BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
TRƯỜNG ĐẠI HỌC KINH TẾ TP. HCM
TỐNG NGUYÊN DŨNG
CẤU TRÚC TÀI CHÍNH VÀ HIỆU QUẢ HOẠT ĐỘNG
CỦA CÁC CÔNG TY NIÊM YẾT TRÊN SÀN HSX Ở
VIỆT NAM
Chuyên ngành: Tài chính ngân hàng
Mã số: 60340201
LUẬN VĂN THẠC SĨ KINH TẾ NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC:
PGS.TS. TRƯƠNG QUANG THÔNG TP. Hồ Chí Minh - Năm 2013
1
MỤC LỤC
2.4. Các phương pháp kiểm định 33
2.5. Kết quả thống kê mô tả: Đánh giá thực trạng chung của các doanh
nghiệp niêm yết trên sàn HSX 35
2.6. Ước lượng mô hình nghiên cứu cấu trúc vốn 38
2.6.1. Mô hình đòn bẩy tài chính DR 38
2.6.2. Mô hình đòn bẩy tài chính LDR 40
2.7. Ước lượng mô hình nghiên cứu hiệu quả hoạt động 42
2.7.1. Mô hình ROE 42
2.7.2. Mô hình ROA 44
2.7.3. Mô hình TOBINQ 46
CHƯƠNG 3: MỘT SỐ KIẾN NGHỊ NÂNG CAO HIỆU QUẢ HOẠT ĐỘNG
DOANH NGHIỆP 50
3.1. Đánh gíá thực trạng cấu trúc vốn và hiệu quả hoạt động các doanh
nghiệp niêm yết trên sàn chứng khoán HSX 50
3.2. Gợi ý chính sách nâng cao hiệu quả hoạt động doanh nghiệp Việt Nam
52
KẾT LUẬN 57
3
DANH MỤC BẢNG BIỂU
Bảng 2.1: Kết quả thống kê mô tả (Trang 35)
Bảng 2.2: Thống kê bình quân các biến theo năm (Trang 35)
Bảng 2.3 Kết quả kiểm định Hausman của mô hình DR (Trang 38)
Bảng 2.4: Kết quả ước lượng mô hình FEM của DR (Trang 39)
Bảng 2.5: Kết quả kiểm định Hausman của mô hình LDR (Trang 40)
Bảng 2.6: Kết quả ước lượng mô hình FEM của LDR (Trang 41)
Bảng 2.7: Kết quả kiểm định Hausman của mô hình ROE (Trang 42)
Bảng 2.8: Kết quả ước lượng mô hình ROE (Trang 42)
Bảng 2.9: Kết quả kiểm định Hausman của mô hình ROA (Trang 44)
MỞ ĐẦU
1. Lý do chọn đề tài
Cùng với quá trình chuyển đổi từ một nền kinh tế kế hoạch hóa sang kinh tế
thị trường, lĩnh vực tài chính ở Việt Nam đã phát triển và được tự do hóa nhanh chóng.
Bên cạnh lĩnh vực ngân hàng truyền thống, các thị trường chứng khoán và trái phiếu
đã nổi lên trong những năm gần đây, tuy nhiên quy mô còn nhỏ. Cho tới nay, hệ
thống ngân hàng đang là nguồn cung cấp tài chính đáng kể góp phần lớn vào sự phát
triển của các doanh nghiệp Việt Nam trong những năm vừa qua. Tuy nhiên từ năm
2011 đến nay, kinh tế Việt Nam đã phát triển chậm lại và gặp nhiều khó khăn, thậm
chí có rất nhiều doanh nghiệp đã phải đóng cửa. Cùng với đó là sự khủng hoảng của
thị trường tài chính, tăng trưởng tín dụng cao, nợ xấu ở các ngân hàng tăng và thị
trường chứng khoán đi xuống, thanh khoản của các CP giảm. Hoạt động của các
doanh nghiệp đã gặp rất nhiều khó khăn, nhiều doanh nghiệp làm ăn thua lỗ, thậm
chí phá sản. Có rất nhiều nguyên nhân ảnh hưởng xấu đến hiệu quả hoạt động của các
doanh nghiệp trong thời gian vừa qua. Nghiên cứu này của chỉ tập trung chủ yếu xem
xét ảnh hưởng của cấu trúc tài chính đến hiệu quả hoạt động của các doanh nghiệp,
đồng thời tìm hiểu ảnh hưởng của thanh khoản cổ phiếu đối với cấu trúc vốn của
doanh nghiệp và ảnh hưởng đến hiệu quả hoạt động doanh nghiệp.
Các công trình nghiên cứu trước đây về mối quan hệ giữa cấu trúc tài chính
và hiệu quả doanh nghiệp ở Việt Nam đã tìm thấy những mối tương quan giữa cấu
trúc vốn với hiệu quả hoạt động doanh nghiệp, tuy nhiên các nghiên cứu đó vẫn còn
một số hạn chế lớn. Hầu như tất cả các nghiên cứu về cấu trúc vốn và hiệu quả hoạt
động doanh nghiệp tại Việt Nam chỉ sử dụng dữ liệu dạng chéo do đó số quan sát
trong nghiên cứu ít và chưa xét đến tác động của yếu tố thời gian nên tính tổng quát
của dữ liệu không cao, các biến độc lập trong mô hình nghiên chưa nhiều, đa số
nghiên cứu chỉ tập trung vào đòn bẩy tài chính và hiệu quả hoạt động cùng một số
biến kiểm soát khác như quy mô doanh nghiệp, cơ hội phát triển. Chưa có một nghiên
6
+ Nghiên cứu định tính lập giả thuyết tương quan giữa các yếu tố liên quan
đến cấu trúc vốn và hiệu quả hoạt động doanh nghiệp, sau đó tiến hành định lượng,
lập mô hình hồi quy tuyến tính tính tác động cố định (FEM) và mô hình tác động
ngẫu nhiên (REM) để ước lượng ảnh hưởng của các yếu tố khả năng sinh lợi, quy mô
doanh nghiệp, cơ hội tăng trưởng, cơ cấu tài sản, tính thanh khoản cổ phiếu đối với
cấu trúc vốn; Nghiên cứu còn xác định ảnh hưởng của cấu trúc tài chính, tính thanh
khoản cổ phiếu, quy mô doanh nghiệp, vòng quay tài sản và cơ hội tăng trưởng đối
với hiệu quả hoạt động doanh nghiệp.
+ Nghiên cứu tiến hành thống kê mô tả, lập mô hình hồi quy với chương trình
Eview và kiểm định, phân tích kết quả thu được.
5. Ý nghĩa khoa học và thực tiễn của đề tài
Từ kết quả nghiên cứu này, chúng ta có thể thấy tỷ lệ nợ nhiều ở các công ty
hiện nay không tạo nên hiệu quả tích cực cho hiệu quả hoạt động kinh doanh của
chúng, trái lại còn tác động xấu đến hiệu quả kinh tế. Tuy nhiên việc gia tăng vốn chủ
sở hữu của các doanh nghiệp thay thế cho nợ đang gặp trở ngại vì đa số các công ty
không xem thị trường chứng khoán là một kênh huy động vốn hiệu quả. Một nguyên
nhân khác là việc duy trì tỷ lệ nợ cao trong giai đoạn hiện nay giúp giá trị thị trường
của các doanh nghiệp cao hơn. Do đó các công ty tiếp tục duy trì cơ cấu vốn không
tối ưu và điều này tiếp tục ảnh hưởng đến hiệu quả kinh doanh của chúng. Kết quả
nghiên cứu này gợi mở cho câu hỏi, có phải chăng các chính sách kinh tế ưu đãi lãi
suất, kích thích tăng trưởng tín dụng trong thời gian vừa qua chỉ làm các công ty lún
sâu thêm vào vòng xoáy vay nợ chứ chưa thể giải quyết được tận gốc vấn đề? Liệu
vòng xoáy trên sẽ được giải quyết nếu các doanh nghiệp có nhiều cơ hội tăng trưởng
hơn, công ty có nhiều dự án mới để sử dụng đồng vốn hiệu quả hơn, gia tăng lợi
nhuận tạo ra và thanh toán bớt nợ vay.
8
Kết quả nghiên cứu này giúp các nhà quản lý công ty có căn cứ ra quyết định
tài trợ cho doanh nghiệp hợp lý hơn; Giúp các nhà quản lý kinh tế có cơ sở khoa học
để quyết định liên quan đến các chính sách nâng cao hiệu quả hoạt động các doanh
cứu điều tra xác định những chi phí phát sinh do vay nợ có thể sẽ bù đắp lợi thế tấm
chắn thuế.
Trong lý thuyết đánh đổi truyền thống, mục tiêu một cấu trúc vốn tối ưu của
công ty dựa trên lợi thế về tấm chắn thuế và bất lợi của chi phí kiệt quệ tài chính.
Thêm nợ nhiều hơn làm tăng giá trị công ty thông qua nhận thức của thị trường về
hiện giá tấm chắn thuế cao hơn tuy nhiên rủi ro xảy ra tình trạng kiệt quệ tài chính
của doanh nghiệp cũng cao hơn. Kiệt quệ tài chính xảy ra khi không thể đáp ứng các
hứa hẹn với các chủ nợ hay đáp ứng một cách khó khăn, đôi khi kiệt quệ tài chính
còn đưa đến phá sản. Robichek và Myers (1966) lập luận rằng tồn tại các tác động
tiêu cực của chi phí phá sản đối với nợ để ngăn chặn các công ty từ việc mong muốn
10
có được khoản nợ lớn hơn. Leland (1994) đưa ra một mô hình đánh đổi cơ bản. Tại
cấu trúc vốn tối ưu, chi phí phá sản biên liên quan đến khoản nợ của doanh nghiệp
cân bằng với lợi ích thuế suất biên.
Do đó lý thuyết đánh đổi cho rằng doanh nghiệp nên gia tăng nợ cho đến khi
giá trị từ hiện giá tấm chắn thuế vừa đủ để được bù trừ, ở mức cận biên, bằng gia tăng
trong hiện giá các chi phí kiệt quệ tài chính. Các doanh nghiệp có tài sản hữu hình an
toàn và nhiều lợi nhuận chịu nhiều thuế nên muốn được hưởng khấu trừ thuế do đó
thường có tỷ lệ nợ mục tiêu cao. Các công ty không sinh lợi, nhiều tài sản vô hình rủi
ro nên trông cậy chủ yếu vào vốn cổ phần. Nghiên cứu của J.R.Graham (1990) đã
khám phá ra một khuynh hướng thích tài trợ nợ hơn của các doanh nghiệp thuộc dạng
chi trả thuế. Nghiên cứu thực nghiệm của M.Long và malitz (1995) xác nhận rằng
các doanh nghiệp nắm giữ phần lớn tài sản vô hình vay mượn ít hơn. Tuy nhiên lý
thuyết này không giải thích được tại sao một số công ty thành công nhất lại có rất ít
nợ.
Trong nghiên cứu “Bài toán cấu trúc vốn” của S.C. Myers được đăng trên tạp
chí Tài Chính (7/1984), ông đã đề cập đến lý thuyết trật tự phân hạng của tài trợ doanh
nghiệp như sau: Các doanh nghiệp thích tài trợ nội bộ hơn, khi dòng tiền phát sinh
nội bộ lớn hơn các chi tiêu vốn doanh nghiệp thanh toán hết nợ và đầu tư vào chứng
lường hiệu quả hoạt động như lợi nhuận trên tài sản (ROA), tốc độ tăng trưởng trong
doanh số, và thu nhập trước thuế. Do đó, mức độ nợ cao trong cơ cấu vốn sẽ làm giảm
hiệu quả hoạt động của công ty. Dilip Ratha, và cộng sự (2003) nghiên cứu mối quan
hệ giữa hiệu quả hoạt động của công ty (được đo bằng tỷ lệ lợi nhuận hoặc thu nhập
trước lãi vay và thuế) và tỷ lệ đòn bẩy (tỷ lệ nợ / tài sản) trong các nước đang phát
triển. Đầu tiên, họ tìm ra rằng cả lợi nhuận và thu nhập trước lãi, thuế và khấu hao
giảm xuống một tỷ lệ phần trăm so với tài sản khi các công ty có vay nợ tương đối
lớn hơn so với tài sản của họ.
Hiệu quả hoạt động công ty cũng có thể ảnh hưởng đến sự lựa chọn cấu trúc
vốn. Như Berger và Bonaccorsi di Patti (2006) chỉ ra, hồi quy mô hình hiệu quả hoạt
12
động công ty theo đòn bẩy có thể xáo trộn ảnh hưởng của cấu trúc vốn đối với hiệu
quả hoạt động vì sự tác động ngược từ mối quan hệ song song hai chiều giữa hai biến.
Ảnh hưởng của tác động ngược này là rất quan trọng trong cơ sở lý thuyết khi xem
xét các yếu tố: chi phí người đại diện (Jensen và Meckling, 1976; Myers, 1977; và
Harris và Raviv, 1990), vấn đề kiểm soát doanh nghiệp (Harris và Raviv, 1988), và
đặc biệt, thông tin bất cân xứng (Myers và Majluf, 1984; Myers, 1984) và thuế
(DeAngelo và Masulis, 1980;. và Bradley và cộng sự, 1984) có thể sẽ ảnh hưởng đến
giá trị của công ty như thế nào?
Điều này cũng tương tự như phát hiện của Harvey, Lins, và Roper (2001)
rằng, trong khi một số nợ có thể nâng cao giá trị thị trường trong các doanh nghiệp,
ảnh hưởng quá mức có thể gây ra tăng rủi ro tài chính. Thứ hai, ảnh hưởng nghịch
biên của sự gia tăng đòn bẩy đối với thu nhập lớn hơn đối với các công ty tham gia
vào thị trường nợ quốc tế so với các công ty khác. Tuy nhiên, họ đã không sử dụng
các biện pháp đo lường hiệu quả thị trường để nghiên cứu các mối quan hệ cấu trúc
tài chính doanh nghiệp và hiệu quả hoạt động doanh nghiệp
Xu Wei, và cộng sự (2005) phân tích mối quan hệ giữa hiệu quả hoạt động
và cơ cấu vốn của 1.130 công ty niêm yết tại Trung Quốc. Kết quả cho thấy hiệu quả
hoạt động của công ty có mối tương quan nghịch làm giảm nợ đối với cơ cấu vốn. Nó
Tian & Zeitun (2007) đã xem xét tác động của cơ cấu vốn đối với hiệu quả
hoạt động của các công ty ở Jordan, trong đó họ đưa vào các biến kiểm soát ngành
công nghiệp, nguy cơ khu vực, chẳng hạn như cuộc khủng hoảng vùng Vịnh 1990-
1991 và sự bùng nổ của Intifadah ở Bờ Tây trong Tháng Chín năm 2000. Họ đã sử
dụng một dữ liệu chéo đại diện của 167 công ty ở Jordan 1989-2003. Kết quả cho
thấy biến cấu trúc vốn công ty có tác động nghịch biến đáng kể đối với các biến đo
lường hiệu quả hoạt động, cả hiệu quả về mặt kế toán và hiệu quả về mặt thị trường.
Một phát hiện thú vị là tỷ lệ nợ ngắn hạn trên tổng mức tài sản có tác động đồng biến
đáng kể đối với hiệu quả hoạt động về mặt thị trường (Tobin Q), điều này đã củng cố
cho nghiên cứu của Myers (1977) lập luận rằng các công ty có nợ ngắn hạn cao trên
tổng tài sản có tốc độ tăng trưởng cao và hiệu quả hoạt động cao. Quy mô doanh
14
nghiệp cũng được tìm thấy có tác động thuận đối với hiệu quả hoạt động công ty giải
thích cho các công ty lớn có chi phí phá sản thấp. Mức không ý nghĩa của chỉ số thị
trường PE chỉ ra rằng thị trường chứng khoán Jordan là không hiệu quả, vì vậy
phương pháp đo lường hiệu quả hoạt động tốt nhất là đo lường bằng chỉ tiêu kế toán
ROA.
Ở Việt Nam, Trần Hùng Sơn và Trần Viết Hoàng ( 2008) kiểm định mối quan
hệ giữa cấu trúc vốn công ty và hiệu quả hoạt động bằng cách sử dụng mẫu dữ liệu
của 50 công ty phi tài chính trong thị trường chứng khoán TP Hồ Chí Minh trong giai
đoạn tháng 9 năm 2008. Kết quả cho thấy có một mối tương quan thuận giữa cấu trúc
vốn công ty và hiệu quả hoạt động. Hiệu quả hoạt động công ty có một mối tương
quan bậc hai hoặc bậc ba mạnh mẽ với cấu trúc vốn khi tỷ lệ nợ ở dưới 100%. Hiệu
quả hoạt động có mối tương quan thuận với cơ cấu vốn khi tỷ lệ nợ trong phạm vi
0,9755-2,799. Biến yếu tố nhà nước có tác động nghịch đến hiệu quả hoạt động công
ty, còn các biến tăng trưởng, quy mô (đo bằng logarit của tài sản của công ty) và tài
sản hữu hình không có tác động đáng kể đến hiệu quả hoạt động công ty. Tuy nhiên,
họ đã không sử dụng các phương pháp đo lường hiệu quả theo thị trường và không
tìm ra cấu trúc vốn tối ưu để tối đa hóa hiệu quả hoạt động của công ty. Họ đã không
công ty trên thị trường chứng khoán Malaysia từ 2006 đến 2010. Điều này cho thấy
các công ty có cổ phiếu thanh khoản cao có xu hướng sử dụng nhiều vốn chủ sở hữu
hơn để giảm chi phí sử dụng vốn
Trong những năm gần đây, đã có một số nghiên cứu trên thế giới tiến hành
để kiểm tra mối quan hệ giữa tính thanh khoản của chứng khoán và hiệu quả hoạt
động của doanh nghiệp. Vivian W.Fang , Thomas H.Noe và SheriTice (2008) tìm ra
rằng tính thanh khoản chứng khoán làm gia tăng hiệu quả hoạt động doanh nghiệp đo
lường bởi giá trị thị trường trên giá trị sổ sách. Các nguyên nhân gây tác dụng có lợi
của thanh khoản được kiểm tra là do thanh khoản làm tăng nội dung thông tin giá cả
thị trường về hiệu quả hoạt động và tính nhạy cảm trong quản lý. Hiệu quả của thanh
khoản thì không có bằng chứng ảnh hưởng đến lợi nhuận kỳ vọng hoạc suất sinh lợi.
16
Shilvia Hansen, Kim Sung Suk (2013) tìm ra rằng tính thanh khoản cao hơn
làm gia tăng giá trị doanh nghiệp. Chỉ số P/E không ảnh hưởng nhiều bởi tính thanh
khoản. Tính thanh khoản cao tương quan thuận với hiệu quả hoạt động doanh nghiệp,
làm gia tăng vốn chủ sở hữu trong cấu trúc vốn (giảm đòn bẩy tài chính) và gia tăng
hiệu quả hoạt động về mặt kế toán.
Tuy nhiên trong nghiên cứu mối quan hệ giữa cấu trúc vốn và hiệu quả hoạt
động tại Việt Nam, chưa có nghiên cứu nào đưa yếu tố tính thanh khoản chứng khoán
vào mô hình để phân tích. Trong bối cảnh tái cơ cấu hệ thống tài chính nói chung và
tái cơ cấu hệ thống Ngân hàng thương mại Việt Nam hiện nay, tôi nhận thấy việc
kiểm định tác động của yếu tố đòn bẩy tài chính cũng như tính thanh khoản chứng
khoán đến hiệu quả hoạt động của các doanh nghiệp là rất cần thiết. Nó cung cấp một
góc nhìn cơ sở và khoa học về sự phát triển của hai lĩnh vực ngân hàng và thị trường
chứng khoán Việt Nam trong thời gian qua đã đóng góp ra sao vào hiệu quả hoạt
động của doanh nghiệp. Cũng như lấp đầy khoảng trống trong nghiên cứu về mối
quan hệ giữa cấu trúc vốn và hiệu quả hoạt động doanh nghiệp.
1.2. Cấu trúc tài chính của doanh nghiệp
Cấu trúc tài chính doanh nghiệp là những mô hình tài chính của doanh nghiệp
chính thể hiện cấu trúc vốn của công ty, giúp nhà quản trị lựa chọn được cấu trúc vốn
hợp lý nhất và các nhà đầu tư thấy được rủi ro về tài chính của công ty từ đó dẫn đến
quyết định đầu tư của họ. Các tỷ số đòn bẩy thông thường là:
Tỷ số nợ =
Tỷ số nợ trên vốn cổ phần=
Tỷ số nợ dài hạn trên vốn cổ phần =
18
1.2.2. Cấu trúc vốn tài sản
Vốn tài sản là những phương tiện, tài sản, các yếu tố vật chất mà doanh
nghiệp sử dụng để thực hiện các hoạt động kinh doanh. Xét theo công dụng và đặc
điểm luân chuyển giá trị, vốn tài sản kinh doanh của một doanh nghiệp bao gồm: Vốn
tài sản cố định và vốn tài sản lưu động.
Vốn tài sản cố định là sự biểu hiện bằng tiền về toàn bộ tài sản cố định phục
vụ cho hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp. Tài sản cố định là tài sản hội đủ 2
điều kiện: Có thời gian sử dụng dài và có giá trị lớn.
Vốn tài sản lưu động là biểu hiện bằng tiền về toàn bộ tài sản lưu động của
doanh nghiệp để phục vụ cho hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp. Tài sản lưu
động chỉ tham gia vào một chu kỳ kinh doanh, tài sản lưu động luôn vận hành, thay
thế và chuyển hóa lẫn nhau trong các công đoạn của quá trình kinh doanh.
Vốn cố định và vốn lưu động là hai yếu tố chính tạo nên cấu trúc tài sản của
tỷ lệ đòn bẩy tăng lên, thì sẽ có một mối tương quan thuận giữa lợi nhuận và đòn bẩy.
Như vậy, giả thuyết 1 là:
H1: Lợi nhuận của công ty có tương quan thuận với đòn bẩy tài chính.
Cơ hội tăng trưởng: có thể ảnh hưởng đến lợi nhuận giữ lại và tác động đến
vay nợ của công ty. Công ty có nhiều cơ hội tăng trưởng cần nhiều vốn để đầu tư hơn
so với các công ty có ít cơ hội tăng trưởng do đó theo lý thuyết trật tự phân hạng, sau
khi sử dụng hết nguồn vốn nội bộ, các công ty này có xu hướng sử dụng nhiều nợ
vay. Mặt khác, Myers (1977) lập luận rằng các công ty có cơ hội tăng trưởng cao sẽ
có xu hướng có đòn bẩy thấp hơn. Ông lập luận rằng cơ hội tăng trưởng có thể tạo ra
hiệu ứng rủi ro đạo đức và có thể thúc đẩy các công ty mạo hiểm hơn. Điều này có
thể giải thích lý do tại sao các doanh nghiệp có cơ hội phát triển cao có thể được coi
là nguy hiểm và do đó gặp khó khăn trong việc huy động nợ với những điều khoản
ưu đãi. Như vậy, giả thuyết 2 có thể được giả định như sau:
H2: Cơ hội tăng trưởng tương quan với đòn bẩy tài chính.
20
Quy mô: được đo bằng logarit của tổng tài sản (Onaolapo và Kajola 2010)
Vì các doanh nghiệp lớn là đa dạng hơn và ít rủi ro thất bại hơn so với những doanh
nghiệp nhỏ hơn, tôi kỳ vọng quy mô sẽ tương quan đồng biến với đòn bẩy. Tuy nhiên,
Rajan và Zingales (1995) thảo luận về khả năng quy mô cũng có thể có tương quan
nghịch với đòn bẩy. Họ lập luận rằng quy mô có thể đại diện cho các thông tin bên
ngoài mà các nhà đầu tư có, và bất cân xứng thông tin thấp hơn đối với các công ty
lớn do đó các công ty lớn phải ở trong một vị trí tốt hơn để phát hành chứng khoán
nhạy cảm với thông tin như vốn chủ sở hữu hơn là nợ. Như vậy, giả thuyết 3 có thể
được giả định như sau:
H3: Quy mô doanh nghiệp có tương quan với đòn bẩy tài chính.
Cơ cấu tài sản: được đo bằng tỷ lệ giữa tài sản cố định hữu hình với tổng tài
sản (Titman và Wessels, 1988, Onaolapo và Kajola, 2010). Sự tồn tại của thông tin
bất cân xứng và chi phí người đại diện có thể làm những chủ nợ yêu cầu phải có bảo
đảm vật chất làm tài sản thế chấp (Myers, 1977; Harris và Raviv, 1990). Ví dụ, nếu
Biến phụ thuộc
Đòn bẩy tài chính: Được đo lường bằng chỉ số nợ và chỉ số nợ dài hạn
Tỷ số nợ (DR) =
Tỷ số nợ dài hạn (LDR) =
- Tổng nợ: bao gồm toàn bộ nợ ngắn hạn và nợ dài hạn tại thời điểm lập báo cáo
tài chính
- Tổng tài sản: Toàn bộ tài sản công ty tại thời điểm lập báo cáo tài chính
- Vốn cổ phần: Toàn bộ vốn chủ sở hữu công ty tại thời điểm lập báo cáo tài
chính
-
Cấu trúc vốn công ty
( Y )
Lợi nhuận công ty
(-)
( +/-)
Cơ hội tăng trưởng
(+/-)
Thanh khoản CP
( - )
Quy mô công ty
(+/-)
TSCĐ hữu hình
(+)
tôi quyết định sử dụng chỉ số khối lượng giao dịch bình quân (TURNOVER) để đo
lường chỉ số thanh khoản chứng khoán trong nghiên cứu của mình vì tính khả thi
trong thu thập dữ liệu và hiệu quả khi so sánh theo thời gian của nó
TURNOVER =
Với
là tổng giá trị giao dịch trong phiên giao dịch thứ i
Nt là tổng số phiên giao dịch trong năm t
1.3. Hiệu quả hoạt động doanh nghiệp
1.3.1. Khái niệm
Khái niệm về hiệu quả hoạt động là một chủ đề gây tranh cãi trong tài chính
bởi ý nghĩa rộng lớn của nó. Nghiên cứu về hiệu quả hoạt động doanh nghiệp xuất
phát từ lý thuyết tổ chức và quản trị chiến lược (Murphy, 1996). Hiệu quả hoạt động
đo lường trên cả phương diện tài chính và tổ chức. Hiệu quả hoạt động tài chính
như tối đa hóa lợi nhuận, hay tối đa hóa lợi nhuận trên tài sản, và tối đa hóa lợi ích
của cổ đông là vấn đề cốt lõi của tính hiệu quả của doanh nghiệp. Hiệu quả hoạt động
được đo lường bằng tốc độ tăng trưởng doanh thu và thị phần là một định nghĩa rộng
hơn về hiệu quả hoạt động.
Việc đo lường hiệu quả hoạt động doanh nghiệp có thể bị tác động bởi mục
đo lường hiệu quả của hoạt động quản lý doanh nghiệp, do đó, biến “vòng quay”,
đóng vai trò là biến điều khiển trong nghiên cứu này. Với kỳ vọng rằng có một mối
quan hệ đồng biến giữa vòng quay tài sản và hiệu quả hoạt động của doanh nghiệp,
giả thiết được kiểm định là:
H7: Có mối quan hệ đồng biến giữa vòng quay tài sản và hiệu quả hoạt động
của doanh nghiệp
Quy mô: Quy mô doanh nghiệp được xem như một yếu tố quan trọng để xác
định khả năng sinh lời của doanh nghiệp. Do đó, biến kiểm soát Quy mô (Size) được