đánh giá hiệu quả kinh tế sản xuất mía nguyên liệu của nông hộ ở xã kong yang, huyện kong chro, tỉnh gia lai - Pdf 36

ĐẠI HỌC HUẾ
TRƯỜNG ĐẠI HỌC KINH TẾ HUẾ
KHOA KINH TẾ PHÁT TRIỂN
-------oOo------

KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP ĐẠI HỌC
ĐỀ TÀI
ĐÁNH GIÁ HIỆU QUẢ KINH TẾ SẢN XUẤT MÍA
CỦA NÔNG HỘ Ở XÃ KONG YANG - HUYỆN
KONG CHRO - TỈNH GIA LAI

Sinh viên thực hiện:

Giảng viên hướng dẫn:

Nguyễn Minh Trang

PGS.TS. Mai Văn Xuân

Lớp: K46A KTNN
Niên khóa: 2012 - 2016

Huế, 2016
1


Khóa luận tốt nghiệp

GVHD: PGS.TS Mai Văn Xuân

Lời Cảm Ơn

GVHD: PGS.TS Mai Văn Xuân


Khóa luận tốt nghiệp

GVHD: PGS.TS Mai Văn Xuân

MỤC LỤC

SVTH:Nguyễn Minh Trang


Khóa luận tốt nghiệp

GVHD: PGS.TS Mai Văn Xuân

DANH MỤC THUẬT NGỮ VIẾT TẮT VÀ KÝ HIỆU

HQ

Hiệu quả

DTTS

Dân tộc thiểu số

HQSX

Hiệu quả sản xuất


Đơn vị tính

VHTB

Văn hóa trung bình

PTNT

Phát triển nông thôn

DTCT

Diện tích canh tác

BQ

Bình quân

DTTM

Diện tích trồng mía

ICBQ

Chi phí bình quân

TLSX

Tư liệu sản xuất


Lao động gia đình

XĐGN

Xóa đói giảm nghèo

GTSX

Giá trị sản xuất

SVTH:Nguyễn Minh Trang


Khóa luận tốt nghiệp

GVHD: PGS.TS Mai Văn Xuân

DANH MỤC CÁC BẢNG BIỂU


Khóa luận tốt nghiệp

GVHD: PGS.TS Mai Văn Xuân

DANH MỤC BIỂU ĐỒ


Khóa luận tốt nghiệp

8

5.388,85 ha, phía bắc giáp với xã Giang Bắc của huyện Đăk Pơ , phía Nam Giáp với
thị trấn Kong Chro và xã YaMa, phía Đông giáp xã Đăk Tpang , phía Tây giáp với xã
An Trung, phần lớn dân số trên địa bàn xã là người dân tộc barnah. Đời sống người
dân trong xã chủ yếu phụ thuộc vào sản xuất nông nghiệp, trong những năm gần đây
cây mía trở thành cây nông nghiệp được người dân canh tác chủ đạo trong công tác
xóa đói giảm nghèo và nâng cao thu nhập cải thiện đời sống. Tuy nhiên hoạt động sản
xuất cây mía của người dân trong xã còn gặp phải không ít khó khăn do thời tiết khí
hậu khắc nghiệt, giá cả thị trường không ổn định,giá cả vật tư khá cao làm cho người
dân không giám mạnh dạn đầu tư mở rộng quy mô, thâm canh cây giống điều này làm
giản tính hiệu quả của cây mía. Đánh giá hiệu quả kinh tế của cây mía góp phần tìm ra
những biện pháp nhằm nâng cao hiệu quả kinh tế của việc sản xuất góp phần giúp
9
SVTH:Nguyễn Minh Trang


Khóa luận tốt nghiệp

GVHD: PGS.TS Mai Văn Xuân

người dân xóa đói giảm nghèo nâng cao đời sống. đó là lý do em chon đề tài : đánh
giá hiệu quả kinh tế sản xuất mía nguyên liệu của nông hộ ở xã Kong Yang,
huyện Kong Chro, Tỉnh Gia Lai.

II.

MỤC TIÊU NGHIÊN CỨU

1. Mục tiêu chung
Đánh giá hiệu quả kinh tế hoạt động sản xuất mía nguyên liệu của nông hộ trên
cơ sở đó đề xuất các giải pháp nâng cao hiệu quả kinh tế sản xuất mía nguyên liệu cho

Sử dụng các phương pháp toán để tính các chỉ tiêu kết quả: GO, IC, VA.

4. Phương pháp phân tích chuối cung:
Phân tích quá trình tiêu thụ mía nguyên liệu trên địa bàn xã.

5. Phương pháp so sánh.

10
SVTH:Nguyễn Minh Trang


Khóa luận tốt nghiệp

IV.

GVHD: PGS.TS Mai Văn Xuân

NỘI DUNG VÀ ĐỐI TƯỢNG, PHẠM VI NGHIÊN CỨU
1. Nội dung nghiên cứu:

Phân tích đánh giá thực trạng sản xuất và đề xuất giải pháp nhằm nâng cao hiệu
quả kinh tế của hoạt động sản xuất.
2. Đối tượng nghiên cứu :
Các hộ nông dân trực tiếp sản xuất cây mía trên địa bàn xã.
3. Phạm vi nghiên cứu:
-

Địa bàn thu thập số liệu và tìm hiểu thông tin các nông hộ sản xuất cây mía trên địa

-

cho tất cả các hoạt động kinh tế trong gia đình chính là sản lượng thu được hàng năm
trừ đi chi phí sản xuất, nó được tính cho tất cả các hoạt động kinh tế của gia đình: chăn
nuôi,trồng trọt, nuôi trồng thủy sản, lâm nghiệp…..
Hộ nông dân là đơn vị cơ sở cho phân tích kinh tế, các nguồn lực đất đai, tư liệu
sản xuất, vốn sản xuất, người lao động được xem là vốn chung. Cùng sống chung
trong một nhà, ăn chung, mọi người trong hộ đều được hưởng phần thu nhập, mọi
quyết định đều được thông qua ý kiến chung của các thành viên trong gia đình.

1.2.

Đặc điểm kinh tế hộ nông dân

Kinh tế hộ nông dân là một đơn vị kinh tế, đây là loại hình kinh tế thích ghi nhất
với đặc điểm của sản xuất nông nghiệp phổ biến mang tính chất đặc thù ở mỗi vùng,
mỗi khu vực và mỗi nước trên thế giới; là đơn vị kinh tế vừa cơ sở sản xuất, vừa tiêu
dùng (mà người ta thường gọi tự cấp tự túc) sản phẩm mà hộ làm ra có thể được tiêu
dùng luôn với vai trò là tư liệu sản xuất hoặc sản phẩm tiêu dùng , cũng như những
thành phần kinh tế khác, kinh tế hộ nông dân phải vận dụng tổng hợp các quy luật tự
nhiên và quy luật khách quan trong quá trình tồn tại và phát triển của mình. Kinh tế hộ

12
SVTH:Nguyễn Minh Trang


Khóa luận tốt nghiệp

GVHD: PGS.TS Mai Văn Xuân

nông dân không những giải quyết tốt các mục tiêu của hộ nông dân mà còn giải quyết
tốt vấn đề môi trường sinh thái và vấn đề xây dựng nông thôn mới.

khả năng sản xuất thì sản xuất có HQ.
Theo Farell (1957) và một số nhà kinh tế học khác thì chúng ta chỉ tính được
HQKT một cách đầy đủ theo nghĩa tương đối: “HQKT là một phạm trù kinh tế trong
đó sản xuất đạt được cả HQ kỹ thuật và HQ phân phối”. HQ kỹ thuật là số lượng sản
phẩm có thể đạt được trên một đơn vị chi phí đầu vào hay nguồn lực sử dụng vào sản

13
SVTH:Nguyễn Minh Trang


Khóa luận tốt nghiệp

GVHD: PGS.TS Mai Văn Xuân

xuất trong những điều kiện cụ thể về kỹ thuật hay công nghệ áp dụng vào sản xuất
nông nghiệp.
mặc dù còn có nhất nhiều những quan điểm khác nhau về khái niệm HQKT
nhưng chung quy lại chúng ta có thể hiểu: HQKT chính là phạm trù phản ánh mặt chất
lượng của các hoạt động kinh doanh, phản ánh trình độ lợi dụng các nguồn lực sản
xuất (lao động, máy móc thiết bị, nguyên vật liệu, tiền vốn) trong quá trình tiến hành
các hoạt động kinh doanh của DN để tối đa hoá lợi nhuận.

2.2.

Nội dung bản chất của hiệu quả kinh tế

Trong nền kinh tế nhiều thành phần phát triển theo cơ chế thị trường đang
khuyến khích mọi ngành, mọi lĩnh vực sản xuất tham gia sản xuất kinh doanh để tìm
kiến cơ hội với yêu cầu, mục đích khác nhau nhưng mục đích cuối cùng là tìm kiếm
lợi nhuận. Nhưng làm thế nào để có HQKT cao nhất, đó là sự kết hợp các yếu tố đầu

HQKT được xem xét dưới góc độ khác nhau, cũng như các yếu tố tham gia sản xuất.
Xác định các yếu tố đầu ra: các mục tiêu đạt được phải phù hợp vời mục tiêu chung
của nền kinh tế quốc dân, hàng hóa sản xuất ra phải được trao đổi trên thị trường, các
kết quả đạt được là: Khối lượng, sản phẩm, lợi nhuận...Xác định các yếu tố đầu vào:
đó là những yếu tố chi phí về vật chất, công lao động, vốn..
Phân tích HQKT trong sản xuất nông nghiệp trong điều kiện kinh tế thị trường
việc xác định các yếu tố đầu vào, đầu ra gặp các trở ngại sau: Khó khăn trong việc xác
định các yếu tố đầu vào: Tính khấu hao, phân bổ chi phí, hạch toán chi phí...Yêu cầu
này phải chính xác và đầy đủ. Khó khăn trong việc xác định các yếu tố đầu ra: Việc
xác định các kết quả về mặt xã hội, môi trường sinh thái, độ phì của đất...không thể
lượng hóa được. Bản chất của HQKT xuất phát từ mục đích của sản xuất và phát triển
kinh tế xã hội là thỏa mãn nhu cầu ngày càng tăng về vật chất, tinh thần của mọi cá
nhân, tổ chức trong xã hội. Muốn như vậy thì quá trình sản xuất phải phát triển không
ngừng cả về chiều sâu và chiều rộng như: Vốn, kỹ thuật, tổ chức sản xuất sao cho phù
hợp nhất để không ngừng nâng cao HQKT của quá trình sản xuất. Để hiểu rõ phạm trù
HQKT chúng ta cần phân biệt rõ ranh giới giữa hai phạm trù kết quả và HQ: Kết quả
là phạm trù phản ánh những cái thu được sau một quá trình kinh doanh hay một
khoảng thời gian kinh doanh nào đó. Như vậy kết quả có thể biểu hiện bằng đơn vị
hiện vật hoặc đơn vị giá trị. Các đơn vị hiện vật cụ thể được sử dụng tùy thuộc vào đặc
trưng sản phẩm mà quá trình kinh doanh tạo ra, nó có thể là tấn, tạ, kg, m2, m3, lít…
các đơn vị giá trị có thể đồng, triệu đồng, ngoại tệ… Trong khi đó HQ là phạm trù
phản ánh trình độ lợi dụng các nguồn lực sản xuất.Trình độ lợi dụng các nguồn lực sản
xuất không thể đo lường bằng các đơn vị hiện vật và đơn vị giá trị mà nó mang tính
tương đối. Ta có thể tính toán trình độ lợi dụng nguồn lực bằng số tương đối: Tỷ số
giữa kết quả và hao phí nguồn lực. Chênh lệch giữa kết quả và chi phí luôn là số tuyệt
đối: Phạm trù này chỉ phản ánh mức độ đạt được về một mặt nào đó nên cũng mang
15
SVTH:Nguyễn Minh Trang



tương đối là cần thiết bởi nó nói lên mặt chất lượng của hiện tượng. Cách tính này có
ưu điểm là phản ánh được mức độ sử dụng các nguồn lực, xem xét được một đơn vị
nguồn lực mang lại kết quả là bao nhiêu.
Vì vậy, nó giúp cho việc đánh giá HQKT của các đơn vị sản xuất một cách rõ
nét. Tuy nhiên, Cách tính này cũng có nhược điểm là chưa thể hiện được quy mô
HQKT vì trên thực tế những quy mô khác nhau nhưng lại có hiệu suất sử dụng vốn
như nhau. Trong thực tế khi đánh giá HQKT người ta thường kết hợp giữa công thức 1
và công thức 2 để chúng bổ sung cho nhau, qua đó sẽ đánh giá được HQKT một cách
sâu sắc và toàn diện.

-

Công thức 3: H = Q Trong đó : H : là hiệu quả tăng thêm
: kết quả tăng thêm
: Chi phí tăng thêm

16
SVTH:Nguyễn Minh Trang


Khóa luận tốt nghiệp

GVHD: PGS.TS Mai Văn Xuân

Chỉ tiêu này càng lớn thì càng hiệu quả, nó phản ánh mức độ hiểu quả tăng thêm
của đầu tư thêm.
-

Công thức 4: H = Q/C hay ngược lại H = C/Q
Công thức này thể hiện rõ HQKT của việc đầu tư thêm hay tăng thêm chi phí,

Khóa luận tốt nghiệp

GVHD: PGS.TS Mai Văn Xuân

3. Đặc điểm kinh tế - kỹ thuật của cây mía nguyên liệu
3.1.

Đặc điểm sinh học và sinh thái của cây mía

3.1.1. Đặc điểm sinh học
Mía có tên khoa học là Sacharumof feiniruml, là loại cây thuộc hệ hoa thaorcos
chu kì sinh tưởng từ khi trồng đến khi thu hoạch thường kéo dài đến 1 năm, trường
hợp đặc biệt là ở Hawoai kéo dài đến 2 năm, quá trình sinh trưởng của cây mía trải qua
5 giai đoạn: nảy mần→ đẻ nhánh →vươn cao→ chín công nghiệp→ giai đoạn treo cờ.
Cây mía có đặc điểm sinh học cơ bản sau:
-

Mía có chỉ số diện tích lá lớn nên có khả năng lợi dụng ánh sáng mặt trời cao, 1ha mía
trồng sau khoảng một năm có thể cho ra hàng trăm tấn mía cây nguyên liệu, một khối

-

lượng lớn rễ gốc trong đất và lá xanh
Mía có khả năng lưu gốc tốt và tái sinh cao trong thực tế thì gốc được người sản xuất
để lưu ít nhất là 3 năm, tức là 1 lần trồng nhưng có khả năng cho thu hoạch nhiều vụ,

-

làm giảm chi phí sản xuất.
Cây mía có thể trồng trên nhiều vùng sinh thái khác nhau có khả năng chống chịu

SVTH:Nguyễn Minh Trang


Khóa luận tốt nghiệp

GVHD: PGS.TS Mai Văn Xuân

đạo giới hạn về độ cao trồng mía là 1600m, ở vùng nhiệt đới là 700-800m. Mía rất sợ
-

gió mạnh và khô.
Đất trồng: cây mía thích hợp ở loại đất tơi xốp, tầng đất mặt sâu, giữ ẩm tốt và dễ thoát
nước, độ pH thích hợp là từ 5,5-7,5. Các loại đất sét, chua, mặn, bị úng hoặc khó thoát

-

nước đều ảnh hưởng không tốt đến khả năng sinh trưởng và phát triền của cây mía.
Giống: Giống mía đóng một vai trò quan trọng trong sản xuất mía nguyên liệu, giống
mía có thể là phần ngọn cây hoặc toàn bộ cây mía dùng làm giống. Giống mía tốt là
loại giống cho năng suất cao, hàm lượng đường trong cây nhiều. những điều này thể
hiện thông quá các chỉ tiêu chung như năng suất cao, tốc độ sinh trưởng nhanh, hàm
lượng đường cao, khả năng tái tạo và lưu gốc tốt, ít ra hoa, khả năng thích ứng tốt với
điều kiện tự nhiên và môi trường của mỗi vùng, phù hợp tốt với điều kiện sản xuất và
chế biến ở mỗi khu vực.
Trong những năm gần đây, nhờ tiến bộ khoa học kỹ thuật nước ta đã sản xuất ra
nhiều giống mía cho năng suất và chất lượng cao, các công tác nghiên cứu, chuyển
giao giống mía, biện pháp thâm canh luôn được nhà nước, các bộ, ngành mía, các
doanh nghiệp mía đường và người dân sản xuất quan tâm. Một số giống mía mới có
năng xuất cao, ổn định, hàm lượng đường nhiều, HQKT cao được trung tâm nghiên
cứu và phát triển mía đường Việt Nam lai tạo và đưa vào sản xuất : VN84-422,

khi trồng ở đáy rãnh mía có lớp đất nhỏ. Đặt hom mía so le sao cho mầm mía hướng ra
hai bên, đặt hom xong lấp lượt đất mỏng.
-

Về chăm sóc, bón phân: Thường xuyên giữ ẩm để mía nhanh nảy mầm, phân bón tùy
theo chân ruộng tốt xấu để đầu tư cho phù hợp, thông thường 1 sào mía cần 13–15kg
đạm urê, 20 – 25kg lân, 10-13kg kali, 300 – 350kg phân chuồng, cách bón của bà con
là: Đối với phân chuồng, phân lân bón lót 100%, đạm và kali lót khoảng 20%, số lượng
còn lại bón rải, song bón phân nên kết thúc vào thời điểm mía vươn lóng. Phải thường
xuyên kiểm tra ruộng,diệt cỏ, phá váng, cày xới, dặm mầm, bóc bẹ già.

-

Phòng trừ sâu bệnh: Đời sống cây mía từ trồng đến thu hoạch khá dài, nổi lên hai đối
tượng dịch hại là rệp và sâu đục thân, muốn vậy nên phòng trừ rệp bằng thuốc Ofatox,
phòng trừ sâu đục thân bằng thuốc Padan (liều lượng sử dụng theo hướng dẫn trên bao
bì).

-

Thu hoạch: khi thu hoạch phải chặt sát gốc, chú ý không làm dập gốc, không nên thu
hoạch khi đất quá ướt làm ảnh hưởng đến khả năng lưu gốc của mía.

3.3.

Giá trị kinh tế của cây mía

Mía là cây công nghiệp quan trọng của ngành mía đường. Đường là loại thực
phẩm quan trọng cần có trong cơ cấu thành phần dinh dưỡng của bữa ăn hàng ngày của
con người, là nguyên liệu cho các ngành công nghiệp nhẹ cũng như các mặt hàng tiêu

đã được 4-5 tháng khi đó lá mía đã giao nhau thành thảm lá xanh dày, diện tích lá mía
lớn hơn diện tích đất ngăn không cho mưa không thể rơi trực tiếp xuống đất tránh gây ra
xói mòn đất ở các vùng trung du. Mía là loại cây rễ chùm phát triển mạnh trong tầng đất
từ 0-60cm, 1ha mía tốt có thể để lại trong đất 13-15 tấn rễ. sau khi thu hoạch bộ rễ trong
đất cùng với bộ lá hoai mục là một loại hữu cơ quý giúp tăng độ phì nhiêu của đất.
Có thể nói, ngành mía đường sẽ mở ra một tương lai đầy hy vọng cho ngành
trồng mía, người dân trồng mía, nhà máy mía đường và các nhà máy phụ trợ khác nếu
được đầu tư một cách hiệu quả. Khi vùng chuyên canh sản xuất mía được phát triển
với quy mô lớn vấn đề việc làm của người nông dân ở vùng sản xuất cũng cơ bản được
giải quyết, bên cạnh đó, việc cung cấp nguyên liệu ổn định đảm bảo cho sự phát triển
của ngành mía đường, kéo theo sự phát triển của các ngành công nghiệp khác. Giá trị
kinh tế của cây mía tăng lên, cơ cấu kinh tế cây trồng cũng như cơ cấu kinh tế xã hội
chuyển biến rõ rệt theo hướng tích cực, khoảng cách thu nhập giữa người sản xuất
nông nghiệp và công nghiệp được rút ngắn.

4. Một số nhân tố ảnh hưởng đến năng suất cây mía
4.1.
-

Nhân tố bên ngoài

Điều kiện khí hậu thời tiết: mía có quá trình sinh trưởng và phát triển như một cơ thể
sống nên chịu tác động rất lớn của các điều kiện tự nhiên như: ánh sáng, nhiệt độ, độ

-

ẩm, lượng mưa…
Thị trường đầu vào, đầu ra: quyết định của người sản xuất chịu ảnh hưởng rất lớn từ
giá cả đầu vào và giá đầu ra. Khi giá cả đầu vào quá cao làm hạn chế khả năng đầu tư
giảm năng xuất và chất lượng của cây mía. Điều kiện cần và đủ để người dân tiếp tục


Nhân tố bên trong

Quy mô và tính chất của đất: đối với sản xuất nông nghiệp đất đai là tư liệu sản xuất
đặc biệt và không thể thay thế, qua đó thấy được vị trí quan trọng của đất đai đối với
sản xuất mía. Quy mô và tính chất đất có ảnh hưởng rất quan trọng đến mức đầu tư,

-

khả năng áp dụng tiến bộ KHKT, cơ giới hóa vào sản xuất.
Ứng dụng công nghệ, trang thiết bị kỹ thuật: việc ứng dụng thành công các tiến bộ
KHKT và sản xuất là điều kiện để tăng năng xuất và HQ sản xuất, đặc biệt là áp dụng

-

các mô hình cơ giớ hóa mới, các loại giống mới vào sản xuất.
Mức đầu tư: với mức độ đầu tư hợp lý sẽ làm tăng HQKT cây mía. Giống, phân bón,
công chăm sóc có ảnh hưởng nhiều đến năng xuất và chất lượng cây mía.

5. Hệ thống chỉ tiêu nghiên cứu
5.1.
-

Diện tích gieo trồng, diện tích gieo trồng bình quân/hộ.
Mức đầu tư vốn cố định, vốn lưu động cho hoạt động sản xuất, cho 1 ĐVDT trồng trọt.

5.2.
-

Chỉ tiêu phản ánh quy mô

5.3.

Chỉ tiêu phản ánh hiệu quả

-

GO/IC: cho biết cứ một đồng chi phí trung gian đầu tư sẽ tạo ra bao nhiêu đồng giá trị

-

sản xuất, hiệu suất càng cao thì sản xuất càng HQ
VA/IC: cho biết cứ một đồng chi phí trung gian đầu tư sẽ tạo ra bao nhiêu đồng giá trị

-

gia tăng
MI/IC: cho biết cứ một đồng chi phí trung gian bỏ ra sẽ tạo ra bao nhiêu đồng thu nhập
hỗn hợp.

II. Cơ sở thực tiễn
1. Khái quát chung tình hình mía đường trên thế giới
Ngành mía đường trên thế giới phát triển khá lâu đời, vào khoảng thế kỷ thứ 16,
khi sự khai thác đầu tiên được hình thành ở Puerto Rico, rồi đến Cuba, nguyên liệu sản
xuất đường chủ yếu lúc này là cây mía, vì thế sản lượng đường thu được không cao.
Cho đến thể kỷ thứ 19, khi chúng ta biết tinh lọc ra đường từ cây củ cải đường, đã mở
ra một ngành công nghiệp sản xuất đường ở Châu Âu. Từ đó, sản xuất đường đạt được
nhiều đột phá: từ khoảng 820,000 tấn vào đầu những năm đầu cách mang công nghiệp,
đến 18 triệu tấn trước chiến tranh thế giới I (1914 – 1918).
Mía hiện nay là cây trồng lớn nhất thế giới với diện tích khoảng 26.5 triệu ha.
Cây mía được trồng tại hơn 90 quốc gia, chủ yếu ở các vùng nhiệt đới và cận nhiệt đới,

1730395

1802720

1827300

3. Mexico

713824

735127

782801

4. Cuba

506100

361300

361300

5. Brazil

9601316

9705388

9835169


1128800

10. Philippines

439698

433301

435405

11. Thailand

1259240

1282080

1321600

12. United States of America

353130

365189

368588

13. Viet Nam

282254


688060

690286

Brazil

764485

742966

751657

India

692466

709306

674308

Indonesia

551724

700000

748889
Nguồn: FAO

Đáng chú ý, các nước sản xuất đường chủ yếu trên thế giới cũng có lượng tồn

diện tích trồng mía đạt 162.000ha (năm 1984) do tác động của giá đường thế giới
giảm làm cho diện tích cũng dần thu hẹp. Đến đầu những năm 90 ngành mía có những
khởi sắc trở lại, tốc độ tăng trưởng bình quân hàng năm đạt đến 6,23%, năm 1994
diện tích trồng mía đạt 166.000ha tập trung chủ yếu ở đồng bằng Sông Cửu Long,
duyên hải Miền Trung và Đông Nam Bộ.
Trong giai đoạn này sản lượng mía tăng ít, trước năm 1990 mức độ tăng sản
lượng hàng năm chỉ đạt 2,18%, sau đó sản lượng mía có tăng mạnh hơn đạt 8,1 % ,
đến năm 1994 sản lượng mía cả nước đạt 7,5 triệu tấn. Sản lượng mía tăng chủ yếu là
do tăng diện tích sản xuất.
25
SVTH:Nguyễn Minh Trang



Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status