Đánh giá hiệu quả kinh tế sản xuất lúa thơm trên cánh đồng mẫu lớn xã Tư Mại, huyện Yên Dũng, tỉnh Bắc Giang - Pdf 40

BỘ NÔNG NGHIỆP VÀ PHÁT TRIỂN NÔNG THÔN
HỌC VIỆN NÔNG NGHIỆP VIỆT NAM

KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP
ĐỀ TÀI
ĐÁNH GIÁ HIỆU QUẢ KINH TẾ SẢN XUẤT LÚA THƠM
TRÊN CÁNH ĐỒNG MẪU LỚN XÃ TƯ MẠI, HUYỆN YÊN DŨNG,
TỈNH BẮC GIANG

Tên sinh viên:

Nguyễn Văn Hùng

Chuyên ngành đào tạo: Quản lý kinh tế
Lớp:

K56 QLKT

Niên khóa:

2011 - 2015

Giảng viên hướng dẫn: T.S Nguyễn Thị Dương Nga

Hà Nội – 2015


LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan rằng, số liệu và kết quả nghiên cứu trong khóa luận này là
trung thực và chưa hề được sử dụng để bảo vệ một học vị nào.
Tôi xin cam đoan rằng, mọi sự giúp đỡ cho việc thực hiện khóa luận này đã

ii


TÓM TẮT KHÓA LUẬN
Xã Tư Mại là một vùng có tiềm năng về sản xuất nông nghiệp đặc biệt
là cây lúa. Hưởng ứng phong trào phát động của Bộ Nông Nghiệp và phát
triển nông thôn về việc xây dựng cánh đồng mẫu lớn trên khắp cả nước. Đến
nay toàn xã đã có tới 315ha lúa thơm, chiếm 50% tổng diện tích cấy lúa hàng
năm, đặc biệt lúa thơm có vai trò kinh tế quan trọng mỗi ha lúa thơm cho thu
nhập khoảng 4,5 triệu đồng mà chi phí đầu tư không tăng mà còn giảm được
cả lượng thóc giống, lượng phân đạm, thuốc BVTV, nước tưới và công lao
động so với loại lúa thường khác, lúa thơm cung cấp sản phẩm gạo thơm chất
lượng thơm ngon, tạo sự phát triển đa dạng của hệ thống cậy trồng. Trong giai
đoạn đầu thực hiện, mô hình thí điểm này đem lại hiệu quả khả quan nên
huyện đã tiếm tục mở rộng thí điểm mô hình trong hai vụ Hè Thu và Thu
Đông. Tuy nhiên trong quá trình thực hiện cũng gặp không ít khóa khăn, trở
ngại từ khâu đầu vào cho đến quá trình thực hiện, vẫn chưa phát huy hết tiềm
năng của mình. Đề tài “Đánh giá hiệu quả kinh tế sản xuất lúa thơm trên
cánh đồng mẫu lớn xã Tư Mại, huyện Yên Dũng, tỉnh Bắc Giang”
Với mục tiêu chung của đề tài là đánh giá thực trạng và phân tích hiệu
quả kinh tế sản xuất lúa thơm trên mô hình cánh đồng mẫu lớn ở xã Tư Mại,
những điều kiện, tiêu chuẩn sản xuất của mô hình, từ đó đề ra phương hướng
cho việc mở rộng mô hình. Đề tài được nghiên cứu với 4 mục tiêu cụ thể sau:
- Góp phần hệ thống hóa cơ sở lý luận và thực tiễn về hiệu quả sản xuất lúa
thơm trên cánh đồng mẫu lớn tại xã Tư Mại, huyện Yên Dũng, tỉnh Bắc Giang.
- Đánh giá hiệu quả trong sản xuất lúa thơm trên cánh đồng mẫu lớn tại
xã Tư Mại, huyện Yên Dũng, tỉnh Bắc Giang trong thời gian qua.
- Phân tích các yếu tố ảnh hưởng đến hiệu quả sản xuất lúa thơm tại xã
Tư Mại, huyện Yên Dũng, tỉnh Bắc Giang.
- Đề xuất các giải pháp để nâng cao hiệu quả sản xuất lúa thơm cho các

iv


1. BT7

: Bắc thơm số 7

2. HT1

: Hương thơm số 1

3. SXNN

: Sản xuất nông nghiệp

4. PTSX

: Phát triển sản xuất

5. KHKT

: Khoa học kỹ thuật

6. BVTV

: Bảo vệ thực vật

7. TTKN

: Trung tâm khuyến nông

Caûm
v


MỤC LỤC
* Bảo vệ thực vật trong sản xuất lúa thơm...........................................................................................66

vi


DANH MỤC BẢNG
Bảng 2.1

Giá trị dinh dưỡng của lúa gạo tính theo % chất khô so với một số
cây trồng khác............................Error: Reference source not found

Bảng 2.2

Diện tích, năng suất, sản lượng lúa của Việt Nam 2012-2014
...................................................Error: Reference source not found

Bảng 3.1

Tình hình phân bổ và sử dụng đất giai đoạn 2012- 2014.......Error:
Reference source not found

Bảng 3.2

Tình hình dân số và lao động giai đoạn 2012- 2014..............Error:
Reference source not found


Bảng 4.3

Diện tích, cơ cấu lúa thơm của xã Tư Mại năm 2012-2014...Error:
Reference source not found

Bảng 4.4

Biến động năng suất lúa thơm của xã năm 2012 – 2014........Error:
Reference source not found

Bảng 4.5

Biến động sản lượng lúa thơm của huyện năm 2012-2014....Error:
Reference source not found

vii


Bảng 4.6

Thông tin chung về hộ...............Error: Reference source not found

Bảng 4.7

Đất nông nghiệp, vốn và tài sản cho sản xuất lúa thơm.........Error:
Reference source not found

Bảng 4.8


ix


PHẦN I
MỞ ĐẦU
1.1.Tính cấp thiết của đề tài nghiên cứu
Thị trường xuất khẩu lúa gạo trên thế giới đang cạnh tranh gay gắt giữa
5 cường quốc xuất khẩu, đó là Thái Lan, Việt Nam, Ấn Độ, Pakistan và Mỹ.
Theo Ngân hàng phát triển Châu Á (ADB), năm nước này chiếm 87% thương
mại gạo tòan cầu. Thái Lan (nước xuất khẩu hàng đầu thế giới) đang tụt giảm
sản lượng xuất khẩu do chính phủ thu mua tạm trữ lúa gạo để đảm bảo an
ninh lương thực. Việt Nam đang ở vị trí 2 nhưng cũng chịu cạnh tranh gay gắt
từ phía Ấn Độ Pakistan. Tân dụng tình hình này, Việt Nam đưa mục tiêu tăng
cường vị thế trên thị trường gạo tòan cầu bằng cách tập trung vào cải thiện
chất lượng sản phẩm gạo và mở rộng cơ cấu xuất khẩu sang thị trường mới
đầy tiềm năng như Trung Quốc. Vì thế, một yêu cầu đặt ra cho thị trường sản
xuất trong nước là phải nâng cao chất lượng và sản lượng của nông sản để đáp
ứng không chỉ nhu cầu tiêu dùng trong nước mà còn để xuất khẩu, nâng cao
giá trị của sản phẩm.
Quyết định số 80/2002/QĐ-TTg ngày 24 tháng 6 năm 2002 của Thủ
Tướng Chính Phủ đã ban hành về chính sách khuyến khích tiêu thụ hàng hóa
nông sản thông qua hợp đồng để đẩy mạnh giá trị của sản phẩm và giảm rủi
ro cho nông hộ sản xuất và doanh nghiệp. Quyết định này cùng với Chỉ thị số
24/2003/CT-TTg cho ra đời mô hình “Cánh đồng mẫu lớn” nhằm xây dựng
vùng nguyên liệu gắn với chế biến và tiêu thu nông sản. Mô hình này đem lại
lợi ích thực tế cho các bên tham gia nên từ khi phát động phong trào đã nhận
được sự quan tâm, ủng hộ của đông đảo địa phương. Yên Dũng là một huyện
trung du miền núi nằm ở phía Đông Nam của tỉnh Bắc Giang, cách trung tâm
tỉnh lỵ Bắc Giang khoảng 15km. Nghị quyết Đảng bộ huyện Yên Dũng nhiệm
kỳ 2011- 2015 tiếp tục xác định lúa thơm là một trong những cây trồng chủ

cho việc mở rộng mô hình.

2


1.2.2. Mục tiêu cụ thể
- Góp phần hệ thống hóa cơ sở lý luận và thực tiễn về hiệu quả sản xuất
lúa thơm trên cánh đồng mẫu lớn tại xã Tư Mại, huyện Yên Dũng, tỉnh Bắc
Giang.
- Đánh giá hiệu quả trong sản xuất lúa thơm trên cánh đồng mẫu lớn tại
xã Tư Mại, huyện Yên Dũng, tỉnh Bắc Giang trong thời gian qua.
- Phân tích các yếu tố ảnh hưởng đến hiệu quả sản xuất lúa thơm tại xã
Tư Mại, huyện Yên Dũng, tỉnh Bắc Giang.
- Đề xuất các giải pháp để nâng cao hiệu quả sản xuất lúa thơm cho các
hộ trên địa bàn nghiên cứu.
1.3.
ĐỐI TƯỢNG, PHẠM VI NGHIÊN CỨU
1.3.1. Đối tượng nghiên cứu
Đề tài tập trung nghiên cứu các vấn đề lý luận và thực tiễn về hiệu quả
kinh tế sản xuất lúa thơm trên cánh đồng mẫu lớn tại xã Tư Mại, huyện Yên
Dũng, tỉnh Bắc Giang.
1.3.2. Phạm vi nghiên cứu
1.3.2.1 Phạm vi nội dung
Đề tài tập trung làm rõ: Thực trạng sản xuất lúa thơm trên địa bàn xã
Tư Mại, huyệnYên Dũng, tỉnh Bắc Giang, những khó khăn, thuận lợi, các yếu
tố ảnh hưởng, các giải pháp trong sản xuất lúa thơm tại xã Tư Mại.
1.3.2.2 Phạm vi về không gian
Đề tài tập trung nghiên cứu trên địa bàn xã Tư Mại, huỵện Yên Dũng,
tỉnh Bắc Giang.
1.3.2.3 Phạm vi thời gian

không thay đổi thì mức tăng tổng sản phẩm ngày càng nhỏ đi.
2.1.1.2 Các yếu tố ảnh hưởng tới quá trình sản xuất
+ Vốn sản xuất là những tư liệu sản xuất như máy móc, thiết bị, các
phương tiện vận tải, kho tàng, cơ sở hạ tầng và kỹ thuật. Vốn đối với quá trình
sản xuất là vô cùng quan trọng. Trong điều kiện năng suất lao động không đổi
thì tăng tổng số vốn sẽ dẫn đến tăng thêm sản lượng hàng hóa. Tuy nhiên,
trong thực tế việc tăng thêm sản lượng hàng hóa còn phụ thuộc vào nhiều yếu
tố khác nữa, như chất lượng lao động trình độ khoa học kỹ thuật.

4


+ Lực lượng lao động: là yếu tố đặc biệt quan trọng trong quá trình sản
xuất. Mọi hoạt động của sản xuất đều do lao động của con người quyết định,
nhất là người lao động có trình độ kỹ thuật, kinh nghiệm và kỹ năng lao động.
Do đó chất lượng lao động quyết định kết quả và hiệu quả sản xuất.
+ Đất đai: là yếu tố sản xuất không chỉ có ý nghĩa quan trọng với ngành
nông nghiệp, mà còn rất quan trọng với sản xuất công nghiệp. Đất đai là yếu
tố cố định lại bị giới hạn về quy mô, nên người ta phải đầu tư thêm vố và lao
động trên một đơn vị diện tích nhằm nâng cao hiệu quả sử dụng đất đai. Các
loại tài nguyên khác trong lòng đất như khoáng sản, tài nguyên rừng, biển và
tài nguyên thiên nhiên đều là những đầu vào quan trọng của sản xuất.
+ Khoa học và công nghệ: quyết định đến sự thay đổi năng suất lao
động và chất lượng sản phẩm. Những phát minh sang tạo mới được ứng dụng
trong sản xuất giải phóng được lao động nặng nhọc, độc hại cho người lao
động và tạo sự tăng trưởng nhanh chóng, góp phần vào sự phát triển kinh tế
của xã hội.
+ Ngoài ra còn một số yếu tố khác: quy mô sản suất, các hình thức tổ
chức sản xuất, mối quan hệ cân đối tác động qua lại lẫn nhau giữa các
ngành, giữa các thành phần kinh tế, các yếu tố về thị trường nguyên liệu, thị

Dư và ThS. Lê Thanh Tùng (2011).
* Cánh đồng mẫu lớn: phải nằm trong quy hoạch tổng thể nông
nghiệp, nông thôn theo chủ trương, nghị quyết, chương trình hành động của
địa phương, có điều kiện tự nhiên (đất đai, thời tiết, khí tượng thủy văn…)
phù hợp, hạ tầng kinh tế xã hội (hệ thống thủy lợi, đội ngũ cán bộ kỹ thuật,
trình độ, tập quán canh tác của nông dân) tương đối tốt.
* Quy mô diện tích
Mô hình “cánh đồng mẫu lớn”: 300-500 ha
Việc lựa chọn cánh đồng liền canh với diện tích từ 300-500ha xuất phát
từ thực tiển sản xuất lúa ở ĐBSCL với những cánh đồng tương đối lớn, phổ
biến trung bình khoảng 500-1000 ha; mặt khác trong nhiều năm qua nhiều
tỉnh đã xây dựng và thực hiện nhiều mô hình cánh đồng ứng dụng tiến bộ

6


KHKT với nhiều tên gọi khác nhau: cánh đồng 03 giảm 03 tăng, 01 phải 05
giảm, cánh đồng hiện đại, cánh đồng 01 giống… với quy mô từ 50-100ha là
phổ biến.
Mở rộng quy mô diện tích từ 300-500 ha cho mô hình cánh đồng mẫu
lớn nhằm mục đích:
- Quy mô vừa để có vùng điển hình cho các doanh nghiệp đầu tư đầu
vào, thu mua lúa, gạo.
- Tổ chức sản xuất với quy mô vừa, rút kinh nghiệm để tiến tới xây
dựng vùng nguyên liệu với quy mô lớn có thể đến 10.000 hoặc 20.000 ha.
- Quy mô vừa điều kiện canh tác của địa phương, tổ chức ứng dụng các
tiến bộ kỹ thuật đồng loạt.
- Định hướng cho việc xây dựng hạ tầng kinh tế xã hội trước mắt và lâu
dài. Nguồn: PGS.TS Phạm Văn Dư và ThS. Lê Thanh Tùng (2011). ’Tiêu chí
xây dựng cánh đồng mẫu lớn tái bản lần 1 năm 2011’. Nguồn http://iasvn.

- Làm đất: cơ giới hóa khâu làm đất: 100% diện tích được cài ải (vụ
Đông xuân sang Hè thu), cài ngâm rũ (Hè thu sang Thu đông, Thu đông sang
Đông xuân), vệ sinh đồng ruộng ngay sau khi thu hoạch vụ trước.
- Gieo sạ: sạ hàng, áp dụng biện pháp gieo sạ đồng loạt theo dự báo né
rầy của cơ quan BVTV vùng và cơ quan BVTV địa phương trên cơ sở theo
dõi bẫy đèn kết hợp với sự chủ động về nguồn nước phục vụ sản xuất.
- Bón phân cân đối, sử dụng phân đạm hợp lý, hiệu quả, bón phân đạm theo
bảng so màu. Có thể sử dụng các loại phân bón chuyên dùng, phân chậm tan: sử
dụng phân bón trong danh mục được phép sản xuất kinh doanh ở Việt Nam.
- Không phun thuốc hóa học định kỳ. Dùng thuốc hóa học khi cần thiết,
có sự khuyến cáo của cán bộ chuyên ngành, khuyến khích ứng dụng công
nghệ sinh thái trong quản lý dịch hại.
- Cơ giới hóa thu hoạch đạt 100% diện tích.
- 100% sản lượng lúa trong vụ Hè thu và Thu đông được phơi, sấy đạt
yêu cầu.

8


d. Hình thức liên kết
- Mô hình được xây dựng trên nền tảng của sự liên kết 04 nhà, trong đó
các hình thức liên kết được thể hiện thông qua hợp đồng giữa các tổ chức,
doanh nghiệp với HTX hoặc THT sản xuất.
- Các thỏa thuận phải tuân thủ theo những quy định pháp luật hiện hành.
2.1.2.4 Cơ quan quản lý chuyên ngành ở địa phương quan tâm, phối hợp
thực hiện
Vai trò của các cơ quan chuyên môn ở địa phương rất quan trọng, đây
là đơn vị trực tiếp tổ chức thực hiện. Đồng thời phối hợp với các tổ chức đơn
vị khác trong ghi nhớ và tổng kết mô hình.
Nguồn: PGS.TS Phạm Văn Dư và ThS. Lê Thanh Tùng (2011). ’Tiêu

được đo bằng các chỉ tiêu lợi nhuận hay chỉ tiêu lãi. Các tác giả cho rằng, hiệu
quả kinh tế được xem như là tỷ lệ giữa kết quả sản xuất thu được với chi phí
bỏ ra, hay là chi phí trên một đơn vị sản phẩm hay giá trị sản phẩm. Những
chỉ tiêu cho biết mức sinh lời của đồng vốn, được tính toán sau chu kỳ sản
xuất hay một quá trình sản xuất. Quân điểm này xác định hiệu quả sản xuất
trong trạng thái tĩnh, sau khi đã đầu tư. Trong khi đó hiệu quả là chỉ tiêu
không chỉ cho phép hiệu quả đầu tư mà còn giúp cho người sản xuất kinh
doanh có nên đầu tư và đầu tư đến mức độ nào là có lợi nhất.
Như vậy quan điểm truyền thống không tính đến yếu tố thời gian khi
xác định thu và chi cho một hoạt động sản xuất kinh doanh, vì thế việc tính
toán hiệu quả kinh tế thường chưa thể đầy đủ và chính xác. Bởi vì, các hoạt
động đầu tư và phát triển lại có những tác động không những đơn thuần về
mặt kinh tế mà còn về cả mặt xã hội và môi trường, có những khoản thu và
những khoản chi không thể lượng giá được, vì thế không thể hiện được mỗi
khi sử dụng cách tính này.
- Quan điểm của các nhà kinh tế tân cổ điển như Lyn squire, herman
G.Van Dertak (phân tích kinh tế các dự án, 1994) cho rằng hiệu quả kinh tế
phải được xem xét trong trạng thái động của mối quan hệ giữa đầu vào và
đầu ra. Nhân tố thời gian rất quan trọng trong tính toán hiệu quả kinh tế,
dùng chỉ tiêu hiệu quả kinh tế đẻ xem xét các quyết định cả trước và sau khi
đầu tư sản xuất kinh doanh. Hiệu quả kinh tế không chỉ bao gồm hiệu quả tài
chính đơn thuần mà còn bao gồm cả hiệu quả xã hội và hiệu quả môi trường.
Vì vậy khái niệm thu và chi trong quan điểm tân cổ điển được gọi là lợi ích
và chi phí.
2.1.3.2. Phân loại hiệu quả kinh tế
a. Theo yếu tố cấu thành

10



Là kết quả của các hoạt động kinh tế xét trên khía cạnh công ích, phúc
lợi xã hội, phục vụ lợi ích chung cho toàn xã hội. Cùng với hiệu quả kinh tế,
hoạt động sản xuất còn tạo ra nhiều kết quả liên quan đến đời sống kinh tế xã
hội như tạo thêm công ăn việc làm cho lao động, giảm tỷ lệ thất nghiệp, cải
thiện và nâng cao đời sống vật chất và tinh thần cho nhân dân, tăng nộp ngân
sách cho Nhà nước, giảm tỷ lệ người mắc tệ nạn xã hội.
 Hiệu quả kinh tế
Năng suất, chất lượng và hiệu quả vừa là mục đích vừa là yêu cầu
của hoạt động sản xuất kinh doanh nói riêng và xã hội nói chung. Hiệu quả
được biểu hiện đó là mối quan hệ giữa kết quả đạt được trong quá trình sản
xuất kinh doanh với chi phí về lao động và lao động vật hóa bỏ ra để đạt được
kết quả này.
Nếu kết quả sản xuất kinh doanh thu được trên một đơn vị chi phí sản
xuất kinh doanh càng lớn (hoặc chi phí cho một đơn vị sản xuất kinh doanh
càng nhỏ) thì hiệu quả sản xuất kinh doanh càng cao.
Khi tăng thêm sản phẩm thì tăng thêm chi phí, vậy nếu tỷ số trên càng
cao thì càng đạt hiệu quả kinh tế. Chính đây là cơ sở để lựa chọn tối đa hóa
lợi nhuận khi MR=MC
Hiệu quả sản xuất kinh doanh còn có mối quan hệ mật thiết với hiệu
quả môi trường và hiệu quả xã hội. Để phát triển kinh tế thì hiệu quả kinh tế
cần được tăng cao nhất, nhưng để phát triển bền vững thì hiệu quả kinh doanh
phải đảm bảo hiệu quả môi trường và hiệu quả xã hội.
c. Theo phạm vi đối tượng nghiên cứu
 Hiệu quả kinh tế quốc dân
Là tính hiệu quả kinh tế xét chung toàn bộ nền kinh tế quốc dân. Đây là
chỉ tiêu đánh giá toàn diện của các ngành sản xuất riêng rẽ tác động đến nền kinh

12




cây lúa có thể chia ra làm ba thời kỳ; sinh trưởng dinh dưỡng; sinh trưởng
sinh thực; sinh trưởng thời kỳ chín.
- Thời kỳ sinh trưởng dinh dưỡng: Là thời kỳ cây lúa chủ yếu hình
thành và phát triển các cơ quan dinh dưỡng như ra lá, phát triển rễ, đẻ
nhánh…
- Thời kỳ sinh trưởng sinh thực: Là thời kỳ phân hóa, hình thành cơ
quan sinh sản bắt đầu từ khi làm đòng đến khi thu hoạch. Bao gồm các quá
trình làm đòng, trổ bông, hình thành hạt. Quá trình làm đốt tuy là sinh trưởng
dinh dưỡng nhưng lại tiến hành song song với quá trình phân hóa đòng nên nó
cũng nằm trong quá trình sinh thực. Thời kỳ này có ảnh hưởng trực tiến đế
việc hình thành số bông, tỷ lệ hạt chắc và trọng lượng hạt lúa.
- Thời kỳ chín: Từ trỗ đến chín sữa, chín sáp, chín hòan tòan.
2.1.4.2 Đặc điểm kinh tế - kỹ thuật của cây lúa
* Sản phẩm chính của cây lúa
Sản phẩm chính của cây lúa là gạo làm lương thực. Từ gạo có thể nấu
cơm, chế biến thành các loại món ăn khác như bánh đa, phở, bún, rượu, bánh
rán, bánh giò và các loại thực phẩm khác từ gạo.
* Sản phẩm phụ của cây lúa
- Tấm: Sản xuất tinh bột, rượu cồn, Axê tôn, phấn mịn và thuốc chữa bênh.
- Cám: Dùng để sản xuất thức ăn tổng hợp; sản xuất vitamin B1để chữa
bệnh tê phù, chế tạo sơn cao cấp hoặc làm nguyên liệu xà phòng.
- Trấu: Sản xuất nấm men là thức ăn gia súc, vật liệu đóng lót hàng, vật
liệu độn cho phân chuồng hoặc làm chất độc.
- Rơm rạ: Được sử dụng cho công nghệ sản xuất giầy, các tong xây
dựng, đồ gia dụng (thùng, chão, mũ, giầy dép), hoặc làm thức ăn cho gia súc,
sản xuất nấm…

14


15



Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status