kiểm toán viên đạt
được sự đảm bảo hợp lý về việc liệu báo cáo tài chính, xét trên phương diện tổng thể,
có còn sai sót trọng yếu do gian lận hoặc do nhầm lẫn hay không. Sự đảm bảo hợp lý
là sự đảm bảo ở mức độ cao và chỉ đạt được khi kiểm toán viên đã thu thập được đầy
đủ bằng chứng kiểm toán thích hợp nhằm làm giảm rủi ro kiểm toán (là rủi ro do kiểm
toán viên đưa ra ý kiến không phù hợp khi báo cáo tài chính còn chứa đựng sai sót
trọng yếu) tới một mức độ thấp có thể chấp nhận được. Tuy nhiên, sự đảm bảo hợp lý
không phải là đảm bảo tuyệt đối, do luôn tồn tại những hạn chế vốn có của cuộc kiểm
toán làm cho hầu hết bằng chứng kiểm toán mà kiểm toán viên dựa vào để đưa ra kết
luận và ý kiến kiểm toán đều mang tính thuyết phục hơn là khẳng định.

Page 21


Mục tiêu tổng thể của kiểm toán viên khi thực hiện một cuộc kiểm toán báo cáo
tài chính đó là được sự đảm bảo hợp lý về việc liệu báo cáo tài chính, xét trên phương
diện tổng thể, có còn sai sót trọng yếu do gian lận hoặc nhầm lẫn hay không, từ đó
giúp kiểm toán viên đưa ra ý kiến về việc liệu báo cáo tài chính có được lập, trên các

cứu này dựa trên 90% công ty trong số tổng quan sát.
Jeff P. Boone, Inder K. Khuranab, K.K. Raman (2010) đã tìm thấy bằng chứng
cho rằng khuynh hướng Big 4 có khả năng phát hành ý kiến toán về vấn đề hoạt động
liên tục cao hơn so với non Big -4. Tuy nhiên mức độ sử dụng điều chỉnh lợi nhuận tại
Page 22


các công ty khách hàng này là giống nhau đối với cả hai. Trên phương diện đối với
nhà đầu tư, những nhà nghiên cứu này tìm ra rằng những khách hàng của các công ty
Big 4 thì sự kỳ vọng, phần bù rủi ro cổ phần của họ thấp hơn những công ty được big
4 kiểm toán.
Ngoài những nghiên cứu trên chúng tôi còn dựa vào những bài nghiên cứu sau
để đưa ra những nhân tố này Choi, Doogar, & Ganguly,2004; Craswell, Stokes, &
Laughton, 2002; DeFond et al., 2002; DeFond, Wong, & Li, 2000; Ettredge et al.,
2011; Francis & Yu, 2009; Gaeremynck, Van Der Meulen, & Willekens, 2008; Geiger
& Rama, 2006; Kothari, Leone, & Wasley, 2005; 1997; Reichelt & Wang, 2010.
Charalambos T. Spathis (2003) đã xem xét những thông tin tài chính và phi tài
chính có thể sử dụng để nâng cao khả năng lựa chọn báo cáo kiểm toán không chấp
nhận hay chấp nhận toàn phần. Họ đi vào kiểm tra những báo cáo kiểm toán, ý kiến
của kiểm toán viên và cả lưu ý trên báo cáo tài chính với những công ty nhận được ý
kiến kiểm toán không chấp nhận toàn phần và cả những công ty nhận ý kiến chấp
nhận toàn phần. Quyết định đến báo cáo kiểm toán có liên quan tới thông tin tài chính
như suy giảm tài chính hay thông tin phi tài chính như thông tin kiện tụng của công ty.
Mô hình này phát triển với độ chính xác 78%.
Và cụ thể những nhân tố có thể ảnh hưởng tới ý kiến kiểm toán không chấp
nhận toàn phần mà nhóm nghiên cứu đã tổng hợp được gồm có khoản dồn tích có thể
điều chỉnh, loại công ty kiểm toán công ty khách hàng, hệ số lợi nhuận trên tổng tài
sản, doanh thu trên tổng tài sản, tổng hàng tồn kho và khoản phải thu trên tổng tài sản,
tổng nợ trên vốn chủ sở hữu, liệu năm trước có tồn tại khoản lỗ hay nhận được ý kiến
kiểm toán không chấp nhận toàn phần hay không và cuối cùng là số ngày giữa ngày

những đánh giá này là cần thiết để tạo ra kết quả. Điều hiển nhiên rằng một công ty có
nhiều tự do đối với trích lập dự phòng này hơn là trong những giao dịch thực, bởi
những nghiệp vụ trích lập liên quan bởi nhiều nguyên nhân chủ quan hơn là khách
quan (Nadine Lybaert, Mieke Jans *, Raf Orens,2005). Bài nghiên cứu của Maureen
McNichols and G. Peter Wilson 2014 cho thấy với những công ty không thường
xuyên có lợi nhuận thấp sẽ có xu hướg điều chỉnh làm giảm thu nhập, những khoản
dồn tích có thể điều chỉnh không liên quan với “giả thuyết thổi phồng” lợi nhuận.
Bên cạnh đó Theo số liệu thống kê của Vietstock, trong hơn 96% doanh nghiệp
niêm yết đã ra BCTC bán niên soát xét 2014 (tính đến ngày 08/09 và không tính đến
doanh nghiệp bảo hiểm, chứng khoán, ngân hàng) có khoảng 60% đơn vị phải điều
chỉnh khoản mục lợi nhuận sau thuế so với trước soát xét. Trong đó phải kể đến các
doanh nghiệp phải điều chỉnh mà nguyên nhân chủ yếu là không trích lập đầy đủ các
khoản dự phòng. Khi trích lập dự phòng, đôi khi phải đòi hỏi người lập báo cáo phải
sử dụng các “xét đoán nghề nghiệp”, vì thế mà mang nặng tính chủ quan, khó có thể
đánh giá tính hợp lý của khoản mục này trên BCTC. Do đó mà, trong các bản báo cáo
kiểm toán, ý kiến ngoại trừ về việc doanh nghiệp không trích lập dự phòng đầy đủ là
tương đối phổ biến. Theo đó nhiều công ty không trích lập dự phòng để thấy các
khoản lãi lớn vẫn nằm trên báo cáo, nhưng nếu trích lập đúng thì chẳng những không
có lãi mà còn có thể lỗ. Theo số liệu thu thập từ nhóm nghiên cứu, trong năm 2014,
trong số các BCTC không được nhận ý kiến chấp nhận toàn phần từ kiểm toán viên
của các doanh nghiệp niêm yết trên sàn chứng khoán Việt Nam, chiếm trên 45,6 %
(42/92) nhận ý kiến kiểm toán không chấp nhận toàn phần liên quan đến trích lập dự
phòng
Bài nghiên cứu sử dụng số liệu từ các báo cáo kiểm toán với ý kiến kiểm toán
không chấp nhận toàn phần và để đánh giá mối liên quan giữa hệ giữa ý kiến kiểm
toán và điều chỉnh lợi nhuận trên phạm vi các công ty niêm yết trên sàn chứng khoán
Việt Nam.
Page 24



tại Thái Lan, bởi sự thiếu sót một cái nhìn tổng quát về điều chỉnh lợi nhuận trong
phạm vi Thái Lan.
Arnedo Ajona cùng cộng sự (2008) cũng nghiên cứu về mối quan hệ này đối
với những công ty có mức độ rủi ro cao, đặc biệt là các công ty sắp phá sản tại thị
trường Tây Ban Nha. Trong các trường hợp này, những kiểm toán viên của Big N tìm
thấy mức độ sử dụng dồn tích có thể điều chỉnh thấp hơn thì có khuynh hướng phát
hành ý kiến kiểm toán liên quan tới vấn đề hoạt động liên tục lớn hơn. Đối lập với
nước Mỹ, ngoài ý kiến về vấn đề hoạt động liên tục, báo cáo kiểm toán tại Tây Ban
Nha thường bao gồm ý kiến kiểm toán không chấp nhận toàn phần (modified
Page 25


opinion). Điều này cho phép họ nghiên cứu kĩ càng và chi tiết về mối quan hệ này hơn
so với dữ liệu của nước Mỹ. Kết quả của bài nghiên cứu cho thấy điều chỉnh lợi
nhuận có mối quan hệ ngược chiều với vấn đề hoạt động liên tục nhưng có mối quan
hệ cùng chiều với việc phát hành ý kiến kiểm toán không chấp nhận toàn phần vì lý do
khác hơn là vấn đề hoạt động liên tục. Mối quan hệ ngược chiều này được giải thích
bởi sự thận trọng của kiểm toán viên. Trong những trường hợp vi phạm GAAP, sự tác
động của những điều chỉnh qua các năm tới thu nhập rõ ràng và liên quan chặt chẽ
hơn là những điều chỉnh mới được vận dụng vào năm trước. Kết quả của họ cho rằng
nhận diện của các Big N trong một nước mà áp dụng luật pháp theo văn bản là cụ thể
cho từng trường hợp và dựa vào tham số rủi ro kinh doanh của mô hình rủi ro kiểm
toán.
Bài nghiên cứu của Andra Gajevszky (2014) cho thấy khi công ty thực hiện
điều chỉnh lợi nhuận và được kiểm toán bởi Big 4 và các chuyên gia trong kiểm toán
khác có xu hướng nhận được ý kiến không chấp nhận toàn phần. Bài nghiên cứu còn
tồn tại một số hạn chế. Hạn chế đầu tiên là về số lượng của bài khá nhỏ, chỉ có 60
công ty được điều tra. Tuy nhiên những mẫu này lại khá đồng đều (những nhân tố hạn
chế đã được xây dựng trong quá trình chọn lựa mẫu do đó những mẫu này sẽ không
tồn tại các thành phần hỗn tạp). Thứ hai là con số của các công ty thể hiện ý kiến kiểm


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status