ĐẠI HỌC THÁI NGUYÊN
TRƢỜNG ĐẠI HỌC NÔNG LÂM
NGUYỄN LÊ KHÁNH
NGHIÊN CỨU MỘT SỐ ĐẶC ĐIỂM DỊCH TỄ,
ỨNG DỤNG KIT CATT CHẨN ĐOÁN BỆNH TIÊN
MAO TRÙNG DO TRYPANOSOMA EVANSI GÂY RA
Ở TRÂU TẠI HUYỆN CHI LĂNG - TỈNH LẠNG SƠN
VÀ BIỆN PHÁP PHÒNG TRỊ
LUẬN VĂN THẠC SĨ THÚ Y
Thái Nguyên, năm 2015
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – ĐHTN
http://www.lrc.tnu.edu.vn
ĐẠI HỌC THÁI NGUYÊN
TRƢỜNG ĐẠI HỌC NÔNG LÂM
NGUYỄN LÊ KHÁNH
NGHIÊN CỨU MỘT SỐ ĐẶC ĐIỂM DỊCH TỄ,
ỨNG DỤNG KIT CATT CHẨN ĐOÁN BỆNH TIÊN
MAO TRÙNG DO TRYPANOSOMA EVANSI GÂY RA
Ở TRÂU TẠI HUYỆN CHI LĂNG - TỈNH LẠNG SƠN
VÀ BIỆN PHÁP PHÒNG TRỊ
http://www.lrc.tnu.edu.vn
ii
LỜI CẢM ƠN
Để hoàn thành Luận văn này, cho phép tôi đƣợc bày tỏ lòng kính trọng và biết
ơn sâu sắc tới TS. Sa Đình Chiến và GS. TS. Nguyễn Thị Kim Lan - Trƣờng Đại
học Nông Lâm Thái Nguyên đã trực tiếp hƣớng dẫn, chỉ bảo tôi hết sức tận tình trong
suốt quá trình nghiên cứu và hoàn thành Luận văn.
Tôi xin chân thành cảm ơn Ban Chủ nhiệm Khoa Chăn nuôi Thú y, các thầy,
các cô giảng dạy và nghiên cứu trong Khoa Chăn nuôi Thú y; Bộ môn Bệnh động vật,
Khoa Chăn nuôi Thú y, Trƣờng Đại học Nông Lâm Thái Nguyên đã tận tình giúp đỡ
tôi trong suốt quá trình thực hiện luận văn này.
Tôi xin trân trọng cảm ơn Chi cục Thú y Lạng Sơn, Trạm Thú y huyện Chi
Lăng tỉnh Lạng Sơn và các hộ chăn nuôi trâu trên địa bàn nghiên cứu đã tạo điều kiện
giúp đỡ tôi trong quá trình thực hiện đề tài.
Tôi vô cùng biết ơn các thành viên trong gia đình, bạn bè và đồng nghiệp đã
luôn ở bên tôi, giúp đỡ tôi trong suốt quá trình nghiên cứu và hoàn thành Luận văn.
Lạng Sơn , ngày tháng năm 2015
Tác giả luận văn
Nguyễn Lê Khánh
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – ĐHTN
http://www.lrc.tnu.edu.vn
2.3.2. Ứng dụng Kit CATT trong chẩn đoán bệnh tiên mao trùng ở huyện Chi Lăng.. 37
2.3.3. Xác định phác đồ điều trị bệnh tiên mao trùng đạt hiệu quả .................. 37
2.4. PHƢƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU ................................................................. 37
2.4.1. Phƣơng pháp thu thập mẫu ...................................................................... 37
2.4.2. Phƣơng pháp phát hiện tiên mao trùng trong mẫu .................................. 38
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – ĐHTN
http://www.lrc.tnu.edu.vn
iv
2.4.3. Phƣơng pháp định danh tiên mao trùng .................................................. 39
2.4.4. Phƣơng pháp ứng dụng Kit CATT chẩn đoán bệnh tiên mao trùng ở trâu .... 40
2.4.5. Phƣơng pháp nghiên cứu khả năng mẫn cảm của T. evansi với một số
loại thuốc trên chuột bạch ................................................................................. 41
2.4.6. Xây dựng phác đồ điều trị bệnh tiên mao trùng cho trâu ........................ 42
2.4.7. Một số quy định trong nghiên cứu đặc điểm dịch tễ bệnh tiên mao trùng .. 44
2.5. PHƢƠNG PHÁP XỬ LÝ SỐ LIỆU .............................................................. 44
Chƣơng 3: KẾT QUẢ VÀ THẢO LUẬN .............................................................45
3.1. NGHIÊN CỨU MỘT SỐ ĐẶC ĐIỂM DỊCH TỄ BỆNH TIÊN MAO
TRÙNG TRÊN ĐÀN TRÂU TẠI HUYỆN CHI LĂNG ..................................... 45
3.1.1. Định danh loài tiên mao trùng phân lập từ đàn trâu tại huyện Chi Lăng 45
3.1.2. Tình hình nhiễm tiên mao trùng trên đàn trâu tại huyện Chi Lăng ......... 46
3.1.3. Nghiên cứu về ruồi, mòng hút máu truyền bệnh tiên mao trùng ............. 55
3.2. ỨNG DỤNG KIT CATT TRONG CHẨN ĐOÁN BỆNH TIÊN MAO
TRÙNG Ở HUYỆN CHI LĂNG .......................................................................... 63
3.2.1. Kiểm tra độ nhạy, độ đặc hiệu của Kit CATT ....................................... 63
3.2.2. Kết quả chẩn đoán bệnh tiên mao trùng ở huyện Chi Lăng bằng Kit CATT .. 65
3.3. XÁC ĐỊNH PHÁC ĐỒ ĐIỀU TRỊ BỆNH TIÊN MAO TRÙNG ĐẠT
Kháng thể đối chứng âm
T. evansi
Trypanosoma evansi
T. kiangsuensis
Tabanus kiangsuensis
TMT
Tiên mao trùng
T. rubidus
Tabanus rubidus
SAT
Slide Agglutination Test
S. calcitrans
Stomoxys calcitrans
SDS
Sodium Dodecyl Sulfate
Bảng 3.11. Xác định một số trâu nhiễm và không nhiễm TMT ở Chi Lăng ............ 64
Bảng 3.12. Kết quả đánh giá độ nhạy, độ đặc hiệu của Kit CATT ........................... 64
Bảng 3.13. Tỷ lệ trâu nhiễm tiên mao trùng ở huyện Chi Lăng qua ứng dụng
kit CATT chẩn đoán ................................................................................. 66
Bảng 3.14. Thử nghiệm phác đồ điều trị bệnh tiên mao trùng cho trâu trên
diện hẹp..................................................................................................... 67
Bảng 3.15. Thử nghiệm phác đồ điều trị bệnh tiên mao trùng trên diện rộng .......... 69
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – ĐHTN
http://www.lrc.tnu.edu.vn
vii
DANH MỤC CÁC HÌNH
Hình 3.1. Biểu đồ tỷ lệ nhiễm tiên mao trùng ở trâu tại huyện Chi Lăng................. 48
Hình 3.2. Đồ thị tỷ lệ nhiễm tiên mao trùng theo lứa tuổi ........................................ 49
Hình 3.3. Biểu đồ tỷ lệ nhiễm tiên mao trùng ở trâu theo mùa vụ ............................ 51
Hình 3.4. Biểu đồ tỷ lệ phát bệnh tiên mao trùng ở trâu theo mùa vụ ...................... 52
Hình 3.5. Biểu đồ tỷ lệ nhiễm tiên mao trùng trên trâu theo tính biệt ...................... 54
Hình 3.6. Biểu đồ tỷ lệ loài ruồi, mòng ở các địa phƣơng nghiên cứu ........................ 59
Hình 3.7. Biểu đồ điều trị bệnh tiên mao trùng trên diện rộng ................................. 70
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – ĐHTN
http://www.lrc.tnu.edu.vn
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – ĐHTN
http://www.lrc.tnu.edu.vn
2
thuộc rất nhiều vào sự phát triển của ruồi, mòng. Chúng hút máu, truyền bệnh tiên
mao trùng từ trâu bệnh sang trâu khỏe, làm cho bệnh phát tán và lây lan.
Theo số liệu thống kê của phòng thống kê huyện Chi Lăng, tính đến thời điểm
cuối năm 2014, tổng đàn trâu của huyện Chi Lăng là 15.590 con. Trong thời gian
qua, cũng giống nhƣ nhiều địa phƣơng khác, công tác giống, chăm sóc nuôi dƣỡng
và phòng chống dịch bệnh, đặc biệt là việc phòng trị bệnh tiên mao trùng chƣa đƣợc
chú trọng. Hàng năm, trâu bị ốm và chết khá nhiều trong vụ Đông - Xuân, khi thời
tiết giá lạnh và thức ăn trở nên khan hiếm. Cơ sở hạ tầng phục vụ công tác chẩn
đoán và điều trị bệnh cho đàn gia súc tại địa phƣơng vẫn còn nhiều hạn chế, dẫn tới
hệ quả là bệnh tiên mao trùng trở nên phổ biến hơn, nghiêm trọng hơn và gây thiệt
hại lớn hơn.
Qua những phân tích ở trên về mức độ phổ biến cũng nhƣ những thiệt hại về
kinh tế do bệnh tiên mao trùng gây ra trên trâu ở Việt Nam, đặc biệt là những khó
khăn trong công tác phòng và trị bệnh, chúng tôi thực hiện đề tài: “Nghiên cứu một
số đặc điểm dịch tễ, ứng dụng kit CATT chẩn đoán bệnh tiên mao trùng do
Trypanosoma evansi gây ra ở trâu tại huyện Chi Lăng, tỉnh Lạng Sơn và biện
pháp phòng trị”.
2. Mục tiêu đề tài
- Xác định một số đặc điểm dịch tễ bệnh do T. evansi gây ra ở đàn trâu tại
huyện Chi Lăng, tỉnh Lạng Sơn.
- Ứng dụng kit CATT chẩn đoán bệnh tiên mao trùng cho trâu tại địa phƣơng
nghiên cứu.
- Lựa chọn phác đồ điều trị bệnh tiên mao trùng có hiệu quả, phù hợp với điều
4
Chƣơng 1
TỔNG QUAN TÀI LIỆU
1.1. CƠ SỞ KHOA HỌC CỦA ĐỀ TÀI
Hiện nay nhiều loài tiên mao trùng đã đƣợc phát hiện trong máu nhiều loài
động vật, trong đó thì loài đơn bào Trypanosoma evansi ký sinh và gây bệnh cho
động vật đóng vai trò quan trọng nhất.
Bệnh tiên mao trùng đƣợc Blanchard (1888) phát hiện đầu tiên ở Việt Nam. Sau
đó, bệnh đƣợc thấy phổ biến ở hầu hết các tỉnh thành trong cả nƣớc. Trâu, bò,
ngựa,… mắc bệnh bị thiếu máu, suy nhƣợc, giảm hoặc mất khả năng sinh sản và
sức sản xuất, nếu mắc bệnh nặng súc vật dễ chết.
1.1.1. Đặc điểm, hình thái, cấu trúc và phân loại tiên mao trùng
1.1.1.1. Đặc điểm, hình thái, cấu tạo của tiên mao trùng
Theo Phạm Văn Khuê và cs. (1996) [7], T. evansi là loài đơn bào ký sinh ngoài
hồng cầu, có hình thoi, dài 18-34 μm, giữa thân có một roi bắt nguồn là thể hình roi,
cách đuôi khoảng 1,5 μm. Roi này chạy dọc thân tạo thành nhiều màng rung động, cuối
cùng roi này lơ lửng ở phần đầu thành roi tự do dài 6 μm. Nhờ có roi, màng rung động
mà T. evansi chuyển động đƣợc trong máu động vật. Tiêu bản máu nhuộm Giemsa,
nguyên sinh chất bắt màu xanh nhạt, nhân bắt màu hồng. Tiên mao trùng ký sinh trong
máu hoặc ở một số tổ chức của động vật có xƣơng sống, đƣợc truyền từ động vật bệnh
sang động vật khoẻ theo phƣơng thức cơ giới nhờ những côn trùng hút máu họ mòng
Tabanidae, họ ruồi Stomoxydinae.
Theo Verma B. B. và Gautam O. P. (1978) [106], hiện nay ngƣời ta đã đƣa
ra những khái niệm để phân biệt hình thái của tiên mao trùng theo 6 dạng:
1. Trypamastigote: Tiên mao trùng có hình dạng bình thƣờng.
2. Spimastigote: Tiên mao trùng có hình thái nhƣ Crithidia.
3. Chosnomastigote: Tiên mao trùng có roi chạy thẳng theo thân, không tạo
thành màng rung động, không có những nếp gấp khúc.
(minicircles).
Nhân: Nhân tiên mao trùng có thể ở các vị trí khác nhau trong cơ thể tiên mao
trùng, tuy nhiên khi xuất hiện trong máu thì thƣờng thấy ở giữa hoặc phía bên trên
của tiên mao trùng. Chứa ADN, hình bầu dục hoặc hình trứng. Ngoài nhân, về phía
cuối thân còn có thể kinetoplast chứa ADN (kADN), có đƣờng kính vào khoảng 0,7
micromet. Từ kinetoplast có một roi chạy vòng quanh thân lên đầu và ra phía ngoài
cơ thể thành một roi tự do. Roi của tiên mao trùng có lớp vỏ ngoài cùng giống lớp
vỏ của thân. Trong roi có 9 cặp vi ống ở xung quanh và một cặp ở trung tâm, xếp
song song dọc chiều dài roi (Hoare C.A. 1972) [60].
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – ĐHTN
http://www.lrc.tnu.edu.vn
6
Hình 1.1. Cấu tạo của Trypanosoma evansi
(Nguồn: Desquesnes M., 2004) [41]
A - Roi
H - Phần thân chính
B - Tổ hợp cytoskeleton
I - Bộ máy Golgi
C - Nhân
J - Lƣới nội sinh chất
7
Trong các loài tiên mao trùng đã đƣợc phát hiện, có 7 loài đƣợc tổ chức Thú y
thế giới (OIE) thông báo là có khả năng gây bệnh cho ngƣời và động vật có vú, đó
là: Trypanosoma brucei, Trypanosoma congolense, Trypanosoma cruzi, Trypanosoma evansi,
Trypanosoma gambiense, Trypanosoma siminae và Trypanosoma vivax (OIE, 2010 [86]).
1.1.1.3. Cấu trúc kháng nguyên của loài tiên mao trùng Trypanosoma evansi
Kháng nguyên của T. evansi gồm hai loại: kháng nguyên ổn định (kháng
nguyên không biến đổi) và kháng nguyên biến đổi (Nguyễn Thị Kim Lan, 2008 [8]).
* Kháng nguyên ổn định (kháng nguyên không biến đổi)
Trong quá trình ký sinh trong cơ thể vật chủ, phần lớn các thành phần kháng
nguyên của tiên mao trùng không bị biến đổi. Bằng phƣơng pháp điện di miễn dịch huyết
thanh thỏ tối miễn dịch với T. evansi, các nhà khoa học đã phát hiện tới 30 thành phần
kháng nguyên khác nhau. Tất cả các loại tiên mao trùng thuộc cùng một nhóm hầu nhƣ
có cùng một loại kháng nguyên ổn định và chúng giống nhau một phần với các chủng
tiên mao trùng khác nhóm. Thí dụ nhƣ T. brucei thuộc giống phụ Trypanozoon, loài T.
congolense thuộc giống phụ Nannomonas đến 60% giống nhau, T.vivax thuộc giống phụ
Duttonella có miễn dịch chéo với Trypanozoon và Nannomonas.
Có ba loại kháng nguyên không biến đổi (ISG: Invariant Surface Glycoprotein)
ở màng nguyên sinh chất của tế bào. Loại ISG 65, ISG 75 đƣợc phân bố trên toàn bộ
màng tế bào ƣớc lƣợng số lƣợng khoảng 50.000 - 60.000 phân tử giống nhau. Ở T.
evansi sống, kháng nguyên này không thể kết hợp đƣợc với kháng thể của vật chủ.
Do cấu trúc không gian ba chiều và đặc tính ƣa nƣớc, các ISG này nằm chen vào
phần VSG. Bằng phƣơng pháp miễn dịch huỳnh quang và phƣơng pháp đánh dấu
iode màng tế bào tiên mao trùng, có thể phát hiện và phân lập đƣợc các phân tử này.
Loại thứ ba, ISG 100 gần đây mới phát hiện. Chúng có đặc tính ƣa nƣớc và không thể
kết hợp đƣợc với kháng thể của vật chủ (Johanson H.C. và cs., 2008)[64].
* Kháng nguyên biến đổi
Về kháng nguyên biến đổi, cần đề cập đến sự biến đổi lớp vỏ bề mặt VSG
(Variant Surface Glycoprotein), những quan điểm mới về sự xuất hiện kháng
một số nƣớc châu Phi, châu Á.
Holland W. G. (2001) [61], đã kiểm tra và phát hiện các thú hoang châu Á
nhiễm Trypanosoma evansi tự nhiên: hƣơu sao ở đảo Maurice; nai Cervus ở
Indonesia; cừu hoang và hoẵng; linh dƣơng ở Kazakistan; con tinh tinh ở đảo
Saumatra; chuột Hamster ở Ấn Độ; khỉ Maracus rheusus ở một số nƣớc. Ở Nam
Mỹ và Trung Mỹ có một số loài thú cũng bị mắc bệnh tiên mao trùng do
Trypanosoma evansi gây ra ở thể cấp tính và chết: chó rừng, khỉ ở Venezuela, nai
đuôi trắng, hƣơu ở Panama và Colombia.
Nguyễn Quốc Doanh và cs. ( 2001) [3], đã nghiên cứu bệnh tiên mao trùng
trên các loài bò sát, ếch nhái ở đồng bằng sông Hồng, trong đó: các loài rắn, ba ba,
cóc, ếch, nhái cũng nhiễm T. evansi với tỉ lệ là 8,03%.
Ngoài những động vật bị nhễm T. evansi tự nhiên, trong phòng thí nghiệm có
thể truyền bệnh tiên mao trùng cho các loại động vật nhỏ, chuột nhắt trắng, chuột
cống trắng, thỏ, chuột lang, chồn, cầy hƣơng, chó, mèo, trong đó chuột nhắt trắng,
chuột cống trắng đặc biệt mẫn cảm với T. evansi (Losos G. J.và cs 1972)[69]
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – ĐHTN
http://www.lrc.tnu.edu.vn
10
* Côn trùng môi giới truyền bệnh tiên mao trùng:
Sự lây truyền tiên mao trùng từ trâu, bò ốm sang trâu, bò khoẻ là do các loài
ruồi hút máu (thuộc họ phụ Stomoxydinae) và các loài mòng hút máu (thuộc họ
Tabanidae). Ruồi và mòng hút máu gia súc bị bệnh (có chứa tiên mao trùng ở vòi
hút), sau đó lại hút máu gia súc khoẻ, trong khi hút máu sẽ truyền tiên mao trùng từ
vòi hút vào máu con vật khoẻ. Sự lây truyền này mang tính chất cơ học (Desquesnes
M., 2004) [42]. Sự xuất hiện lƣợng lớn của ruồi, mòng trong mùa mƣa nóng ẩm luôn
có liên quan đến tình hình dịch tễ bệnh tiên mao trùng ở trâu, bò, lạc đà và dê.
độ cao dƣới 1.000 mét so với mặt nƣớc biển, càng lên cao số loài càng ít dần (độ
cao trên 1.000 mét chỉ có 26 loài). Ở vùng trung du, rừng thƣa, độ cao không quá
500 mét so với mặt nƣớc biển có 27 loài; vùng đồi trọc chỉ có 9 - 11 loài; vùng rừng
núi ven biển phát hiện chỉ có 8 loài. Những loài mòng phổ biến ở tất cả các vùng là:
Tabanus rubidus, Tabanus striatus, Chrysops ispar, Chrysozoma assamensis.
- Vai trò truyền bệnh tiên mao trùng của ruồi, mòng:
Bùi Quý Huy (2006) [5] cho rằng: thời gian xâm nhập của tiên mao trùng càng
lâu thì tỷ lệ gây bệnh càng giảm, điều này có thể do thời gian càng lâu thì số lƣợng và
độc lực của Trypanosoma evansi trong ruồi, mòng càng giảm dần.
Phan Địch Lân (2004) [17] cho biết, kiểm tra ở nhiều địa điểm thấy hai loài
mòng T. rubidus và T. striatus mang tiên mao trùng với tỉ lệ 15,2 % và 14,0 %; ruồi
hút máu Stomoxys calcitrans mang tiên mao trùng với tỉ lệ 12,5 %. Ở những vùng
đang có bệnh tiên mao trùng, kiểm tra ruồi và mòng hút máu dễ dàng tìm thấy tiên
mao trùng. Sau khi theo máu vào vòi hút ruồi và mòng, tiên mao trùng vẫn sống đến
giờ thứ 53, thời gian hoạt động mạnh nhất là từ giờ thứ nhất đến giờ thứ 34 trung bình
là 24 giờ. Sự hoạt động của tiên mao trùng yếu dần từ giờ thứ 35 đến 42. Từ 46 - 53
giờ thì tiên mao trùng ngừng hoạt động.
Hình thái tiên mao trùng khi ở trong vòi ruồi, mòng biến đổi theo thời gian: từ
1- 34 giờ có hình thái, kích thƣớc bình thƣờng; 35 - 45 giờ: tiên mao trùng có hình
dạng thay đổi, tăng kích thƣớc chiều rộng và thô dần; 46 - 53 giờ: tiên mao trùng
trƣơng to, duỗi thẳng, mất khả năng di động và ngừng hẳn hoạt động.
- Thời gian hoạt động của ruồi, mòng hút máu
Theo Phan Địch Lân (1983) [15], cho biết: nƣớc ta có khí hậu, điều kiện sinh
thái thích hợp cho những ký chủ trung gian thuộc họ mòng Tabanidae, họ ruồi
Stomoxydinae, chúng cần có thảm thực vật để cƣ trú, đẻ trứng, cần khí hậu nóng
(16oC - 30oC), độ ẩm (50 - 100%), mặt đất ƣớt để trứng nở, các giai đoạn ấu trùng
phát triển, cuối cùng cần có trâu, bò, động vật thích hợp để hút máu duy trì sự sống
đồng thời truyền bệnh T. evansi cho những động vật này.
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – ĐHTN
Sự xuất hiện lƣợng lớn ruồi, mòng trong mùa mƣa nóng ẩm luôn có liên quan
đến tình hình dịch tễ bệnh tiên mao trùng ở trâu, bò, dê, lạc đà. Từ cuối mùa thu,
mùa đông và đầu mùa xuân, trâu bò nhiễm tiên mao trùng phải sống trong điều kiện
thời tiết lạnh, thiếu thức ăn nên sức đề kháng giảm, bệnh thƣờng phát ra vào thời
gian này và trâu bò bị đổ ngã hàng loạt. tiên mao trùng có sức đề kháng yếu, dễ chết
khi tiếp xúc với nƣớc cất, cồn và thuốc sát trùng.
1.1.3. Đặc điểm bệnh lý và lâm sàng của bệnh
1.1.3.1. Đặc điểm bệnh lý
Khi vào máu, tiên mao trùng nhân lên theo cấp số nhân ở trong máu, trong
bạch huyết và ở trong các mô khác của cơ thể vật chủ theo cách phân chia theo
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – ĐHTN
http://www.lrc.tnu.edu.vn
13
chiều dọc. Số lƣợng tiên mao trùng trong máu không phải lúc nào cũng nhƣ nhau.
Mật độ Tiên mao trùng thay đổi theo ngày. Biểu đồ sóng tiên mao trùng cho thấy,
xen kẽ giữa những sóng tiên mao trùng mạnh là những đợt sóng yếu. Mỗi đợt sóng
tiên mao trùng bắt đầu bằng sự tăng số lƣợng tiên mao trùng trong máu, sau đó
giảm và khó phát hiện thấy tiên mao trùng. Mỗi đợt tiên mao trùng tăng lên trong
máu là biểu hiện sự xuất hiện một quần thể tiên mao trùng có tính kháng nguyên bề
mặt mới, quần thể này có thể tiếp tục sinh sản và tồn tại một thời gian cho đến khi
cơ thể xuất hiện kháng thể đặc hiệu với chúng.
Theo Phạm Sỹ Lăng và cs. (2008) [14]: tiên mao trùng phát triển nhanh trong
máu, tiêu thụ Glucose và các chất đạm, chất béo và khoáng chất trong máu ký chủ
bằng phƣơng thức thẩm thấu qua bề mặt cơ thể để duy trì hoạt động và sinh sản. Ở
súc vật bị bệnh, trong 1 ml máu có thể có 10.000 - 30.000 Tiên mao trùng. Với số
xuống, sùi bọt mép giống nhƣ trâu bị cảm nắng. Sau 20 - 30 phút con vật lại đứng
dậy đi lại đƣợc. Những trâu bò mắc bệnh có triệu chứng lâm sàng nhƣ trên thƣờng
là mắc bệnh ở thể cấp tính. Trâu, bò bị bệnh mãn tính thƣờng kéo dài, cơ thể suy
yếu, liệt hai chân sau, nằm tƣ thế quỳ và không đi lại đƣợc. Mặc dù nằm hệt nhƣng
vẫn ăn và nhai lại cho đến khi sắp chết. Phù thũng dƣới da: phù thũng thƣờng thấy ở
vùng thấp của cơ thể nhƣ ở bốn chân (từ khớp khuỷu trở xuống), phần yếm, ngực,
bộ phận sinh dục.
Viêm giác mạc và kết mạc mắt: triệu chứng này thấy ở hầu hết trâu, bò bệnh.
Mắt có dử trắng hay vàng, chảy liên tục, nếu nặng thì mắt sƣng đỏ ngầu. Khi khỏi
bệnh, mắt có màng trắng (củi nhãn) kẻo che kín giác mạc.
Hội chứng tiêu hoá: một số trâu, bò bệnh bị ỉa chảy nặng, phân lỏng, màu
vàng, sau chuyển màu xám, có lẫn bọt và chất nhầy. Các đợt ỉa chảy tiếp theo
những cơn sốt cách quãng. Ỉa chảy trong bệnh tiên mao trùng thƣờng dai dẳng và
con vật vẫn ăn đƣợc.
Gầy yếu, suy nhƣợc: ở thể bệnh cấp tính trâu, bò gầy sút nhanh, chỉ sau 7 - 14
ngày từ khi phát bệnh con vật đã gầy rộc, mắt trũng sâu. Nếu bệnh kéo dài thì con
vật gầy xơ xác, lông dựng ngƣợc, da khô nhăn nheo, niêm mạc mắt nhợt nhạt, lông
dễ rụng, dần dần suy nhƣợc cơ thể nặng, mất khả năng cày kéo và sinh sản. Nếu gặp
điều kiện bất lợi nhƣ thiếu ăn, rét mƣớt thì trâu, bò dễ chết.
Ở thể mãn tính, các triệu chứng lâm sàng nhẹ hơn, con vật ngày càng gầy, da
khô do mất nƣớc, niêm mạc mắt tụ máu màu đỏ tía, đôi khi có chấm máu. Sức khoẻ
suy yếu dần, kém ăn, kém nhai lại, đi phân táo có lẫn máu hoặc đi tháo lỏng mùi
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – ĐHTN
http://www.lrc.tnu.edu.vn
15
thối khắm. Thƣờng thấy có thuỷ thũng ở hầu, ức, nách, chân, háng. Trong trƣờng hợp
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – ĐHTN
http://www.lrc.tnu.edu.vn
16
Cho 1 giọt máu nhỏ lên phiến kính đã có sẵn 1 giọt EDTA; dùng góc của la
men khuấy đều, đậy la men lên để máu dàn theo la men thành một lớp mỏng. Soi
dýới kính hiển vi (độ phóng đại 10 x 40) để phát hiện tiên mao trùng sống.
- Phương pháp nhuộm Giemsa tiêu bản máu khô (Romanovsky)
+ Phƣơng pháp giọt dầy: Đặt 1 giọt máu to vào giữa phiến kính, dùng một góc
của đầu một phiến kính khác ria t n giọt máu với đƣờng kính khoảng 1 - 1,25 cm.
Để khô tự nhiên trong khoảng 1 giờ, rồi cố định bằng cồn Methanol, nhuộm Giemsa
[1 giọt Giemsa + 1 ml dung dịch PBS (Phosphat Buffered Saline) pH = 7,2] trong
25 phút. Rửa tiêu bản dƣới vòi nƣớc chảy mạnh, để khô rồi soi dƣới kính hiển vi (độ
phóng đại 10 x 100).
+ Phƣơng pháp giọt mỏng:
- Phương pháp làm tan hồng cầu: Dung dịch SDS (Sodium Dodecyl Sulfate)
là chất làm tan hồng cầu. Nhờ dung dịch SDS, tiên mao trùng dễ dàng đƣợc phát
hiện trong máu. Dung dịch SDS rất độc nên tránh tiếp xúc với da và tránh hút bằng
pipet. Dung dịch SDS dễ bảo quản ở nhiệt độ thƣờng trong nhiều tháng
- Phương pháp tập trung tiên mao trùng:
Phƣơng pháp ly tâm tập trung bằng ống Haematocrit: Cho máu động vật nghi
mắc bệnh vào ống Haematocrit, một đầu ống đƣợc bịt kín bằng chất dẻo matit, một
đầu ống để hở. Ly âm với tốc độ 12.000 vòng/phút trong 5 phút. Sau đó kiểm tra sự
tập trung của tiên mao trùng tại vị trí tiếp giáp giữa huyết tƣơng và bạch cầu (độ
phóng đại 10 x 10) (Nguyễn Nhƣ Thanh, 2000) [23].
- Phương pháp tiêm truyền động vật thí nghiệm:
Đây là phƣơng pháp thƣờng đƣợc ứng dụng để chẩn đoán bệnh tiên mao trùng ở