CHƯƠNG 1
CƠ SỞ LÝ LUẬN CHUNG VỀ VỐN LƯU ĐỘNG VÀ HIỆU QUẢ
SỬ DỤNG VỐN LƯU ĐỘNG TRONG DOANH NGHIỆP
1.1 Tổng quan về vốn lưu động
1.1.1.Khái niệm, phân loại doanh nghiệp
Khái niệm doanh nghiệp:
Doanh nghiệp là tổ chức kinh tế có tên riêng, có tài sản, có trụ sở giao dịch ổn
định, được đăng ký kinh doanh theo quy định của pháp luật nhằm mục đích thực hiện
các hoạt động kinh doanh.
Phân loại doanh nghiệp:
Công ty TNHH có 2 loại:
- Công ty TNHH 2 thành viên trở lên lên là doanh nghiệp trong đó:
Thành viên có thể là tổ chức, cá nhân; số lượng thành viên không quá 50
người.
Thành viên chịu trách nhiệm về các khoản nợ và các nghĩa vụ tài sản khác của
doanh nghiệp trong phạm vi số vốn đã cam kết góp vào doanh nghiệp.
Phần vốn góp của thành viên có thể được chuyển nhượng.
Công ty TNHH không được phát hành cổ phiếu.
- Công ty TNHH 1 thành viên là doanh nghiệp do 1 tổ chức hoặc 1 cá nhân làm
chủ sở hữu. Chủ sở hữu chịu trách nhiệm về các khoản nợ và các nghĩa vụ tài sản khác
của doanh nghiệp trong phạm vi số vốn điều lệ của doanh nghiệp. Công ty TNHH 1
thành viên không được phát hành cổ phiếu.
Công ty cổ phần là doanh nghiệp, trong đó:
- Vốn điều lệ được chia thành nhiều phần bằng nhau, gọi là cổ phần.
- Cổ đông có thể là tổ chức, cá nhân; số lượng cổ đông tối thiểu là 3 và không
hạn chế số lượng tối đa.
- Cổ đông chỉ chịu trách nhiệm về nợ và các nghĩa vụ tài sản khác của doanh
nghiệp trong số vốn đã góp vào doanh nghiệp.
- Cổ đông có quyền tự do chuyển nhượng cổ phần của mình cho người khác
(trừ cổ phần ưu đãi biểu quyết. Đối với cổ đông sáng lập thì sau 3 năm mới được
chuyển nhượng).
- Vốn đầu tư ban đầu: Là vốn phải có khi thành lập doanh nghiệp, tức là vốn
cần thiết để đăng ký kinh doanh hoặc vốn đóng góp của Công ty trách nhiệm hữu hạn,
công tycổ phần, doanh nghiệp tư nhân hoặc vốn của Nhà nước giao.
- Vốn bổ sung: Là vốn tăng thêm do bổ sung từ lợi nhuận của doanh nghiệp,
do Nhà nước bổ sung bằng phân phối, phân phối lại nguồn vốn, do sự đóng góp của
các thành viên, do bán trái phiếu
- Vốn liên doanh: Là vốn do các bên cùng cam kết liên doanh với nhau để hoạt
động
- Vốn đi vay: Trong hoạt động kinh doanh ngoài vốn tự có, doanh nghiệp còn
sử dụng một số vốn đi vay khá lớn của các ngân hàng. Ngoài ra còn có các khoản
chiếm dụng lẫn nhau của các đơn vị nguồn hàng, khách hàng và bạn hàng.
Trên góc độ chu chuyển vốn:
2
- Vốn lưu động là biểu hiện bằng tiền của tài sản lưu động và vốn lưu thông.
Vốn lưu động tham gia hoàn toàn vào quá trình kinh doanh của doanh nghiệp và giá trị
của nó lại trở về trạng thái ban đầu sau mỗi vòng chu chuyển
- Vốn cố định: Là biểu hiện bằng tiền của tài sản cố định. Tài sản cố định dùng
trong sản xuất, kinh doanh tham gia hoàn toàn vào quá trình kinh doanh, nhưng về mặt
giá trị thì chỉ có thể thu hồi sau nhiều chu kỳ kinh doanh.
1.1.3. Khái niệm, đặc điểm, phân loại và vai trò của vốn lưu động trong doanh nghiệp
Khái niệm vốn lưu động:
Mỗi một doanh nghiệp muốn tiến hành sản xuất kinh doanh ngoài tài sản cố
định (TSCĐ) còn phải có các tài sản lưu động (TSLĐ) tuỳ theo loại hình doanh nghiệp
mà cơ cấu của TSLĐ khác nhau. Tuy nhiên đối với doanh nghiệp sản xuất TSLĐ được
cấu thành bởi hai bộ phận là TSLĐ sản xuất và tài sản lưu thông.
TSLĐ sản xuất bao gồm những tài sản ở khâu dự trữ sản xuất như nguyên vật
liệu chính, nguyên vật liệu phụ, nhiên liệu...và tài sản ở khâu sản xuất như bán thành
phẩm, sản phẩm dở dang, chi phí chờ phân bổ...
nghiệp có điều kiện tích tụ vốn để mở rộng sản xuất, không ngừng cải thiện đời sống
của công nhân viên chức của doanh nghiệp.
Vai trò của vốn lưu động:
Để tiến hành sản xuất, ngoài TSCĐ như máy móc, thiết bị, nhà xưởng... doanh
nghiệp phải bỏ ra một lượng tiền nhất định để mua sắm hàng hóa, nguyên vật liệu...
phục vụ cho quá trình sản xuất. Như vậy vốn lưu động là điều kiện đầu tiên để doanh
nghiệp đi vào hoạt động hay nói cách khác vốn lưu động là điều kiện tiên quyết của
quá trình sản xuất kinh doanh.
Ngoài ra vốn lưu động còn đảm bảo cho quá trình tái sản xuất của doanh nghiệp
được tiến hành thường xuyên, liên tục.Vốn lưu động còn là công cụ phản ánh đánh giá
quá trình mua sắm, dự trữ, sản xuất, tiêu thụ của doanh nghiệp.
Vốn lưu động còn có khả năng quyết định đến quy mô hoạt động của doanh
nghiệp.Trong nền kinh tế thị trường doanh nghiệp hoàn toàn tự chủ trong việc sử dụng
vốn nên khi muốn mở rộng quy mô của doanh nghiệp phải huy động một lượng vốn
nhất định để đầu tư ít nhất là đủ để dự trữ vật tư hàng hóa.Vốn lưu động còn giúp cho
doanh nghiệp chớp được thời cơ kinh doanh và tạo lợi thế cạnh tranh cho doanh
nghiệp.
Vốn lưu động còn là bộ phận chủ yếu cấu thành nên giá thành sản phẩm do đặc
điểm luân chuyển toàn bộ một lần vào giá trị sản phẩm. Giá trị của hàng hóa bán ra
được tính toán trên cơ sở bù đắp được giá thành sản phẩm cộng thêm một phần lợi
nhuận. Do đó, vốn lưu động đóng vai trò quyết định trong việc tính giá cả hàng hóa
bán ra.
1.1.4 Kết cấu vốn lưu động và nhân tố ảnh hưởng đến kết cấu vốn lưu động
Kết cấu vốn lưu động:
Kết cấu vốn lưu động là tỷ trọng thành phần vốn lưu động trong tổng số vốn lưu
động tại 1 thời điểm nhất định.
Việc nghiên cứu kết cấu vốn lưu động sẽ giúp chúng ta thấy được tình hình
phân bổ vốn lưu động và tỷ trọng mỗi khoản vốn chiếm trong các giai đoạn luân
chuyển để xác định trọng điểm quản lý vốn lưu động và tìm mọi biện pháp tối ưu để
nâng cao hiệu quả sử dụng vốn lưu động trong từng điều kiện cụ thể.
+ Các khoản mục của phần tài sản có mối quan hệ trực tiếp với doanh thu. Vì
vậy, chia các khoản mục của phần tài sản trên bảng tổng kết tài sản cho doanh thu, xác
định tỷ lệ phần trăm của các khoản mục này theo doanh thu.
+ Chia các khoản mục của phần nguồn vốn có mối quan hệ với doanh thu cho
doanh thu, xác định tỷ lệ phần trăm của các khoản mục này theo doanh thu. Vì chỉ một
số khoản mục của nguồn vốn có quan hệ trực tiếp với doanh thu.
Phương pháp dựa vào chu kỳ vận động của vốn lưu động
Khi phân tích quá trình vận động của vốn lưu động, có thể xác định được chu
kỳ vận động của vốn lưu động bằng công thức:
5
Thang Long University Library
Chu kỳ
Thời
Thời
luân
gian thu
gian luân
chuyển =
+ hồi các
chuyển
của VLĐ
khoản
của NVL
- Thời gian thanh toán các khoản phải trả là thời gian trung bình từ khi mua
nguyên vật liệu và lao động đến khi thanh toán các khoản phải trả này.
Thời gian thanh toán
các khoản phải trả
Các khoản phải trả bình quân
=
Giá vốn hàng bán bình quân ngày
Khi đã xác định được chu kỳ luân chuyển của vốn lưu động, doanh nghiệp có
thể tính được nhu cầu vốn lưu động cần tài trợ bằng công thức:
Nhu cầu vốn
lưu động
=
Chu kỳ luân
chuyển của vốn lưu
động (T)
x
Chi phí sản xuất
bình quân 1 ngày
(Csx)
1.1.6. Chính sách quản lí vốn lưu động
1.1.6.1. Quản lí vốn bằng tiền
Tiền mặt kết nối tất cả các hoạt động liên quan đến tài chính của DN. Vì thế,
những thất thoát trong hoạt động:
- Số lượng tiền mặt tại quỹ giới hạn ở mức thấp chỉ để đáp ứng những nhu cầu
thanh toán không thể chi trả qua ngân hàng. Ưu tiên lựa chọn nhà cung cấp có tài
khoản ngân hàng. Thanh toán qua ngân hàng có tính minh bạch cao, giảm thiểu rủi ro
gian lận, đáp ứng yêu cầu pháp luật liên quan. Theo Luật thuế Giá trị gia tăng (sửa
đổi), có hiệu lực từ ngày 01/01/2009, tất cả các giao dịch từ 20 triệu đồng trở lên nếu
không có chứng từ thanh toán qua ngân hàng sẽ không được khấu trừ thuế giá trị gia
tăng đầu vào.
- Xây dựng quy trình thu chi tiền mặt, tiền gửi ngân hàng, bao gồm danh sách
các mẫu bảng biểu, chứng từ (hợp đồng kinh tế, hóa đơn, phiếu nhập kho, biên bản giao
nhận...). Xác định quyền và hạn mức phê duyệt của các cấp quản lý trên cơ sở quy mô
của từng DN. Đưa ra quy tắc rõ ràng về trách nhiệm và quyền hạn của các bộ phận liên
quan đến quá trình thanh toán để việc thanh toán diễn ra thuận lợi và chính xác.
- Tuân thủ nguyên tắc bất kiêm nhiệm, tách bạch vai trò của kế toán và thủ quỹ.
7
Thang Long University Library
Có kế hoạch kiểm kê quỹ thường xuyên và đột xuất, đối chiếu tiền mặt tồn quỹ thực tế,
sổ quỹ với số liệu kế toán. Đối với tiền gửi ngân hàng, định kỳ đối chiếu số dư giữa sổ
sách kế toán của DN và số dư của ngân hàng để phát hiện kịp thời và xử lý các khoản
chênh lệch nếu có.
Xây dựng và phát triển các mô hình dự báo tiền mặt:
Tính toán và xây dựng các bảng hoạch định ngân sách giúp DN ước lượng được
khoảng định mức ngân quỹ là công cụ hữu hiệu trong việc dự báo thời điểm thâm hụt
ngân sách để DN chuẩn bị nguồn bù đắp cho các khoản thiếu hụt này. Nhà quản lý
phải dự đoán các nguồn nhập, xuất ngân quỹ theo đặc thù về chu kỳ tính doanh, theo
mùa vụ, theo kế hoạch phát triển của DN trong từng thời kỳ. Ngoài ra, phương thức dự
đoán định kỳ chi tiết theo tuần, tháng, quý và tổng quát cho hàng năm cũng được sử
Nhiều doanh nghiệp không đầu tư đầy đủ nguồn lực cũng như chính sách trong
việc theo dõi và thực hiện việc thu nợ, mặc dù khoản này chiếm phần không nhỏ trong
tổng vốn lưu động. Thời gian thu hồi nợ càng ngắn thì DN càng có nhiều tiền để quay
vòng vốn. Dễ rút ngắn thời gian trung bình từ khi bán hàng đến khi thu được nợ từ
khách hàng, nhà quản lý doanh nghiệp nên đưa ra một giải pháp toàn diện từ chính
sách, hệ thống, con người, công cụ hỗ trợ đến kỹ năng, quy trình thu nợ.
- Chính sách:
Quy đinh về điều kiện khách hàng đủ tiêu chuẩn được nợ, hạn mức nợ sau khi
đã kiểm tra các thang bậc đánh giá cho từng tiêu chí cụ thể về khả năng thanh toán,
doanh thu dự kiến, lịch sử thanh toán, cơ sở vật chất... của từng khách hàng.
Quy định về người phê chuẩn cho các hạn mức nợ khác nhau trong nội bộ DN, từ tổng
giám đốc, giám đốc bán hàng, trưởng phòng, đến nhân viên bán hàng. Thưởng hợp lý
cho những nhân viên thu nợ đạt được chỉ tiêu đề ra để động viên, khuyến khích nhân
viên làm việc. Các chính sách này là nền tảng, là tài liệu hướng dẫn cho cả hệ thống và
là một kênh thông tin hiệu quả liên kết các phòng, ban trong DN trong quá trình phối
kết hợp để quản lý công nợ.
- Con người:
DN nên có một bộ phận chuyên trách về quản lý thu nợ và theo dõi công nợ,
chia theo ngành nghề kinh doanh của khách hàng, vị trí địa lý hoặc giá trị công nợ.
Những nhân viên này được đào tạo về kỹ năng giao tiếp qua điện thoại, khả năng
thuyết phục khách hàng thanh toán hoặc cam kết thanh toán, cách xử lý các tình huống
khó, sử dụng thành thạo các phần mềm hỗ trợ...
- Công cụ:
DN nên đầu tư phần mềm kế toán có phần hành (module) hỗ trợ quản lý công
nợ. Những phần mềm ứng dụng này có thể ra được các báo cáo tổng hợp cũng báo cáo
công nợ chi đến khách hàng theo các tiêu chí quản trị, giúp tiết kiệm thời gian, nâng
cao hiệu quả công việc của nhân viên thu nợ.
- Quy trình:
Trước khi ký hợp đồng cho khách nợ, nhân viên bán hàng nên trực tiếp đến
thăm trụ sở công ty khách hàng để trao đổi, thu thập thông tin, tiến hành đánh giá xem
thiếu được, qua đó doanh nghiệp có thể giữ lượng tồn kho ở mức “vừa đủ”. Có nghĩa
là không “quá nhiều” mà cũng đừng “quá ít”.
-
Sắp xếp hàng hóa trong kho một cách khoa học:
Đây là một trong những yếu tố giúp cho quá trình tìm kiếm, vận chuyển, nhập
xuất kho được tiến hành nhanh hơn, tiết kiệm thời gian và sức lực. Có được cách sắp
xếp, bố trí hàng hóa, vật tư khoa học là một trong những yếu tố giúp tiết kiệm diện tích
kho bãi, gia tăng năng suất lao động cùng với việc tra xuất, quản lý, kiếm soát được
thuận tiện, dễ dàng hơn. Tuy nhiên, hầu hết các công ty đều gặp khó khăn trong việc
sắp xếp hàng hóa vật tư khoa học trên cả sổ sách lẫn trong kho bãi.
-
Thường xuyên kiểm kê hàng hóa theo định kỳ:
Công tác kiểm kê hàng hóa vật tư định kỳ thường xuyên là một hoạt động cần
thiết để xác định lượng hàng hóa thực tế trong kho với trên giấy tờ, sổ sách quản lý có
chính xác hay không? Và cũng là một hoạt động giúp hàng hóa được luân chuyển liên
tục, tránh tình trạng hàng hóa, vật tư bị hỏng hóc, hao mòn, giảm giá trị sử dụng trong
10
kho mới được thanh lý. Hiện nay, không duy trì việc thực hiện kiểm kê kho theo định
kỳ là một trong những sai lầm phổ biến nhất của nhiều người quản lý kho hàng khi số
lượng hàng hóa, nguyên vật liệu trong kho quá lớn.
-
Luôn đảm bảo định mức tồn kho tối ưu:
tốc độ tăng của vốn
Nâng cao hiệu quả sử dụng VLĐ là đảm bảo với số vốn hiện có, bằng các biện
pháp quản lý và tổng hợp nhằm khai thác triệt để khả năng vốn có để có thể mang lại
nhiều lợi nhuận hơn cho DN. Cụ thể, các DN phải thường xuyên tự đánh giá mình về
phương diện sử dụng vốn, để thấy được chất lượng quản lý SXKD, khả năng khai thác
11
Thang Long University Library
các tiềm năng sẵn có, biết được mình đang ở giai đoạn nào của quá trình phát triển,
đang ở vị trí nào trong quá trình cạnh tranh với các DN khác…Từ đó DN sẽ đề ra được
những biện pháp thiết thực để tăng cường quản lý và sử dụng tiết kiệm các yếu tố sản
xuất nhằm đạt hiệu quả kinh doanh cao hơn.
1.2.2 Các chỉ tiêu đánh giá hiệu quả sử dụng vốn lưu động
1.2.2.1. Các chỉ tiêu về khả năng thanh toán
Khả năng thanh toán của doanh nghiệp là năng lực về tài chính mà doanh
nghiệp có được để đáp ứng nhu cầu thanh toán các khoản nợ cho các cá nhân, tổ chức
có quan hệ cho doanh nghiệp vay hoặc nợ. Năng lực tài chính đó tồn tại dưới dạng tiền
tệ (tiền mặt, tiền gửi, …), các khoản phải thu từ các cá nhân mắc nợ doanh nghiệp, các
tài sản có thể chuyển đổi nhanh thành tiền như: hàng hóa, thành phẩm, hàng gửi
bán,… Các chỉ tiêu về khả năng thanh toán được rất nhiều người quan tâm như các
nhà đầu tư, người cho vay, các nhà cung cấp,… Họ luôn đặt ra câu hỏi liệu doanh
nghiệp có đủ khả năng trả các món nợ đến hạn không.
Khả năng thanh toán ngắn hạn
Khả năng thanh toán ngắn hạn phản ánh mối quan hệ giữa tài sản ngắn hạn và
các khoản nợ ngắn hạn. Nó là thước đo về khả năng trả nợ ngay, không dựa vào việc
-
bán các loại vật tư hàng hóa và được xác định theo công thức:
=
nhanh
Tổng Nợ ngắn hạn
Một doanh nghiệp có tỷ số thanh toán nhanh nhỏ hơn 1 sẽ khó có khả năng
hoàn trả các khoản nợ ngắn hạn và phải được xem xét cẩn thận.Ngoài ra, nếu tỷ số này
nhỏ hơn hẳn so với tỷ số thanh toán hiện hành thì điều đó có nghĩa là tài sản ngắn hạn
của doanh nghiệp phụ thuộc quá nhiều và hàng tồn kho.
-
Khả năng thanh toán tức thời
Khả năng thanh toán tức thời cho biết một doanh nghiệp có thể trả được các
khoản nợ của mình nhanh đến đâu, vì tiền và các khoản tương đương tiền là những tài
sản có tính thanh khoản cao nhất. Khả năng thanh toán tức thời được thể hiện bằng
công thức:
Tiền và các khoản tương đương tiền
Khả năng thanh toán tức
thời
=
Tổng Nợ ngắn hạn
Nếu hệ số thanh toán tức thời cao phản ánh khả năng thanh toán nợ của doanh
nghiệp là tốt và ngược lại.
-
Tỷ suất sinh lời trên vồn chủ sở hữu (ROE)
Tỷ suất sinh lời trên vốn chủ sở hữu phản ánh khả năng sinh lời của vốn chủ sở
hữu, cho biết cứ 100 đồng vốn chủ sở hữu sẽ tạo ra bao nhiêu đồng lợi nhuận, được
thể hiện bằng công thức:
Lợi nhuận ròng
ROE
=
Vốn chủ sở hữu bình quân
Tỷ suất sinh lời trên vốn chủ sở hữu càng cao chứng tỏ khả năng sinh lời của
vốn chủ sở hữu càng lớn và ngược lại.
Tỷ suất sinh lời trên doanh thu (ROS)
Tỷ suất sinh lời trên doanh thu xem xét lợi nhuận trong mối quan hệ với doanh
thu, cho biết cứ mỗi 100 đồng doanh thu mà doanh nghiệp thực hiện trong kì có bao
nhiêu đồng là lợi nhuận, được thể hiện bằng công thức:
-
Lợi nhuận ròng
ROS
=
Doanh thu thuần
Trong đó:
VLĐ bình quân
VLĐ đầu kỳ + VLĐ cuối kỳ
=
2
Nếu chỉ số này tăng so với những kì trước thì chứng tỏ doanh nghiệp hoạt động
luân chuyển vốn có hiệu quả hơn và ngược lại.
Thời gian của một vòng chu chuyển
Số ngày luân
chuyển VLĐ
Số ngày trong kỳ
=
Số vòng quay VLĐ trong kỳ
Chỉ tiêu này thể hiện số ngày cần thiết cho một vòng quay của vốn lưu động trong
kì phân tích.Thời gian luân chuyển của vốn lưu động càng ngắn thì chứng tỏ doanh
nghiệp sử dụng vốn lưu động rất linh hoạt, tiết kiệm và tốc độ luân chuyển của nó sẽ
càng lớn.
Hệ số đảm nhiệm của vốn lưu động
Hệ số đảm nhiệm
VLĐ
VLĐ bình quân
=
Số vòng quay
=
hàng tồn kho
Hàng tồn kho bình quân
Số vòng quay các khoản phải thu
Số vòng quay các khoản phải thu phản ánh tốc độ chuyển đổi các khoản phải
thu thành tiền mặt của doanh nghiệp, hệ số này càng cao thì tốc độ thu hồi các khoản
phải thu nhanh, kì thanh toán ngắn và doanh nghiệp nhanh chóng thu hồi vốn.
Doanh thu thuần
Số vòng quay các
khoản phải thu
=
Các khoản phải thu bình quân
Kỳ thu tiền bình quân
Kỳ thu tiền bình
quân
360
=
Số vòng quay các khoản phải thu
xuyên thu hồi được tiền bán hàng, giúp chủ động chi trả các khoản nợ đến hạn, đảm
bảo nguồn vốn trong kinh doanh. Với những doanh nghiệp có chu kì kinh doanh dài,
nhu cầu vốn lưu động biến động nhiều, lượng tiền thu từ bán hàng không ổn định, tình
hình thanh toán, chi trả gặp nhiều khó khăn gây ảnh hưởng đến hiệu suất sử dụng vốn
lưu động. Vì vậy các nhà quản lý cần phải căn cứ vào đặc điểm chu kì sản xuất kinh
doanh cũng như tình hình thực tế của doanh nghiệp mà có các giải pháp kịp thời.
Lạm phát: Một nền kinh tế phát triển tốt và bền vững sẽ tạo ra sức mua của thị
trường lớn, ổn định hay gia tăng tình hình tiêu thụ sản phẩm, gia tăng lợi nhuận cho
doanh nghiệp, góp phần tăng hiệu quả sử dụng vốn. Do ảnh hưởng của nền kinh tế có
lạm phát cao, sức mua của đồng tiền bị giảm sút làm vốn lưu động trong doanh nghiệp
bị giảm dần theo tốc độ trượt giá của tiền tệ.
Rủi ro: Khi tham gia kinh doanh trong nền kinh tế thị trường, doanh nghiệp
thường gặp rủi ro bất thường như thị trường có nhiều thành phần kinh tế tham gia, thị
trường không ổn định…Ngoài ra, doanh nghiệp còn gặp phải những rủi ro do thiên tai
là hỏa hoạn, lũ lụt…cũng có thể gây ra tình trạng mất vốn kinh doanh nói chung và
vốn lưu động nói riêng.
1.3.2. Nhân tố chủ quan
Xác định nhu cầu vốn lưu động: Khi doanh nghiệp xác định nhu cầu vốn lưu
động thiếu chính xác sẽ dẫn đến tình trạng thừa hoặc thiếu vốn cho sản xuất kinh
doanh. Cả hai chiều hướng đó đều ảnh hưởng không tốt đến quá trình hoạt động sản
xuất kinh doanh cũng như hiệu quả sử dụng vốn lưu động của doanh nghiệp. Nếu thiếu
vốn sẽ gây tình trạng gián đoạn quá trình hoạt động sản xuất kinh doanh ảnh hưởng
đến năng suất lao động, còn thừa vốn sẽ gây nên tình trạng ứ đọng vốn, hạn chế vòng
quay của vốn, do đó mà việc sử dụng vốn không có hiệu quả.
Cơ cấu đầu tư vốn: Cơ cấu đầu tư không hợp lý là nhân tố ảnh hưởng tương đối
lớn đến hiệu quả sử dụng vốn. Cơ cấu vốn được xác định không hợp lý sẽ xảy ra tình
trạng ở một bộ phận thì thừa vốn không phát huy hết tác dụng, trong khi đó lại thiếu
vốn trầm trọng ở một số khâu khác, từ đó dẫn đến tình trạng hiệu quả sử dụng vốn lưu
động thấp.
17
trong các doanh nghiệp thường bao gồm các bộ phận: Kế hoạch nhu cầu vốn lưu động, kế
hoạch nguồn vốn lưu động, kế hoạch sử dụng vốn lưu động theo thời gian.
Kế hoạch nhu cầu vốn lưu động: Để xây dựng một kế hoạch vốn lưu động
đầy đủ, chính xác thì khâu đầu tiên doanh nghiệp phải xác định đúng nhu cầu vốn lưu
động cho hoạt động sản xuất kinh doanh. Đây là bộ phận kế hoạch phản ánh kết quả
tính toán tổng nhu cầu vốn lưu động cho năm kế hoạch, nhu cầu vốn cho từng khâu:
dự trữ sản xuất, sản suất và khâu lưu thông. Xác định nhu cầu vốn lưu động cho sản
xuất kinh doanh chính xác, hợp lý một mặt bảo đảm cho quá trình sản xuất và tiêu thụ
sản phẩm của doanh nghiệp được tiến hành liên tục, mặt khác sẽ tránh được tình trạng
18
ứ đọng vật tư, sử dụng lãng phí vốn, không gây nên tình trạng căng thẳng giả tạo về
nhu cầu vốn kinh doanh của doanh nghiệp.
Kế hoạch nguồn vốn lưu động: Sau khi xác định được nhu cầu vốn lưu động
thường xuyên cần thiết để đảm bảo cho sản xuất được liên tục, đều đặn thì doanh
nghiệp phải có kế hoạch đáp ứng nhu cầu vốn đó bằng các nguồn vốn ổn định, vững
chắc.Vì vậy một mặt doanh nghiệp phải có kế hoạch dài hạn để huy động các nguồn
vốn một cách tích cực và chủ động. Mặt khác hàng năm căn cứ vào nhu cầu vốn lưu
động cho năm kế hoạch, doanh nghiệp phải xác định được quy mô vốn lưu động thiếu
hoặc thừa so với nhu cầu vốn lưu động cần phải có trong năm.
Trong trường hợp số vốn lưu động thừa so với nhu cầu, doanh nghiệp cần có
biện pháp tích cực để tránh tình trạng vốn bị ứ đọng, chiếm dụng. Trường hợp vốn lưu
động thiếu so với nhu cầu, doanh nghiệp cần phải có biện pháp tìm những nguồn tài
trợ như:
Nguồn vốn lưu động từ nội bộ doanh nghiệp (bổ sung từ lợi nhuận để lại).
Huy động từ nguồn bên ngoài: Nguồn vốn tín dụng, phát hành trái phiếu, cổ
phiếu, liên doanh liên kết.
Để đảm bảo hiệu quả kinh tế cao nhất, doanh nghiệp phải có sự xem xét và lựa
Trong khi vận dụng các mộ hình quản lý vốn lưu động khoa học, doanh nghiệp
cần phải biết kết hợp các mô hình tạo sự thống nhất trong quản lý tổng thể vốn lưu
động của doanh nghiệp. Quản lý tốt vốn lưu động sẽ tạo điều kiện cho doanh nghiệp
chủ động, kịp thời đưa ra những biện pháp giải quyết các vấn đề phát sinh đảm bảo
việc thực hiện kế hoạch vốn lưu động, tránh thất thoát, lãng phí từ đó nâng cao hiệu
quả sử dụng vốn lưu động.
Rút ngắn chu kỳ sản xuất kinh doanh, giảm giá thành sản xuất thông qua việc
áp dụng các tiến bộ khoa học kỹ thuật vào sản xuất. Ta biết chu kỳ kinh doanh của
doanh nghiệp phụ thuộc vào độ dài thời gian của các khâu: dự trữ, sản xuất và lưu
thông. Khi doanh nghiệp áp dụng các tiến bộ khoa học kỹ thuật vào sản xuất sẽ đảm
bảo sản xuất ra những sản phẩm có chất lượng cao, năng suất cao, giá thành hạ.Điều
này đồng nghĩa với việc thời gian của khâu sản xuất sẽ trực tiếp được rút ngắn. Mặt
khác, với hiệu quả nâng cao trong sản xuất sẽ ảnh hưởng tích cực đến khâu dự trữ và
lưu thông: chất lượng sản phẩm cao, giá thành hạ sẽ góp phần đảm bảo cho doanh
nghiệp tiêu thụ được hàng hoá nhanh hơn, giảm thời gian khâu lưu thông, từ đó doanh
nghiệp sẽ chủ động hơn trong dự trữ, tạo sự luân chuyển vốn lưu động nhanh hơn.
Tổ chức tốt công tác quản lý tài chính trên cơ sở không ngừng nâng cao trình độ
cán bộ quản lý tài chính
Nguồn nhân lực luôn được thừa nhận là yếu tố quan trọng quyết định sự thành
bại của mỗi doanh doanh nghiệp. Sử dụng vốn lưu động là một phần trong công tác
quản lý tài chính của doanh nghiệp, được thực hiện bởi các cán bộ tài chính do đó
năng lực, trình độ của những cán bộ này có ảnh hưởng trực tiếp đến công tác quản lý
tài chính nói chung và hiệu quả sử dụng vốn lưu động nói riêng.
Doanh nghiệp phải có chính sách tuyển lựa chặt chẽ, hàng năm tổ chức các đợt
học bổ sung và nâng cao kiến thức, nghiệp vụ tài chính cho các cán bộ nhân viên nhằm
đảm bảo và duy trì chất lượng cao của đội ngũ cán bộ nhân viên quản lý tài chính.
Tổ chức quản lý tài chính khoa học, tuân thủ nghiêm pháp lệnh kế toán, thống
kê, những thông tư hướng dẫn chế độ tài chính của Nhà nước. Quản lý chặt chẽ, kết
hợp với phân công nhiệm vụ cụ thể trong quản lý tài chính, cũng như trong từng khâu
20
Thời kỳ đầu thành lập: Những ngày đầu thành lập năng lực hoạt động nhỏ,
doanh nghiệp chỉ kinh doanh duy nhất một khách sạn với 2 kế toán viên, 1 quản lý, và
5 nhân viên bán hàng. Tổ chức quản lý theo mô hình trực tuyến chức năng, người ra
quyết định cuối cùng về toàn bộ hoạt động của công ty là giám đốc. Thu nhập bình
quân trên lao động là 3.000.000 đồng/tháng/người.
Năm 2010: Gần ba năm sau ngày thành lập, Công ty vẫn liên tục duy trì hoạt
động và tổ chức bộ máy quản lý như cũ, cung cấp và kinh doanh hàng hóa cũ và kinh
doanh thêm nhà hàng, dịch vụ ăn uống nên nhìn chung doanh thu bán hàng đã tăng
trưởng nhưng tốc độ chưa cao. Đó cũng là tình trạng chung của các Công ty vừa và
nhỏ trong những năm đầu thành lập. Số lượng lao động toàn Công ty 22 người, thu
nhập bình quân trên lao động tăng lên đáng kể đạt 3.150.000 đồng/tháng/người.
Từ năm 2014 đến nay: Công ty vẫn tiếp tục duy trì mô hình quản lý như cũ,
không ngừng mở rộng kinh doanh trên tất cả các loại hình dịch vụ nhà hàng và khách
sạn. Công ty ngoài việc kinh doanh truyền thống, thì nay mở thêm các chương trình
quảng cáo trên mạng, thương mại điện tử. Nhờ vậy đã tạo ra thêm nhiều công ăn việc
làm cho người lao động. Sau khi mở rộng kinh doanh doanh thu bán hàng của Công ty
tăng lên, thu nhập bình quân trên lao động tăng lên 3.260.000 đồng/ tháng.
22
Qua gần 8 năm xây dựng và phát triển, Công ty đã dần dần khẳng định vị trí của
mình trên thị trường khu vực thành phố Hà Nội.
2.1.2 Cơ cấu tổ chức và quản lý của công ty TNHH thương mại và phát triển Minh Huy
2.1.2.1 Ngành nghề kinh doanh của công ty
1. Dịch vụ lưu trú ngắn ngày. Chi tiết: Khách sạn, nhà nghỉ, nhà nghỉ kinh
doanh dịch vụ ngắn ngày.
2. Nhà hàng và các dịch vụ ăn uống phục vụ lưu động (không bao gồm kinh
doanh quán bar, phòng hát karaoke, vũ trường);
3. Dịch vụ đồ uống (không bao gồm kinh doanh quán bar)
PHÒNG KINH DOANH
Trưởng phòng kinh
doanh
Nhân viên kế
toán
Nhân viên bán hàng
(Nguồn: Phòng kinh doanh)
2.1.3 Chức năng nhiệm vụ cơ bản của các bộ phận.
2.1.3.1 Hội đồng cổ đông
Là cơ quan đại diện trực tiếp chủ sở hữu công ty, là cơ quan quản lý công ty, có
toàn quyền nhân danh công ty để quyết định mọi vấn đề liên quan đến mục đích và
quyền lợi của công ty.
2.1.3.2 Giám đốc
Chỉ đạo các đơn vị trực thuộc thực hiện các quy định của công ty, có quyền
quyết định trong mọi hoạt động của công ty và chịu trách nhiệm trước pháp luật về
hoạt động của công ty.
2.1.3.3 Phòng tài chính – kế toán
Tổ chức chặt chẽ công tác hạch toán kế toán, giám sát toàn bộ hoạt động sản
xuất kinh doanh của doanh nghiệp, lập báo cáo quyết toán theo quy định của Bộ tài
chính đề ra, theo dõi thu hồi công nợ kịp thời, đầy đủ chính xác, không để thất thoát tài
sản của Công ty… Lập ra kế hoạch thu chi tài chính của doanh nghiệp, theo dõi tình
hình kinh doanh của Công ty để ra những nhận định, nhận xét về tình hình tài chính
của doanh nghiệp kịp thời báo cáo với Giám đốc.
2.1.3.4 Phòng kinh doanh
Quản lý việc tiêu thụ hàng hóa, giúp lãnh đạo nắm bắt được thông tin biến động
về giá cả và số lượng hàng hóa của các đối thủ cạnh tranh trên thị trường, kịp thời đề
25
Thang Long University Library