“TIỂU LUẬN CAO HỌC Nâng cao năng lực lãnh đạo và sức chiến đấu của tổ chức cơ sở đảng hiện nay” - Pdf 40

NỘI DUNG
Chương I
VỊ TRÍ, VAI TRÒ, CHỨC NĂNG VÀ NHIỆM VỤ
CỦA TỔ CHỨC CƠ SỞ ĐẢNG
1. Khái niệm tổ chức cơ sở Đảng
Tổ chức cơ sở Đảng (TCCSĐ) là tổ chức Đảng ở đơn vị cơ sở. Điều lệ Đảng
do Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ X thông qua xác định : “ Ở xã, phường, thị
trấn, cơ quan HTX, doanh nghiệp, đơn vị sự nghiệp, đơn vị cơ sở trong quân đội,
Công an và các đơn vị cơ sở khác có từ 3 Đảng viên chính thức trở lên, lập TCCSĐ
…”.
TCCSĐ dưới 30 Đảng viên lập Chi bộ cơ sở có các tổ Đảng trực thuộc.
“TCCSĐ có từ 30 Đảng viên trở lên, lập Đảng bộ cơ sở, có các Chi bộ trực thuộc
Đảng ủy”. “ TCCSĐ được lập tại đơn vị hành chính, sự nghiệp kinh tế hoặc công
tác, đặt dưới sự lãnh đạo của cấp ủy Huyện, quận, thị xã, Thành phố trực thuộc”.
Điều lệ Đảng cũng có qui định riêng cho tổ chức Đảng trong Quân đội nhân
dân Việt Nam và Công an nhân dân Việt nam.
Như vậy, TCCSĐ có hai hình thức tổ chức là Chi bộ cơ sở và Đảng bộ cơ sở.
Đảng bộ cơ sở có hai loại hình : Đảng bộ cơ sở có các Đảng bộ bộ phận và Chi bộ
trực thuộc; Đảng bộ cơ sở chỉ có các Chi bộ trực thuộc. Các TCCSĐ đều có cấp ủy
cấp trên trực tiếp. Đó là Huyện ủy, Quận ủy, Thị ủy, Thành ủy trực thuộc, Đảng ủy
khối…
2. Vị trí, vai trò, chức năng và nhiệm vụ của tổ chức cơ sở đảng
2.1. Vị trí, vai trò của tổ chức cơ sở dảng
C. Mác và Ph. Ăngghen là người đầu tiên nêu lên những quan điểm, tư tưởng
về vị trí, vai trò của chi bộ. Hai ông sáng lập ra “ liên đoàn những người cộng sản”
1


và khẳng định các chi bộ của “liên đoàn” được thành lập dưới hình thức các hội bí
mật trong các hiệp hội công nhân. Hai ông cũng chỉ ra rằng, nếu các chi bộ này bị
buông lỏng về mặt tổ chức sẽ dẫn đến cắt đứt liên lạc với ban chấp hành Trung

mọi tầng lớp quần chúng lao động, những chi bộ ấy phải thông qua công tác muôn
hình muôn vẻ mà rèn luyện mình, rèn luyện đảng, giai cấp, quần chúng một cách hệ
thống. Người viết: “Mỗi chi bộ và mỗi uỷ ban công nhân của Đảng phải là một
điểm tựa để tiến hành công tác tuyên truyền cổ động và tổ chức thực hiện trong
quần chúng”, tức là phải đi đến nơi mà quần chúng đi, và trong mỗi bước đi, phải
cố gắng làm cho ý thức của quần chúng hướng về chủ nghĩa xã hội…”.
Đảng Cộng sản Việt Nam và Chủ tịch Hồ Chí Minh đặc biệt quan tâm xây
dựng tổ chức cơ sở đảng. Dù ở bất kỳ giai đoạn cách mạng nào, Đảng ta luôn
khẳng định tổ chức cơ sở đảng là nền tảng của Đảng, là hạt nhân chính trị ở đơn vị
cơ sở: “Mỗi chi bộ của Đảng là một hạt nhân lãnh đạoquần chúng ở cơ sở, đoàn kết
chặt chẽ liên hệ mật thiết với quần chúng, phát huy được trí tuệ và lực lượng vĩ đại
của quần chúng” .
Trong cách mạng dân tộc dân chủ, Đảng luôn coi các tổ chức của Đảng ở cơ
sở là tổ chức nền tảng, là các tế bào cấu thành nên Đảng, là đơn vị chiến đấu cơ bản
của Đảng, trong đó các tổ chức nằm trong tổ chức cơ sở đảng là pháo đài chiến đấu
của Đảng.
Đất nước thống nhất, cả nước đi lên chủ nghĩa xã hội, những bài học thành
công và những bài học chưa thành công đều gắn liền với vị trí, vai trò của tổ chức
cơ sở đảng.
Đảng ta khẳng định: Những thành tựu đã đạt được, những tiềm năng được
khai thác, những kinh nghiệm có giá trị đều bắt nguồn từ sự nỗ lực phấn đấu của
quần chúng ở cơ sở mà hạt nhân là tổ chức đảng.
Nhưng mặt khác, sự yếu kém của nhiều tổ chức cơ sở đảng đã hạn chế những
thành tựu của cách mạng.
Vị trí, vai trò của tổ chức cơ sở đảng được khái quát và khẳng định ở những
nội dung sau:
3


- Tổ chức cơ sở đảng là nơi nối liền Đảng với quần chúng, là tổ chức đầu tiên

phát triển. Nhiệm vụ chính trị mới mẻ, môi trường xã hội có nhiều phức tạp, cán
bộ, đảng viên lại đang giữ nhiều trọng trách hàng ngày hàng giờ phải đối mặt với
tiền và hàng. Điều đó càng phải làm sao giữ vững và tăng cường bản chất giai cấp
công nhân của Đảng.
Tư tưởng trong Nghị quyết Hội nghị lần thứ năm Ban chấp hành Trung ương
khoá VI của Đảng đã chỉ rõ: Trong điều kiện chuyển sang thực hiện cơ chế quản lý
mơi, phát huy vai trò chủ động, sáng tạo của các đơn vị cơ sở, mở rộng dân chủ xã
hội chủ nghĩa, các tổ chức cơ sở đảng đóng vai trò hết sức quan trọng.
2.2. Chức năng, nhiệm vụ của tổ chức cơ sở đảng
2.2.1. Chức năngcủa tổ chức cơ sở đảng
Chức năng của một tổ chức là sự phân công tất yếu, sự quy định chức trách
một cách tương đối ổn định và hợp lý trong điều kiện lịch sử xã hội nhất định của
một tổ chức để phân biệt tổ chức này với tổ chức khác.
Đối với tổ chức cở đảng có chức năng quan trọng là: hạt nhân chính trị lãnh
đạo tại đơn vị cơ sở. Nó được thể hiện ở vai trò đoàn kết và lãnh đạo các tổ chức
trong hệ thống chính trị ở cơ sở, là trung tâm quy tụ, tập hợp mọi lực lượng ở cơ sở,
định hướng cho cơ sở phát triển. Sẽ không trở thành hạt nhân chính trị lãnh đạo ở
cơ sở nếu tổ chức cơ sở đảng rơi vào tình trạng mất đoàn kết, quần chúng bị kích
động lôi kéo vào những việc làm tự phát… Tổ chức cơ sở đảng còn có chức năng
tiến hành các hoạt động xây dựng nội bộ đảng. Chỉ có thường xuyên chỉnh đốn và
đổi mới, củng cố, kiện toàn hệ thống tổ chức các cơ quan lãnh đạo của Đảng, giữ
vững nguyên tắc tập trung dân chủ, những tiêu chuẩn sinh hoạt Đảng, Đảng mới
thực sự là hạt nhân, là đơn vị chiến đấu cơ bản của Đảng ở cơ sở.
Tổ chức cơ sở Đảng là hạt nhân lãnh đạo chính trị ở đơn vi cơ sở. Điều đó
được thể hiện ở chỗ quán triệt và vận dụng sáng tạo đường lối, chính sách, nghị
quyết của Đảng, lãnh đạo thực hiện hiến pháp, pháp luật của Nhà nước, các quy
định của chuyên môn, của các đoàn thể nhân dân.

5




hoạt Đảng, thực hiện tự phê bình và phê bình, giữ gìn kỷ luật và tăng cường đoàn
kết thống nhất trong Đảng; thường xuyên giáo dục, rèn luyện và quản lý cán bộ,
đảng viên nhằm nâng cao phẩm chất đạo đức cách mạng, tính chiến đấu, trình độ
kiến thức, năng lực công tác; làm công tác phát triển đảng viên.
Chất lượng của một tổ chức đảng, của cấp uỷ và của đội ngũ đảng viên là yếu
tố quyết định vai trò lãnh đạo, đến việc đổi mới phương thức lãnh đạo của các tổ
chức cơ sở đảng. Vì thế, nội dung của nhiệm vụ trên cần được vận dụng vào từng
loại hình tổ chức cơ sở đảng theo những quy định của Ban chấp hành Trung ương.
Xuất phát từ thực tế của chi bộ, đảng bộ mà xác định trọng tâm trọng điểm phải
giải quyết. Trong giai đoạn hiện nay cần tập trung xây dựng đội ngũ cán bộ, đảng
viên về cả phẩm chất chính trị, đạo đức, kiến thức và năng lực thực tiễn. Nâng cao
chất lượng sinh hoạt chi bộ, giữ gìn kỷ luật đảng, tăng cường đoàn kết thống nhất
trong Đảng.
Ba là, lãnh đạo xây dựng chính quyền, các tổ chức kinh tế, hành chính, sự
nghiệp, quốc phòng an ninh và các đoàn thể chính trị-xã hội trong sạch vững mạnh,
chấp hành đúng pháp luật và phát huy quyền làm chủ của nhân dân.
Đây là yếu tố quan trọng bảo đảm vai trò lãnh đạo của tổ chức cơ sở đảng đối
với các hoạt động của đơn vị. Đó cũng là việc làm thường xuyên cơ bản của tổ
chức cơ sở đảng. Thực hiện tốt nhiệm vụ này ở mỗi loại hình tổ chức cơ sở đảng có
khác nhau, song hướng chủ yếu là chăm lo củng cố, kiện toàn hệ thống tổ chức, xây
dựng các quy chế làm việc trong đó xác định rõ chức năng, nhiệm vụ và mối quan
hệ giữa các tổ chức trong hệ thống chính trị. Đào tạo, bồi dưỡng, nâng cao phẩm
chất đạo đức, kiến thức và năng lực hoạt động cho đội ngũ cán bộ chủ chốt. Hoạt
động lãnh đạo của Đảng không mâu thuẫn với việc chấp hành đúng hiến pháp, pháp
luật của nhà nước. Tổ chức cơ sở đảng cũng phải là tổ chức gương mẫu chấp hành
luật pháp và hoạt động trong khuôn khổ hiến pháp và pháp luật.

7

Đảng bộ cơ sở, 31.697 chi bộ cơ sở), hơn 202.446 chi bộ trực thuộc Đảng uỷ cơ sở
với tổng số hơn 3,2 triệu Đảng viên.
Trong tổng số tổ chức cơ sở Đảng của toàn Đảng có: 10.929 tổ chức cơ sở
Đảng ở xã, phường, thị trấn (chiếm 20,7%) với tổng số 1.965.072 đảng viên; 5.441
tổ chức cơ sở Đảng trong doanh nghiệp nhà nước (chiếm 10,3%) với tổng số
230.272 đảng viên; 16.542 tổ chức cơ sở Đảng trong cơ quan hành chính (chiếm
31,3%) với tổng số 284.145 Đảng viên; 6.974 tổ chức cơ sở Đảng trong đơn vị sự
nghiệp (chiếm 13,2%) với tổng số 214.336 Đảng viên; 8.289 tổ chức cơ sở Đảng
trong lực lượng vũ trang (15,7%) với tổng số 399.754 Đảng viên; 3.474 tổ chức cơ
sở Đảng trong doanh nghiệp cổ phần có vốn nhà nước (6,6%) với 107.370 Đảng
viên; 598 tổ chức cơ sở Đảng trong doanh nghiệp tư nhân có vốn đầu tư nước ngoài
(chiếm (0,35%) với tổng số 5.039 Đảng viên; 75 tổ chức cơ sở Đảng ở ngoài nước
với gần 6.500 Đảng viên…
Trong những năm qua, thực hiện kinh tế thị trường định hướng XHCN và
hội nhập kinh tế quốc tế, số lượng tổ chức cơ sở Đảng và Đảng viên tăng nhanh và
có một số thay đổi:
+ Số tổ chức cơ sở Đảng trong doanh nghiệp nhà nước giảm và số cơ sở Đảng
trong doanh nghiệp cổ phần, doanh nghiệp tư nhân, doanh nghiệp liên doanh với
nước ngoài tăng.

9


+ Một số hình tổ chức cơ sở Đảng có sự thay đổi về quy mô, hình thức tổ
chức, nội dung và phương thức hoạt động (các tổ chức Đảng trong tập đoàn kinh tế
tổng công ty hay đặc biệt)
+ Một số loại hình tổi chức cơ sở Đảng mới được định hình như: Tổ chức cơ
sở Đảng trong doanh nghiệp cổ phần có vốn của nhà nước, doanh nghiệp 100% vốn
nước ngoài và tổ chức cơ sở Đảng trong các trường học, bệnh viện ngoài công lập.
Tuy nhiên do tình hình thực tiễn thay đổi, những hệ thống tổ chức của Đảng

huyết với sự nghiệp cách mạng của Đảng.
- Đa số quần chúng nhân dân ở cơ sở cần cù, chịu khó, luôn tin tưởng vào sự
lãnh đạo của Đảng và tâm huyết tham gia xây dựng Đảng và chính quyền ở cơ sở
. + Trong những năm qua, BCH TW, Bộ chính trị, BBT đã quan tâm lãnh đạo,
chỉ đạo nhằm nâng cao năng lực lãnh đạo, sức chiến đấu của TCCSĐ và quán triệt
chủ trương và thực hiện sự chỉ đạo của TW, công tác xây dựng Đảng ở cơ sở đã có
một số chuyển biến tiến bộ, góp phần đẩy mạnh sự nghiệp đổi mới đất nước .
+ Nhiều TCCSĐ đã giữ vững và phát huy được vai trò hạt nhân chính trị ở cơ
sở; lãnh đạo cán bộ, đảng viên, nhân dân thực hiện chủ trương, đường lối của
Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước và sự chỉ đạo của cấp ủy cấp trên, thực
hiện có kết quả nhiệm vụ chính trị, công tác chuyên môn của địa phương, cơ quan,
đơn vị.
+ Việc xây dựng và thực hiện quy chế dân chủ ở cơ sở được triển khai và
bước đầu đem lại kết quả tích cực, dân chủ trong đảng và trong xã hội được mở
rộng hơn. “ Nhiều cấp ủy cơ sở đã coi trọng việc xây dựng quy chế làm việc và
thực hiện theo quy chế; duy trì chế độ giao ban định kỳ giữa thường trực cấp ủy với
chính quyền, các tổ chức chính trị - xã hội ở cơ sở. Một số tỉnh, thành phố đã thực
hiện tổ chức lấy phiếu tín nhiệm của đại biểu nhân dân đối với chức danh Chủ tịch
HĐND, Chủ tịch UBND xã, phường, Thị trấn và Trưởng thôn, tổ Trưởng dân phố.
11


Có được những chuyển biến, tiến bộ trên là do:
- BCH TW, BCT, BBT và các cấp ủy đã có những nghị quyết, Chỉ thị, quy
định và giải pháp về xây dựng TCCSĐ.
- Các cấp ủy cơ sở đã nhận thức đầy đủ hơn vị trí, vai trò, chức năng, nhiệm
vụ của TCCSĐ và chăm lo công tác XXĐ. (Văn kiện Hội nghị TW lần thứ sáu
(khoá X). (NXB CTQG, H, 2008 Tr 89 -90).
- Nhiều cấp ủy cấp trên đã quan tâm, chỉ đạo việc xây dựng TCCSĐ trong
sạch vững mạnh, củng cố cơ sở yêú kém: cơ sở vật chất, phương tiện và điều kiện

chức cơ sở Đảng bị mất sức chiến đấu.
- Còn không ít cơ sở chưa thực hiện có nề nếp chế độ sinh hoạt Đảng, nội
dung sinh hoạt chi bộ chậm đổi mới; nhiều cấp uỷ, Đảng bộ, chi bộ chưa thực hiện
nghiêm nguyên tắc tập trung dân chủ trong Đảng; chưa coi trọng đổi mới phương
thức lãnh đạo và phong cách, lề lối làm việc; bệnh thành tích cón nặng và khá phổ
biến.
Những khuyết điểm yếu kém nêu trên có cả nguyên nhân khách quan song
nguyên nhân chủ quan là chủ yếu:
+ Chúng ta chưa lường hết tác động bởi mặt trái của cơ chế thị trường và hội
nhập kinh tế Quốc tế. Vào công tác xây dựng Đảng. Vì vậy tuy đã được đổi mới
nhưng công tác xây dựng Đảng nói chung, xây dựng Đảng ở cơ sở nói riêng chư
theo kịp sự biến đổi của tình hình. Trên thực tế chúng ta chưa quan tâm đúng mức
đến công tác nghiên cứu lý luận, thiếu dự báo về côngg tác xây dựng Đảng trong
tình hình mới đề ra biện pháp chiết thực.
+ Chưa nhận thức, đầy đủ nhiệm vụ then chốt của công tác xây dựng Đảng, cụ
thể là:
+ Các cấp uỷ chưa quán triệt sâu sắc vị trí vai trò, chức năng, nhiệm vụ của chi
bộ, của tổ chức cơ sở Đảng.
13


+ Sự lãnh đạo, chỉ đạo,, kiểm tra, giám sát của cấp uỷ cấp trên đối với cơ sở
chưa thường xuyên.
- Việc ban hành các quy định hướng dẫn của Trung ương về công tác xây
dựng Đảng còn chậm, thiếu đồng bộ và một số quy định hướng dẫ chưa sát thực tế.
- Đội ngũ cấp uỷ viên ít được bồi dưỡng về kỹ năng nghiệp vụ công tác xây
dựng Đảng và cập nhật những kiến thức mới, nhất là về kinh tế, xã hội, pháp luật
2.3. Nguyên nhân chủ yếu của yếu kém.
- Nhìn chung cơ sở vật chất kỹ thuật ở các xã, phường, thị trấn trong tỉnh còn thiếu
thốn, nghèo nàn.

hình tổ chức cơ sở đảng và đội ngũ cán bộ, Đảng viên hiện nay; chỉ rõ những ưu
điểm, khuyết điểm, nguyên nhân và những khó khăn, vướng mắc, bất cập ở cơ sở;
đề ra những nhiệm vụ, giải pháp cụ thể về tổ chức, cán bộ và cơ chế, chính sách để
thực hiện trong những năm tới, trong đó có nhiều nội dung mới, mạnh mẽ và có
tính khả thi; việc triển khai thực hiện nghị quyết có nhiều đổi mới, đồng bộ từ
Trung ương đến các địa phương, tạo được niềm tin của cán bộ, Đảng viên và nhân
dân.
Thực hiện sự chỉ đạo của Bộ Chính trị về triển khai thực hiện Nghị quyết số 22NQ/TW, các cơ quan đảng, nhà nước, đoàn thể chính trị - xã hội có liên quan ở
Trung ương đã khẩn trương nghiên cứu, xây dựng các đề án nhằm cụ thể hóa nội
dung nghị quyết để thực hiện: Quốc hội có nghị quyết về thực hiện thí điểm không
tổ chức hội đồng nhân dân ở 67 huyện, 32 quận, 483 phường thuộc 10 tỉnh, thành
phố đại diện cho các vùng, miền trong cả nước; Chính phủ đã ban hành Nghị định
số 159-NĐ/CP, ngày 27/12/2005, về phân loại đơn vị hành chính xã, phường, thị
trấn; chỉ đạo việc nghiên cứu, bổ sung, sửa đổi Nghị định số 114/2003/NĐ-CP,
ngày 10/10/2003, của Chính phủ về cán bộ, công chức xã, phường, thị trấn, Nghị
15


định số 121/2003/NĐ-CP, ngày 21/10/2003, của Chính phủ về chế độ, chính sách
đối với cán bộ, công chức ở xã, phường, thị trấn, Nghị định số 92-NĐ/CP, ngày
22/10/2009, về chức danh, số lượng, một số chế độ, chính sách đối với cán bộ,
công chức ở xã, phường, thị trấn và những người hoạt động không chuyên trách ở
cấp xã; liên Bộ Nội vụ, Tài chính, Lao động - Thương binh và Xã hội đã ban hành
Thông tư liên tịch số 03/2010/TTLT-BNV-BTC-BLĐTB&XH, ngày 27/5/2010,
hướng dẫn thực hiện Nghị định số 92 của Chính phủ. Ban Tổ chức Trung ương đã
nghiên cứu trình Bộ Chính trị bổ sung, sửa đổi Quy chế bầu cử trong Đảng và Quy
định về Bảo vệ chính trị nội bộ Đảng; trình Ban Bí thư bổ sung, sửa đổi một số quy
định về chức năng, nhiệm vụ của một số loại hình tổ chức cơ sở đảng cho phù hợp
với tình hình mới và xây dựng quy định chức năng, nhiệm vụ của một số loại hình
tổ chức cơ sở đảng chưa có quy định; nghiên cứu, ban hành các hướng dẫn về việc

Nhiều cấp ủy đã tiến hành tổng kết việc xây dựng và thực hiện Quy chế Dân chủ ở
cơ sở; công tác xây dựng tổ chức đảng và phát triển Đảng viên ở vùng đồng bào
Khmer, vùng đồng bào có đạo và trong các doanh nghiệp tư nhân, doanh nghiệp có
vốn đầu tư nước ngoài. Các tỉnh ủy, thành ủy đã xây dựng kế hoạch và tổ chức Hội
thi bí thư chi bộ giỏi ở cơ sở và cấp trên trực tiếp của cơ sở, sau đó tổ chức hội nghị
tọa đàm, trao đổi kinh nghiệm và biểu dương, khen thưởng các bí thư chi bộ giỏi ở
cấp tỉnh như Hải Phòng, Hòa Bình, Đảng ủy Công an Trung ương...
Cùng với việc thực hiện Nghị quyết của Trung ương về “Nâng cao năng lực lãnh
đạo, sức chiến đấu của tổ chức cơ sở đảng và chất lượng đội ngũ cán bộ, Đảng
viên”, các cấp ủy đảng đã triển khai thực hiện nghiêm túc Chỉ thị của Bộ Chính trị
về thực hiện Cuộc vận động “Học tập và làm theo tấm gương đạo đức Hồ Chí
Minh”, Chỉ thị của Ban Bí thư và Hướng dẫn của Ban Tổ chức Trung ương về
“Nâng cao chất lượng sinh hoạt chi bộ” ... Do đó, sau hơn ba năm thực hiện Nghị
quyết Trung ương 6, công tác xây dựng Đảng ở cơ sở đã tạo được sự chuyển biến
tiến bộ trên nhiều mặt và đạt được một số kết quả cụ thể, góp phần thúc đẩy phát

17


triển kinh tế - xã hội, bảo đảm quốc phòng an ninh, đẩy mạnh sự nghiệp công
nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước.
Nhiều tổ chức cơ sở đảng trong các loại hình cơ sở đã giữ vững và phát huy được
vai trò hạt nhân chính trị ở cơ sở, lãnh đạo cán bộ, Đảng viên, quần chúng thực
hiện chủ trương, đường lối của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước, thực
hiện có kết quả nhiệm vụ chính trị, công tác chuyên môn của địa phương, cơ quan,
đơn vị. Việc xây dựng và thực hiện Quy chế Dân chủ ở cơ sở được triển khai rộng
rãi và đem lại một số kết quả tích cực; dân chủ trong Đảng và trong xã hội được mở
rộng và phát huy hơn. Công tác đào tạo, bồi dưỡng, quy hoạch đội ngũ cán bộ cơ sở
được quan tâm chỉ đạo, tạo một số chuyển biến tích cực và kết quả bước đầu. Đội
ngũ cán bộ, Đảng viên được tăng thêm về số lượng và chất lượng; trình độ, kiến

ra ở nhiều nơi. Một bộ phận không nhỏ Đảng viên phai nhạt lý tưởng, giảm sút ý
chí phấn đấu, vi phạm nguyên tắc Đảng, tự phê bình và phê bình yếu. Tình trạng
suy thoái về phẩm chất chính trị, đạo đức, lối sống trong một bộ phận cán bộ, Đảng
viên rất đáng lo ngại; tệ tham nhũng, lãng phí, tiêu cực còn xảy ra ở nhiều nơi
nhưng chậm được phát hiện, ngăn chặn, đẩy lùi có hiệu quả. Công tác quản lý,
kiểm tra, giám sát đội ngũ cán bộ, Đảng viên ở nhiều cơ sở còn bị buông lỏng. Cấp
ủy và chi bộ chưa nắm chắc tình hình tư tưởng và phẩm chất của cán bộ, Đảng
viên; chưa có những giải pháp cụ thể để ngăn ngừa, đấu tranh và xử lý kịp thời
những Đảng viên vi phạm. Việc đánh giá chất lượng tổ chức cơ sở đảng và Đảng
viên hằng năm tuy có tiến bộ nhưng vẫn chưa khắc phục căn bản được bệnh thành
tích. Công tác kết nạp Đảng viên vẫn còn chú ý nhiều đến số lượng, chưa chú trọng
đúng mức chất lượng; số Đảng viên mới được kết nạp ở địa bàn dân cư là công
nhân lao động trong các thành phần kinh tế còn ít.

3.2 GIAI PHAP
3.2.1 tập trung lãnh đạo, chỉ đạo, thực hiện đồng bộ các giải pháp để nâng cao năng
lực lãnh đạo, sức chiến đấu của các tổ chức cơ sở đảng; bảo đảm sự lãnh đạo của
Đảng trên tất cả các lĩnh vực hoạt động của đời sống xã hội ở cơ sở, nhất là ở
19


những địa bàn, lĩnh vực trọng yếu; lấy chất lượng, hiệu quả hoạt động của hệ thống
chính trị ở cơ sở làm thước đo kết quả tổng hợp của toàn bộ công tác xây dựng
Đảng.
3.2.2 tăng cường mối quan hệ mật thiết giữa Đảng với nhân dân, dựa vào dân để
xây dựng Đảng, phát huy sức mạnh tổng hợp của cả hệ thống chính trị trong việc
tham gia xây dựng Đảng; phát huy quyền làm chủ của nhân dân, mọi tổ chức đảng
và cán bộ, Đảng viên phải chịu sự giám sát của nhân dân.
3.3.3 xây dựng tổ chức cơ sở đảng phải kết hợp chặt chẽ với thực hiện Cuộc vận
động “Học tập và làm theo tấm gương đạo đức Hồ Chí Minh”, với xây dựng chính

là cán bộ lãnh đạo các ban, ngành, đoàn thể phụ trách từng đơn vị. Cấp ủy cơ sở
giao nhiệm vụ cụ thể cho các chi bộ phân công Đảng viên phát hiện, bồi dưỡng,
giúp đỡ quần chúng phấn đấu vào Đảng hoặc luân chuyển cán bộ, Đảng viên từ nơi
khác đến để góp phần thành lập chi bộ và giúp đỡ quần chúng, tạo nguồn kết nạp
Đảng viên. Chú trọng nâng cao chất lượng kết nạp Đảng viên mới, khắc phục tình
trạng chạy theo thành tích, số lượng, hạ thấp tiêu chuẩn. Những Đảng viên làm việc
ổn định (từ một năm trở lên) trong các doanh nghiệp ngoài quốc doanh phải chuyển
sinh hoạt đảng về nơi làm việc (nếu nơi đó có tổ chức đảng) để Đảng viên tham gia
sinh hoạt đảng và thực hiện nhiệm vụ Đảng viên.
Bốn là, tích cực thực hiện việc trẻ hóa, tiêu chuẩn hóa và từng bước nhất thể hóa
cán bộ chủ chốt ở cơ sở. Cần đẩy mạnh việc tuyển chọn, tiếp nhận và đưa những
sinh viên là người địa phương đã tốt nghiệp đại học, cao đẳng về công tác ở xã,
phường, thị trấn làm công chức dự bị để rèn luyện, thử thách, tạo nguồn cán bộ lâu
dài. Tăng cường đào tạo, bồi dưỡng và từng bước chuẩn hóa đội ngũ cán bộ, công
chức cơ sở xã, phường, thị trấn. Các tỉnh miền núi, vùng có đông đồng bào dân tộc
thiểu số, cần tăng cường đầu tư, nâng cao chất lượng đào tạo của các trường phổ
thông dân tộc nội trú; phối hợp với các quân khu lựa chọn những thanh niên người
dân tộc thiểu số đã hoàn thành nghĩa vụ quân sự, tiếp tục đưa đi đào tạo, nâng cao
21


trình độ học vấn, lý luận chính trị, kiến thức chuyên môn, nghiệp vụ, tạo nguồn xây
dựng đội ngũ cán bộ ở cơ sở.
Năm là, các cấp ủy, đảng bộ, chi bộ cơ sở và chi bộ trực thuộc đảng ủy cơ sở thực
hiện nghiêm túc, có nền nếp chế độ sinh hoạt đảng định kỳ. Nội dung sinh hoạt cần
tập trung giải quyết những vấn đề cụ thể, thiết thực liên quan đến chức năng, nhiệm
vụ của chi bộ và quyền lợi, trách nhiệm của Đảng viên; nâng cao trình độ, nhận
thức, tạo điều kiện cho Đảng viên thực hiện tốt nghị quyết của chi bộ và các nhiệm
vụ được phân công. Thường xuyên liên hệ, kiểm điểm việc thực hiện Cuộc vận
động “Học tập và làm theo tấm gương đạo đức Hồ Chí Minh”, kịp thời nêu gương

Đảng. Chống cách làm hình thức, không sửa chữa khuyết điểm.
- Mỗi chi bộ, mỗi cấp uỷ phải thực hiện tốt công tác quản lý chặt chẽ đảng viên,
không để một đảng viên nào đứng ngoài trách nhiệm quản lý của tổ chức Đảng.
- Tiếp tục xây dựng và củng cố các chi bộ thuộc Đảng bộ cơ sở xã, phường, thị trấn
- là cầu nối giữa Đảng với các tầng lớp nhân dân, trực tiếp tổ chức và lãnh đạo nhân
dân thực hiện đường lối, chủ trương, chính sách của Đảng.
Chín là Nâng cao chất lượng đảng viên.
- Cần phải làm cho mọi đảng viên ở cơ sở nhận thức được tình hình mới hiện nay,
người đảng viên phải có trình độ giác ngộ cách mạng cao, trình độ trí tuệ cao, ý
thức tổ chức kỷ luật nghiêm, phẩm chất đạo đức tốt.
- Mọi đảng viên đều được tổ chức Đảng quản lý và phân công nhiệm vụ công tác
cụ thể, hàng năm phân tích chất lượng đảng viên trên cơ sở mức độ hoàn thành
nhiệm vụ của đảng viên.
- Công tác phát triển đảng viên mới cần phải coi trọng hơn nữa. Phải thường xuyên
quan tâm lãnh đạo xây dựng Đoàn Thanh niên Cộng sản Hồ Chí Minh, coi đây là
một nhiệm vụ quan trọng của công tác xây dựng Đảng.
- Việc phân công công tác cho đảng viên, nên nghiên cứu khả năng và điều kiện
của từng đồng chí để phân công cho phù hợp.
23


- Các cấp uỷ Đảng, đặc biệt là cấp uỷ chi bộ cần quan tâm động viên tới từng đồng
chí đảng viên; khắc phục ngay tình hình thiếu sót khuyết điểm hiện nay là chỉ biết
giao nhiệm vụ mà không chú ý tới đời tư.9
Mười là:Vấn đề nâng cao năng lực lãnh đạo của đội ngũ cán bộ cơ sở
- Phải rà soát, sắp xếp điều chỉnh, bồi dưỡng đội ngũ cán bộ hiện có, trước hết là các
chức danh lãnh đạo ở cấp xã. Đối với cán bộ chủ chốt kiến thức năng lực yếu không
đảm đương nổi nhiệm vụ cần điều chỉnh, bố trí công việc thích hợp, ở những nơi trì
trệ, yếu kém, cán bộ chủ chốt có sai phạm cần làm rõ, xử lý kịp thời, nghiêm minh.
- Nên có kế hoạch và động viên số cán bộ đương chức học chuyên môn và nghiệp


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status