Mục Lục
Mục Lục...............................................................................................................................................1
I- Khái quát chung về giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và các tài sản
gắn liền với đất....................................................................................................................................2
1.Khái niệm giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản gắn liền với đất..2
2.Yêu cầu cấp thiết của việc đưa ra những quy định mới về cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng
đất......................................................................................................................................................2
II-Những điểm mới của pháp luật về cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu
nhà ở và tài sản gắn liền với đất.........................................................................................................3
1.Nội dung những điểm mới.............................................................................................................3
1.1.Quy định về tên gọi.................................................................................................................3
1.2.Các trường hợp được cấp GCNQSDĐ quyền sở hữu nhà ở và các tài sản khác gắn liền với
đất..................................................................................................................................................4
1.3.Trình tự thủ tục cấp GCNQSDĐ quyền sở hữu nhà ở và các tài sản khác gắn liền với đất....5
1.4. Thẩm quyền cấp GCNQSDĐ quyền sở hữu nhà ở và các tài sản khác gắn liền với đất........5
1.5. Nghĩa vụ tài chính đối với người sử dụng đất........................................................................6
2.Ý nghĩa của những điểm mới trong việc cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu
nhà ở và tài sản gắn liền với đất........................................................................................................7
I- Khái quát chung về giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở
và các tài sản gắn liền với đất.
1.Khái niệm giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản
gắn liền với đất.
“Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản gắn liền
với đất (GCNQSDĐ) là giấy chứng nhận do cơ quan nhà nước có thẩm quyền cấp
cho người có quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở, quyền sở hữu tài sản khác gắn
liền với đất để bảo hộ quyền và lợi ích hợp pháp của người có quyền sử dụng đất,
quyền sở hữu nhà ở, quyền sở hữu tài sản khác gắn liền với đất.”(khoản 20 Điều 4
LĐĐ 2003).
GCNQSDĐ có một số đặc điểm sau:
định và pháp luật đất đai trước đó cũng chưa quy định, hoặc nếu có thì cũng chung
chung, rườm rà.Ngoài ra, sự ra đời của thị trường bất động sản – một thị trường biến
động phức tạp không ngừng, khiến nhu cầu cấp GCNQSDĐ, quyền sở hữu nhà và các
tài sản khác gắn liền với đất tăng lên và đòi hỏi pháp luật về đất đai phải có những
quy định mới chặt chẽ hơn.Chính vì vậy việc đổi mới pháp luật về cấp giấy chứng
nhận quyền sử dụng đất là một yêu cầu cấp thiết hiện nay.
II-Những điểm mới của pháp luật về cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất,
quyền sở hữu nhà ở và tài sản gắn liền với đất.
1.Nội dung những điểm mới
Với mong muốn tạo thuận tiện cho người sử dụng đất, đơn giản hóa thủ tục
hành chính, thống nhất việc quản lý đất đai và tài sản gắn liền với đất, năm 2009
Quốc hội đã thống nhất việc cấp chung một giấy chứng nhận cho cả quyền sử dụng
đất và quyền sở hữu nhà ở, công trình xây dựng...Dưới đây là những điểm mới trong
quy định của pháp luật hiện hành về cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền
sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất.
1.1.Quy định về tên gọi
Hoạt động mà cơ quan nhà nước có thẩm quyền công nhận quyền sử dụng đất
của các cá nhân, tổ chức được gọi là “hoạt động cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng
đất”. Nhưng ở mỗi thời kì khác nhau thì giấy chứng nhận quyền sử dụng đất lại có
những tên gọi khác nhau phù hợp cho từng thời kì. Ví dụ : Dưới thời kì của chế độ cũ
và thời kì nhà nước VNDCCH, giấy tờ hợp lệ về đất ở được liệt kê đầy đủ như :Bằng
khoán điền thổ; Trích lục, trích sao, bản đồ điền thổ, bản đồ phân chiết thửa, chứng
thư đoạn mãi đã thị thực, đăng tịch, sang tên tại Văn phòng chưởng khế, Ty điền địa,
Nha trước bạ. Sang LĐĐ 2003( sửa đổi, bổ sung 2001) đã xác định tên gọi “Giấy
chứng nhận quyền sử dụng đất”, thường được gọi là sổ đỏ; ngoài ra còn Giấy chứng
nhận quyền sở hữu nhà ở (sổ hồng mới) cấp theo Luật Nhà ở 2005 và NĐ
90/2006/NĐ-CP. Tới năm 2009, khi nghị định 88/2009/NĐ-CP được ban hành và có
hiệu lực thì Luật đất đai 2003 (sửa đổi bổ sung 2009 – 2010) mới xác định giấy chứng
nhận được đổi tên gọi thành : “ Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu
này thì thực hiện việc cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở
và tài sản khác gắn liền với đất theo quy định của Luật này.
3. Chính phủ quy định về hồ sơ, trình tự, thủ tục cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng
đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất.”
Điều 49 đã được bổ sung khoản 10 với các trường hợp khác theo quy định của
chính phủ, việc quy định như vậy rất đầy đủ những trường hợp người sử dụng đất trên
thực tế được Nhà nước công nhận quyền sử dụng đất hợp pháp từ nhiều nguồn, tạo ra
cách hiểu thống nhất trong luật, bao trùm tất cả các chủ thể sử dụng đất mà Nhà nước
cần có sự bảo đảm pháp lý cho quyền sử dụng của họ. Ngoài ra, Điều 50, 51 LĐĐ
4
2003 sửa đổi bổ sung năm 2009 cũng đã quy định rõ về cấp giấy chứng nhận quyền
sử dụng đất cho hộ gia đình, cá nhân, cộng đồng dân cư, tổ chức, cơ sở tôn giáo đang
sử dụng đất.
1.3.Trình tự thủ tục cấp GCNQSDĐ quyền sở hữu nhà ở và các tài sản khác gắn liền với đất
LĐĐ 2003 ra đời (sửa đổi bổ sung 2009, 2010) đã tạo ra sự thuận tiện và thông
thoáng trong việc cấp GCNQSDĐ cho người dân với những điểm mới sau :
- Thứ nhất, Trình tự cấp GCNQSDĐ là một vấn đề hết sức quan trọng nhằm
thực hiện công việc quản lí nhà nước. LĐĐ 1987, 1993 không quy định các
vấn đề cấp GCNQSDĐ trong các chương và các điều luật cụ thể dẫn tới việc
có nhiều cách hiểu khác nhau và một số cách hiểu sai lầm. Để khắc phục
vấn đề trên LĐĐ 2003 đã quy định thủ tục xin cấp GCNQSDĐ tại chương
V, gắn với các trường hợp cụ thể như: giao đất, thuê đất, chuyển mục đích
sử dụng…
- Hai là, việc cấp GCNQSDĐ được quy định trong LĐĐ 2003 đã rút gọn
nhiều bước, bãi bỏ điều 123 tại chương V, nhiều cơ quan trong quá trình
tiến hành thủ tục, đặc biệt là phân định nơi tiếp nhận hồ sơ quy định bao
gồm: văn phòng đăng kí quyền sử dụng đất theo cơ chế mở cửa giúp người
4. Cơ quan quản lý tài nguyên và môi trường cấp tỉnh và cấp huyện là đầu mối tiếp
nhận hồ sơ và thực hiện các thủ tục trình Ủy ban nhân dân cùng cấp quy định tại
khoản 1 và khoản 2 Điều này để cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở
hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất.”
Việc cấp GCNQSDĐ, quyền sở hữu nhà ở và các tài sản khác gắn liền với đất
được quy định trong LĐĐ 2003 cho phép các cơ quan có thẩm quyền cấp GCNQSDĐ
được ủy quyền cho cơ quan chuyên môn quản lý đất đai cùng cấp cấp GCNQSDĐ,
quyền sở hữu nhà ở và các tài sản khác gắn liền với đất. Đây là hoạt động duy nhất áp
dụng cơ chế ủy quyền, là một điểm mới của LĐĐ 2003 được quy định tại khoản 3
Điều 52.Hơn nữa, luật đất đai 2003( sửa đổi bổ sung 2009-2010) đã xác định rõ chức
năng là đầu mối tiếp nhận hồ sơ của cơ quan quản lý tài nguyên và môi trường cấp
tỉnh và cấp huyện. Chính những quy định mới này đã tạo ra sự thuận tiện cho người
sử dụng khi muốn đăng ký cấp GCNQSDĐ, quyền sở hữu nhà ở và các tài sản khác
gắn liền với đất.
1.5. Nghĩa vụ tài chính đối với người sử dụng đất
LĐĐ 2003 được ban hành cùng với các văn bản hướng dẫn thi hành, trong đó
có những điểm mới về cấp GCNQSDĐ, quyền sở hữu nhà ở và các tài sản khác gắn
liền với đất đã kéo theo sự thay đổi về nghĩa vụ tài chính đối với người sử dụng đất.
Ví dụ như đối với nghĩa vụ nộp Tiền sử dụng đất, tiền thuê đất - nghĩa vụ tiền
đề để người sử dụng đất được xem xét cấp GCNQSD đất thì qua các quy định của
LĐĐ hiện hành (cụ thể là khoản 6,7 Điều 50 LĐĐ 2003 và Điều 7 NĐ 88/NĐ-CP) ta
6
thấy điểm mới nổi bật nhất đó là LĐĐ hiện hành đã thu hẹp phạm vi các chủ thể phải
nộp tiền sử dụng đất và mở rộng phạm vi chủ thể không phải nộp tiền sử dụng đất đã
tạo động lực lớn thúc đẩy tiến độ cấp GCNQSD đất bởi do hiện nay rất nhiều trường
hợp sử dụng đất không có giấy tờ hợp lệ. Chủ trương này đã đáp ứng nguyện vọng
của người dân đồng thời đáp ứng được quy luật vận động và phát triển của nền kinh tế