PHÒNG GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO THÀNH PHỐ PLEIKU
TÊN ĐỀ TÀI:
MỘT SỐ KINH NGHIỆM DẠY
TẬP LÀM VĂN MIÊU TẢ LỚP 5 ĐẠT KẾT QUẢ TỐT
MÃ SKKN: TH
1
PHÒNG GIÁO DỤC & ĐÀO TẠO TP. PLEIKU
TRƯỜNG: TIỂU HỌC TRẦN ĐẠI NGHĨA
TỔ: 5
TÊN ĐỀ TÀI
MỘT SỐ KINH NGHIỆM DẠY
TẬP LÀM VĂN MIÊU TẢ LỚP 5 ĐẠT KẾT QUẢ TỐT
MÃ SKKN: TH
Họ và tên người viết: Nguyễn Thị Huyền
Chức danh: Giáo viên
2
MỘT SỐ KINH NGHIỆM DẠY TẬP LÀM VĂN MIÊU TẢ
LỚP 5 ĐẠT KẾT QUẢ TỐT.
A. ĐẶT VẤN ĐỀ
I. CƠ SỞ LÍ LUẬN:
Đất nước đang trong thời kì công nghiệp hoá - hiện đại hoá đòi hỏi nguồn
có liên quan mật thiết đến các môn học khác.
Trong quá trình dạy Tập làm văn, để đạt được mục tiêu đề ra, ngoài phương
pháp của thầy, học sinh cần phải có vốn kiến thức, ngôn ngữ về đời sống thực tế.
Học tốt Tập làm văn sẽ giúp các em học tốt các môn học khác, đồng thời giáo dục
các em những tình cảm lành mạnh, trong sáng, rèn luyện khả năng giao tiếp và góp
phần đắc lực vào việc giữ gìn, phát huy sự trong sáng của Tiếng Việt, hình thành
nhân cách con người Việt Nam hiện đại.
II. CƠ SỞ THỰC TIỄN
1) Thực trạng tình hình :
Năm học 2015 – 2016 là năm học thứ hai tiếp tục thực hiện đánh giá học
sinh Tiểu học theo thông tư 30/2014/TT-BGDĐT và tiếp tục thực hiện lồng ghép
tích hợp giáo dục Bảo vệ môi trường, tài nguyên biển, hải đảo, sử dụng năng
lượng tiết kiệm và hiệu quả vào các môn học và hoạt động giáo dục cấp Tiểu học.
Tăng cường giáo dục kĩ năng sống, giáo dục pháp luật cho học sinh, đồng thời tiếp
tục thực hiện tốt các cuộc vận động và phong trào: Xây dựng trường học thân thiện
học sinh tích cực.
Qua thực tế giảng dạy nhiều năm ở lớp 5 và nghiên cứu môn Tiếng Việt tôi
nhận thấy phân môn Tập làm văn nối tiếp một cách tự nhiên các bài học khác nhau
trong môn Tiếng việt. Nội dung các bài Tập làm văn lớp Năm thường được gắn với
chủ điểm đang học của các bài Tập đọc theo chương trình. Kiến thức Tập làm văn
lớp Năm trang bị cho học sinh lớp Năm thông qua các bài luyện tập, thực hành.
Nội dung các bài luyện tập trong sách giáo khoa Tiếng Việt lớp Năm giúp học
sinh hoàn thiện những hiểu biết ban đầu về văn miêu tả (tả cảnh, tả người), có một
số hiểu biết về mục đích giao tiếp và hoàn cảnh giao tiếp để thực hành vận dụng
các loại văn bản khác như: Làm báo cáo thống kê; làm đơn; làm biên bản; thuyết
trình tranh luận; lập chương trình hoạt động; tập viết đoạn đối thoại.
4
Ngoài việc cung cấp một số kiến thức mới, nội dung dạy học Tập làm văn
Một vài em chưa phân biệt rõ giữa văn kể chuyện và văn miêu tả vì vậy bài
văn khô khan thiếu hẳn câu văn hay hình ảnh đẹp. Bài viết còn nghèo nàn, đơn
điệu các em chưa biết sử dụng các biện pháp nghệ thuật trong miêu tả.
Một số em chưa biết vận dụng lồng ghép kiến thức các môn học khác để hỗ
trợ cho môn học Tập làm văn và các em cũng chưa biết học tập cách miêu tả đặc
sắc những sự vật cùng đối tượng của các nhà văn, nhà thơ nổi tiếng mà các em đã
được học.
2) Tìm hiểu nguyên nhân:
a) Về phía học sinh:
- Các em chưa hiểu rõ đặc điểm cơ bản của văn miêu tả; chưa phân biệt
được sự khác biệt giữa văn miêu tả với các kiểu bài văn khác. Khả năng quan sát
và lựa chọn hình ảnh để quan sát và miêu tả chưa tinh tế.
- Vốn từ ngữ của các em chưa nhiều, các em chưa biết cách chọn lọc các từ
ngữ khi miêu tả. Nhiều em chưa hiểu hết nghĩa của những từ mà các em dùng để
tả. Một số em còn vụng về khi liên kết các câu văn thành đoạn văn, các đoạn văn
thành bài văn.
- Đặc biệt kĩ năng sống của các em còn hạn chế vì vậy các em chưa biết cách
xen lồng những suy nghĩ, cảm xúc của mình trong khi tả mà chỉ kể hoặc liệt kê ra
những gì mình thấy.
- Nhiều em chưa có thói quen sử dụng các biện pháp tu từ, biện pháp nghệ
thuật trong viết văn, khả năng giao cảm với đối tượng miêu tả còn hạn chế, cảm
xúc tình cảm không tự nhiên, còn gượng ép và khô cứng.
- Một số em dựa vào văn mẫu nên bài viết sáo rỗng. Các em chưa biết biến
bài văn tham khảo được thành bài văn của riêng mình, phù hợp với yêu cầu thực tế.
- Một số em có tâm lí không thích học văn, không thích làm văn. Thích học
các môn tự nhiên hơn. Có thể do gia đình hoặc xã hội tác động nên hầu hết các em
tập trung vào học Toán.
Cụ thể qua khảo sát đầu năm phân môn Tập làm văn lớp tôi chủ nhiệm như
16 em
11 em
2em
45,7%
31,5 %
5,7%
chẽ, giàu
51
35 em
cảm xúc.
6 em
17,1%
Chưa
hoàn thành
b) Về phía giáo viên :
- Một số giáo viên còn hạn chế trong việc truyền cảm hứng yêu thích môn
học và giúp học sinh vận dụng kiến thức Tiếng Việt để rèn cho các em thói quen
cảm nhận cái hay, cái đẹp của Tiếng Việt, giúp các em tìm ra những hình ảnh đẹp,
những câu văn đặc sắc… của các tác giả mà các em được học. Từ đó bồi dưỡng
B. GIẢI QUYẾT VẤN ĐỀ
Xuất phát từ những cơ sở đã nêu trên, tôi đã đưa ra những giải pháp giúp học
sinh học tốt phân môn Tập làm văn, nhất là đối với văn miêu tả. Cụ thể như sau:
1. Truyền cảm hứng yêu thích môn học và giáo dục kĩ năng sống cho
học sinh.
Tôi đã đọc được câu nói của Nhà thi hào William A Waard: “Người thầy
trung bình là người thầy chỉ biết nói, người thầy giỏi biết giải thích, người thầy
xuất chúng thích minh họa còn người thầy vĩ đại biết truyền cảm hứng”. Vì vậy
trong tình hình thực tế hiện nay, bản thân tôi nghĩ rằng làm một người thầy giỏi
chưa đủ mà có thể mong muốn cao hơn và vươn tới đích là người thầy vĩ đại. Do
đó trong quá trình giảng dạy, tôi luôn tìm cách truyền cảm hứng yêu thích môn học
đến từng học sinh. Vì khi đã có lòng đam mê, yêu thích môn học chắc chắn các em
sẽ say mê tìm tòi, chịu khó vươn lên và học tốt. Trước hết tôi đã giúp học sinh
nhận thấy môn học Tập làm văn là môn học sáng tạo vì nó là môn học ứng dụng tất
cả các kiến thức đã được học ở các phân môn như: Tập đọc, Luyện từ và câu, Kể
chuyện, Chính tả và tất cả các môn học khác trong nhà trường. Vì vậy học tốt Tập
làm văn giúp các em rất nhiều trong việc học các môn học khác. Các em sẽ biết sử
dụng ngôn ngữ nói, viết của mình để trao đổi, diễn đạt một cách chặt chẽ các vấn
đề mà mình cần tìm hiểu. Những bạn học tốt phân môn Tập làm văn cũng chính là
những bạn có năng lực học rất tốt, được giao nhiều việc của chi đội, của Liên đội
và các bạn đó đều hoàn thành nhiệm vụ một cách xuất sắc. Bên cạnh đó các em
cũng thấy rõ các bạn đó đều được nhiều người yêu mến vì ăn nói dịu dàng, lịch sự
và giao tiếp tốt. Tôi cũng chỉ rõ cho học sinh biết, thông thường những người làm
văn hay khi lớn lên sẽ có nhiều cơ hội trong việc lựa chọn nghề nghiệp, nếu ra đời
đi làm hay đi học thì những người giao tiếp tốt sẽ dễ dàng gặt hái được thành công
hơn là những người nói năng vụng về, giao tiếp kém. Qua đó các em thấy rõ sự cần
thiết cũng như vai trò to lớn của phân môn Tập làm văn đối với mỗi người trong
học tập cũng như trong cuộc sống. Từ đó học sinh lớp tôi không sợ, không ghét
phân môn Tập làm văn nữa mà các em dần dần yêu thích nhiều em đã say mê môn
học này.
thuyết phục cao về bài học, những cách ứng xử hợp với tâm lí lứa tuổi, những lời
nói thực sự đi đôi với việc làm của mỗi giáo viên sẽ góp phần đào tạo ra những con
người có tâm hồn nhạy cảm, trong sáng, lương thiện, có thể chất khoẻ mạnh, có tri
10
thức dồi dào, hiểu biết rộng rãi, phân biệt rạch ròi tốt xấu. Đây cũng chính là mục
tiêu mà Giáo dục hướng tới để đào tạo ra lớp người có đủ đức, tài gánh vác trọng
trách của đất nước trong thời đại hiện nay. Vì vậy, bản thân tôi đã không ngừng
học tập, tu dưỡng rèn luyện để có một tâm hồn nhạy cảm, vốn kiến thức uyên thâm
và có kĩ năng sống tốt để nắm bắt được tâm lí lứa tuổi của học sinh Tiểu học.
Trong quá trình giảng dạy, tôi luôn gần gũi, tận tình với các em. Đôi khi phải đóng
một lúc cả ba vai: là cô, là mẹ, là chị và đôi lúc là bạn của các em để giáo dục kĩ
năng sống một cách dễ dàng và hiệu quả nhất.
Từ những cách làm trên tôi đã giúp học sinh yêu thích môn học và có kĩ
năng sống tốt. Nhờ đó mà các em thấy được cái hay, cái đẹp của cảnh vật, của con
người. Tạo cho các em tâm lí phấn khởi tự tin, thể hiện được những gì mình đã
thấy, đã yêu, đã thích bằng ngôn ngữ chân thành của các em. Vì vậy mà khả năng
giao tiếp của học sinh lớp tôi được nâng lên rõ rệt, góp phần không nhỏ trong
phong trào: Xây dựng trường học thân thiện học sinh tích cực. Và các em cũng làm
tốt công tác tuyên truyền, hợp tác với mọi người xung quanh để bảo vệ thiên nhiên
tươi đẹp, bảo vệ tài nguyên quý báu của quốc gia. Đây cũng chính là mục tiêu,
nhiệm vụ chúng ta cần lồng ghép, tích hợp trong giảng dạy để bảo vệ môi trường,
bảo vệ biển, hải đảo quê hương…Hơn nữa qua những việc làm trên đã góp phần
tích cực trong việc đánh giá học sinh theo Thông tư 30/2014/TT-BGDĐT (Học
sinh tham gia nhận xét, đánh giá bạn bằng những từ, những câu, những lời nhận
xét thật chính xác, xuất sắc của các em).
2. Giúp học sinh hiểu rõ đặc điểm cơ bản của văn miêu tả.
Ở lớp 4 các em đã học: Thế nào là văn miêu tả? (TV4-tập 1- trang 140). Các
em đã biết miêu tả là vẽ lại bằng lời những đặc điểm nổi bật của cảnh, của người,
Trăng hồng như quả chín/ Lơ lửng mà không rơi…
Trăng tròn như mắt cá/ Chẳng bao giờ chớp mi;
Trăng tròn như quả bóng/ Bạn nào đá lên trời.
Như vậy, cũng là vầng trăng, là bầu trời mỗi người sẽ cảm nhận theo cách
riêng của mình, đó là những gì người khác không thấy hoặc chưa thấy. Với học
sinh, mỗi bài tập làm văn là sản phẩm của từng cá nhân các em trước một đề tài.
Sản phẩm này ít nhiều in dấu ấn riêng của từng em trong cách suy nghĩ, cách tả,
cách diễn đạt… thái độ đúng đắn của giáo viên là tôn trọng sự độc lập sự suy nghĩ
sáng tạo đó nếu nó không biểu lộ những lệch lạc.
12
Nhà văn Phạm Hổ đã nói: “Cái riêng, cái mới trong văn miêu tả phải gắn với
cái chân thật”. Văn miêu tả không hạn chế sự tưởng tượng, không ngăn cản sự
sáng tạo của người viết nhưng như vậy không có nghĩa là cho phép người viết
“bịa” một cách tùy ý. Vì vậy để giúp học sinh tả đúng, tả hay thì trước hết tôi
thường yêu cầu các em phải tả chân thật, tôi đã uốn nắn để học sinh tránh thái độ
giả tạo, giả dối, bệnh công thức sáo rỗng.
Ví dụ: Đối với đề bài tả người thân trong gia đình em. Hay tả thầy cô giáo.
Tôi đã giúp các em nhận ra rằng: mỗi người có một đặc điểm riêng biệt không thể
mẹ của ai cũng da trắng, tóc dài… Hay cô giáo nào cũng giống cô giáo nào… Từ
đó học sinh lớp tôi đã biết lựa chọn những đặc điểm tiêu biểu, đặc sắc của người
mình sẽ tả để đưa vào bài viết. Do đó lớp tôi có bao nhiêu học sinh thì có bấy
nhiêu bài viết khác nhau. Mỗi bài viết đều mang nét khác biệt, đặc sắc theo cảm
nhận riêng của từng em.
3. Giúp học sinh tích lũy vốn từ, làm giàu tưởng tượng và lựa chọn từ
ngữ trong làm văn miêu tả.
+)Tích lũy vốn từ:
Vốn từ miêu tả có ý nghĩa rất quan trọng đối với việc làm văn miêu tả. Vốn
từ được tích lũy từ nhiều nguồn: Giao tiếp hàng ngày; đọc sách, báo, xem, nghe
làm rất tốt nhiều em thích thú, say mê sưu tầm những từ ngữ hay, hình ảnh đẹp
trong các bài Tập đọc và trong Báo Đội các em đọc hàng ngày. Ở chuyên mục
Tiếng Việt phong phú, Tiếng Việt giàu đẹp (trong Báo Đội) nhiều học sinh lớp tôi
đã tích cực sưu tầm và học thuộc nhiều từ ngữ, câu văn đặc sắc và vận dụng trong
quá trình học tập. Tôi đã hướng dẫn các em ghi chép các từ ngữ dùng để miêu tả
theo các chủ đề cụ thể như:
Các từ thường dùng trong miêu tả đồ vật: tròn xoe; vuông vắn; nhỏ nhắn;
xinh xắn; đo đỏ...
Các từ thường dùng trong miêu tả con vật: oai vệ; rón rén; lặc lè; nhanh
thoăn thoắt; chậm chạp; ì ạch; tinh nhanh; ranh mãnh…
Các từ thường dùng trong miêu tả người: Tả em bé: mịn màng; mũm mĩm;
mập mạp; chập chững; bập bẹ; mếu máo; hau háu; ngộ nghĩnh; bướng bỉnh; nghịch
ngợm…,Tả cụ già: nhăn nheo; hom hem; dò dẫm; bỏm bẻm; móm mém; lẩm cẩm;
14
run rẩy…Các từ thường được dùng để miêu tả cây cối: xanh mướt; mơn mởn; rung
rinh; um tùm; khẳng khiu; rực rỡ; mỡ màng; vàng úa; xơ xác; lác đác…
Ngoài ra các tiết học Luyện từ và câu đã giúp các em hiểu rõ nghĩa của từ và
mở rộng vốn từ theo từng chủ điểm cụ thể. Khi các em tìm từ đồng nghĩa, từ trái
nghĩa, từ nhiều nghĩa, từ đồng âm.
- Ví dụ: Trong bài: Mở rộng vốn từ: Thiên nhiên(TV5-tập 1- Trang 87,88).
Chỉ với một đoạn văn ngắn miêu tả về bầu trời mùa thu nhưng các em đã
đưa ra những từ ngữ, hình ảnh thật độc đáo, sáng tạo:
+ Bầu trời xanh như mặt nước mệt mỏi trong ao.
+ Bầu trời được rửa mặt sau cơn mưa.
+ Bầu trời xanh biếc.
+ Bầu trời buồn bã.
+ Bầu trời trầm ngâm. Nó nhớ đến tiếng hót của của bầy chim sơn ca.
trình dạy tập làm văn tôi đã giúp học sinh của mình tưởng tượng bằng cách: Không
trực tiếp quan sát, tập trung tất cả các giác quan vào đối tượng. Nhắm mắt, hình
dung về đối tượng: hình ảnh, hoạt động của đối tượng, những ảnh hưởng, tác động
của đối tượng đến sự vật xung quanh. So sánh đối tượng miêu tả với các đối tượng
khác tương đồng. Phân tích, đánh giá cái hay, cái đẹp có ở đối tượng. Nhân hóa
hay tự nhiên hóa một vài hình ảnh đặc sắc ở đối tượng. Dự đoán trước khả năng và
những điều tốt đẹp mà đối tượng có thể vươn tới. Liên tưởng về những điều mình
đã biết, đã nghe, đọc, cảm nhận được về đối tượng từ trước tới nay. Và cuối cùng
là cần ghi chép lại những gì mà mình đã tưởng tượng được để lựa chọn, chắt lọc
đưa vào bài viết của mình.
Ví dụ : Khi tả cảnh sông nước, tôi hỏi các em: Chúng ta đã được học những
bài thơ, bài văn nào miêu tả về cảnh sông nước?
Nhiều em học sinh lớp tôi sẽ nhớ lại những bài viết về cùng đối tượng như:
Bài Cửa Tùng (TV3 - Tập 1), Vàm cỏ Đông (TV3 - Tập 1), Bè xuôi sông La (TV4
- Tập 2); Dòng sông mặc áo (TV4 - Tập 2)…Từ đó tôi lại dẫn dắt các em nhớ đến
những câu văn hay, với hình ảnh so sánh, nhân hóa đặc sắc và những cảm nhận rất
chính xác và tinh tế của tác giả.
Ví dụ:
"Dòng sông mới điệu làm sao
Nắng lên mặc áo lụa đào thiết tha
Trưa về trời rộng bao la
16
Áo xanh sông mặc như là mới may...
…Sáng ra thơm đến ngẩn ngơ
Dòng sông đã mặc bao giờ áo hoa...
(Bài Dòng sông mặc áo TV4-Tập 2)
Hay khi tả người thân của em. Các em có thể nhớ lại hình ảnh người bà trong
luôn coi trọng việc lựa chọn từ ngữ khi diễn đạt của các em. Tôi đã giúp các em
thấy được mỗi chi tiết miêu tả thường chỉ có một từ ngữ, một hình ảnh thích hợp
nhất. Do đó có tác dụng gợi hình, gợi cảm nhất. Một số học sinh lớp tôi ngay từ
đầu đã nắm được những từ ngữ hay, hình ảnh đẹp song nhiều em vẫn còn lúng
túng khi chọn từ ngữ, hình ảnh đặc sắc để miêu tả. Những lúc đó tôi hướng dẫn các
em so sánh các từ đó với từ đồng nghĩa với nó hoặc từ trái nghĩa với nó để tìm
được từ hay nhất, cần dùng trong đoạn văn, bài văn.
Bên cạnh các phân môn như Tập đọc, Luyện từ và câu, Chính tả, Kể chuyện
ở môn Tiếng Việt thì các môn học khác như : Địa lí, Lịch sử, Đạo đức đã góp phần
không nhỏ trong việc viết nên những đoạn văn, bài văn hay của các em. Trong quá
trình dạy các môn học này tôi cũng đã lồng ghép, đưa ra một số yêu cầu cụ thể đối
với từng bài giúp các em khắc sâu kiến thức của bài học. Đồng thời phát huy được
tính sáng tạo trong việc dùng từ diễn đạt của các em, ý đoạn của các em muốn thể
hiện. Qua đây cũng hình thành cho các em bước đầu biết cách tổng hợp, chắt lọc nội
dung kiến thức có liên quan giữa các môn học để làm tiền đề, nền tảng cho việc dạy
học tích hợp liên môn ở cấp học trên mà nền Giáo dục nước nhà đang hướng tới.
Ví dụ: Khi dạy bài: Em yêu Tổ quốc Việt Nam (Đạo đức lớp 5 - Bài 11). Tôi
đã yêu cầu các em: Nếu em là hướng dẫn viên du lịch Việt Nam, em sẽ giới thiệu
như thế nào với khách du lịch về một danh lam thắng cảnh hoặc di tích lịch sử của
nước ta mà em biết?... Một số em học tốt môn văn của lớp tôi có những bài thuyết
trình rất hay được các đồng nghiệp và chuyên môn nhà trường ghi nhận. Hay khi
dạy bài Việt Nam đất nước chúng ta (Địa lí lớp 5 trang 66). Hay bài Vùng biển
nước ta (SGK Địa lí 5 trang 77, 78 , 79) các em quan sát những hình ảnh minh hoạ
trong bài học kết hợp với các thông tin trong bài học và vốn hiểu biết của các em
(vốn hiểu biết có được qua tích luỹ các năm học trước, qua ti vi, sách báo). Khi
củng cố bài tổ chức cho các em thi nhau giũa các nhóm, các tổ chơi trò chơi "Tập
làm hướng dẫn viên du lịch " giới thiệu với bạn bè trong nước và quốc tế về vẻ đẹp
của đất nước, của vùng biển Việt Nam. Đặc biệt trong tình hình hiện nay nhiều học
18
19
Để chuẩn bị cho tiết học sắp tới các em cần phải quan sát trước. Quan sát để
phát hiện ra những chi tiết sinh động phong phú của sự vật ở từng lúc, từng nơi cụ
thể, bằng những nét riêng biệt. Vì bước quan sát rất quan trọng là cơ sở để giúp các
em tìm ý, tìm "cái để viết ra nội dung của bài văn".
Để bước quan sát có kết quả tốt các em cần xác định được đối tượng và mục
đích quan sát, quan sát là để tìm ý cho bài văn. Khi đã có đề tài các em chủ động
quan sát sự vật để tìm ý. Trong cuộc sống hàng ngày do tiếp xúc, quan hệ với sự
vật, các em đã tích luỹ được những hiểu biết chi tiết về sự vật đó.
Ví dụ : Khi tả cánh đồng hay nương rẫy tôi đã dặn các em quan sát cánh
đồng, nương rẫy mỗi khi có dịp. Có thể các em lên rẫy cà phê cùng bố mẹ, anh chị.
Các em hãy quan sát kĩ xem cảnh vật ở đó như thế nào? Rừng cà phê mùa này như
thế nào? xanh thẫm bạt ngàn, nở hoa trắng xoá, hương thơm nồng nàn hay rừng cà
phê chín rộ sai trĩu quả ...
Hay: Tả con đường từ nhà đến trường. Tôi dặn các em khi đi học (hoặc khi
về) vừa đi vừa quan sát kĩ con đường (hình dáng, mặt đường, lề đường, cảnh vật
hai bên đường,...)
Nhớ lại hình ảnh con đường làng mà các em đã được đọc, các em sẽ thấy có
những nét tả thật cụ thể, thật sinh động và hình ảnh con đường hiện ra thật đẹp:
" Đường mềm như dải lụa
Uốn mình dưới cây xanh "
Con đường đến trường của các em như thế nào? Có giống con đường được
miêu tả như trong bài không? Ven đường có hàng cây xanh, những dãy nhà cao
tầng, những quán hàng tạp hoá hay có vườn cà phê mùa này đang nở bông trắng
xoá, hương thơm nồng nàn.
Hay khi dạy tả người, tôi đã hướng dẫn các em xác định rõ đối tượng cần
miêu tả. Nếu tả người thân em sẽ tả ai? Tả mẹ, tả bố hay tả ông, bà,...? Mỗi người
đầu gối…Giọng nói bà tôi đặc biệt trầm bổng, nghe như tiếng chuông đồng…Khi
bà tôi mỉm cười hai con ngươi đen sẫm nở ra long lanh dịu hiền khó tả…”
Hay khi tả Chú bé vùng biển, tác giả Trần Vân đã tập trung tả những nét đặc
điểm tiêu biểu nhất của một cậu bé vùng biển, khác hẳn với cậu bé ở thành phố hay
một nơi khác đó là: “Nước da rám đỏ, khoẻ mạnh của những đứa trẻ lớn lên với
nắng, nước mặn và gió biển. Thân hình rắn chắc, nở nang, cổ mập, vai rộng…hai
cánh tay gân guốc như hai cái bơi chèo…Cặp đùi dế to chắc nình nịch…”. Đặc biệt
21
ở đây, tác giả đã so sánh hai cánh tay và cặp đùi của Thắng với những sự vật rất
gần gũi với người dân chài vùng biển làm cho đoạn văn thêm đặc sắc hơn, hấp dẫn
người đọc hơn. Tôi đã hướng dẫn học sinh hiểu rằng dù quan sát theo trình tự nào
chúng ta cũng cần tập trung vào bộ phận chủ yếu và trọng tâm của đối tượng sẽ tả.
Thông thường học sinh chỉ dùng thị giác (mắt) để quan sát. Các nhận xét
thu được và cảm xúc gắn liền với thị giác. Đây là mặt mạnh nhưng cũng là mặt yếu
của các em. Vì vậy tôi đã rèn cho các em có thói quen quan sát thường xuyên khi
tiếp xúc với mọi vật ở quanh ta mọi nơi, mọi lúc. Biết sử dụng kết hợp các giác
quan: Thị giác, thính giác, xúc giác, khứu giác,... để quan sát tỉ mỉ, quan sát kĩ thực
tế đối tượng miêu tả tìm ra nét đặc sắc nổi bật của cảnh vật giúp cho việc miêu tả
sinh động mới mẻ.
Ví dụ: Tả cảnh mùa hè thì ta dùng thị giác (mắt) để nhìn đất đai, cỏ cây...;
xúc giác (da) để cảm nhận cái nóng nực đến khó chịu. Tả cảnh biển ta phải dùng
mắt để nhìn thấy biển rộng mênh mông, sóng biển trắng xoá, những con tàu...; xúc
giác (da) để cảm thấy gió mát, mũi để cảm nhận hương của biển; vị giác (lưỡi)
thấy vị mặn của nước biển, thính giác (tai) nghe sóng biển rì rào... Còn tả người thì
ngoài cách quan sát thông thường ta cần cảm nhận bằng khối óc, con tim, bằng
những cảm xúc chân thành… Từ đó các em đã biết cách quan sát những gì mà các
em miêu tả. Ngoài ra tôi cũng luôn hướng dẫn các em cách quan sát trong giao
tiếp, trong học tập nhất là trong sách báo để tìm đọc các bài viết về cùng đối tượng.
thanh gì tiêu biểu?
+ Quan sát theo từng thời điểm khác nhau trong ngày, em thấy mây trời
nắng gió, chim chóc, màu sắc của cây cối sông nước... có sự biến đổi ra sao?
+ Cảm nghĩ của em về cảnh đẹp? Cảnh đẹp có những giá trị gì? Nó gắn bó
với bản thân em và mọi người như thế nào?
Hay khi dạy bài Tả cô giáo. Tôi gợi ý các em:
+ Cô giáo (thầy giáo) em sẽ tả có đặc điểm gì nổi bật về ngoại hình, tính tình?
Cô giáo (thầy giáo) đã để lại những kỉ niệm, ấn tượng gì sâu sắc đối với em?...
Sau khi học sinh đã quan sát đối tượng miêu tả, bước tiếp theo giáo viên đặt
câu hỏi gợi ý để học sinh hồi tưởng lại những gì đã quan sát được.
Đối với học sinh Tiểu học mỗi em có thể có những suy nghĩ sáng tạo riêng
nên cách sắp xếp ý của mỗi học sinh có đặc điểm riêng. Vì vậy chúng ta nên tôn
trọng đặc điểm, suy nghĩ độc đáo, sáng tạo riêng đó. Nếu dàn ý của các em vẫn bảo
23
đảm, thể hiện bố cục 3 phần, với nội dung từng phần đầy đủ, phù hợp yêu cầu của
đề bài.
6. Tổ chức tốt các hoạt động ngoài giờ lên lớp.
Ngoài các tiết học chính khóa, để giúp học sinh củng cố thêm kiến thức các
môn học chúng tôi đã xây dựng kế hoạch và tổ chức tốt hoạt động ngoài giờ lên
lớp. Đối với môn Tiếng Việt nói chung phân môn tập làm văn nói riêng, tôi cùng
các đồng chí giáo viên trong tổ 5 đã xây dựng kế hoạch hoạt động ngoài giờ lên
lớp theo từng chủ điểm ngay từ đầu năm học, cụ thể như sau:
Tháng 10, tổ chúng tôi xây dựng ngoại khóa bằng hình thức viết văn, làm
thơ ca ngợi công lao to lớn của bà, của mẹ và cô giáo. Đa số học sinh trong khối
tích cực tham gia và có những bài viết rất tốt. Các em đã thể hiện được tình cảm
của mình đối với những người mà các em yêu quý. Qua đó cũng bày tỏ được
những mong muốn, ước mơ, định hướng của bản thân để đền đáp lại công ơn to
lớn mà bà, mẹ và cô đã dành cho các em.
định theo tinh thần Thông tư 30/2014/TT-BGDĐT. Theo tôi đây là một việc làm
hết sức quan trọng chúng ta cũng cần đầu tư nhiều thời gian và tâm trí mới thực
hiện tốt việc đánh giá và đưa ra những biện pháp giúp các em sữa chữa những hạn
chế của mình trong bài viết.
Để các em có bài viết tốt, tôi luôn hướng dẫn bài về nhà và kiểm tra bài cũ
một cách thường xuyên. Đánh giá, nhận xét bằng lời khi học sinh đọc bài, khi các
em trả lời câu hỏi. Những lúc đó tôi luôn chăm chú lắng nghe để đưa ra lời nhận xét
chính xác đồng thời nêu ra những hạn chế cũng như các biện pháp giúp các em điều
chỉnh tồn tại kịp thời. Khi đánh giá, nhận xét vào vở của các em tôi luôn thực hiện
một cách cẩn thận, chu đáo để phát hiện được tính độc lập, tự tin, kỹ năng diễn đạt
của học sinh. Tôi cũng không ngại ngần khi ghi vào vở các em những lời nhận xét
cụ thể, tỉ mỉ và đưa ra những giải pháp giúp các em sửa lỗi hoặc những định hướng
giúp các em làm bài tốt hơn. Tôi nghĩ đánh giá nhận xét chi tiết, rõ ràng sẽ hình
thành cho chúng ta tính vô tư, công bằng khách quan với tất cả học sinh. Điều này sẽ
tạo sự tự tin phấn khởi của các em, động viên các em phấn đấu vươn lên học tập tốt
hơn. Do đó khi đánh giá bài tập làm văn cho các em tôi đã đọc đi đọc lại nhiều lần
để đánh giá đúng công sức học tập của các em và có lời phê rõ ràng, giúp học sinh
thấy được ưu khuyết điểm của bài làm để phát huy và sửa chữa.
25