Một số kinh nghiệm dạy tập làm văn lớp 2, 3 phát huy tính tích cực của học sinh - Pdf 26

Sáng kiến kinh nghiệm: “Một số kinh nghệm dạy Tập làm văn lớp 2, 3 phát huy tính tích cực của HS”.
Đề tài:
“Một số kinh nghiệm dạy Tập làm văn
lớp 2, 3
phát huy tính tích cực của học sinh”
I/ LÝ DO CHỌN ĐỀ TÀI:
- Tập làm văn là một phân mơn quan trọng của mơn Tiếng Việt, nó giúp học
sinh có năng lực sử dụng Tiếng Việt để học tập, giao tiếp. Trau dồi những ứng xử có
văn hố, tinh thần trách nhiệm trong cơng việc, bồi dưỡng những tình cảm lành mạnh,
tốt đẹp qua nội dung bài dạy.
- Để làm được một bài Tập làm văn, học sinh cần phải huy động các kiến thức
về tập đọc, luyện từ và câu, các hiểu biết về mơi trường xung quanh cuộc sống … Nói
chung mơn tập làm văn đòi hỏi học sinh phải vận dụng những kiến thức tổng hợp từ
các phân mơn khác của mơn Tiếng Việt. Bởi vậy, Tập làm văn mang tính thực hành
tồn diện, tổng hợp.
- Ngồi ra mơn Tập làm văn còn mang tính sáng tạo vì một bài tập làm văn thể
hiện sự suy nghĩ, tư duy của cá nhân, là tác phẩm khơng trùng lặp của mỗi học sinh.
- Các em học sinh lớp 2, 3 vốn sống còn ít, vốn hiểu biết về Tiếng Việt còn rất
sơ sài, chưa định rõ trong giao tiếp.Cụ thể như: các em viết câu rời rạc, chưa liên kết,
thiếu logic hoặc các câu đã có đủ ý nhưng chưa có hình ảnh, các từ ngữ được dùng về
nghĩa chưa rõ ràng ; việc trình bày diễn đạt ý của các em có mức độ rất sơ lược, đặc
biệt là khả năng miêu tả. Mặt khác tính sáng tạo thực hành trong văn bản chưa cao,
thể hiện ở bố cục bài văn,cách chấm câu, sử dụng hình ảnh gợi tả chưa linh hoạt, sinh
động.
Qua thực tế giảng dạy chúng tơi nhận thấy phân mơn Tập làm văn là phân mơn
khó trong các phân mơn của mơn Tiếng Việt. Do đặc trưng phân mơn Tập làm văn
với mục tiêu cụ thể là: hình thành và rèn luyện cho học sinh khả năng trình bày văn
bản (nói và viết) ở nhiều thể loại khác nhau.Trong q trình tham gia vào các hoạt
động học tập này, học sinh với vốn kiến thức còn hạn chế nên thường ngại nói. Nếu
Trang 1
Sáng kiến kinh nghiệm: “Một số kinh nghệm dạy Tập làm văn lớp 2, 3 phát huy tính tích cực của HS”.

Trang 2
Sáng kiến kinh nghiệm: “Một số kinh nghệm dạy Tập làm văn lớp 2, 3 phát huy tính tích cực của HS”.
Vốn từ vựng của các em cũng chưa nhiều nên gây khó khăn trong việc thực
hành.
Một số em còn phụ thuộc vào bài văn mẫu, áp dụng một cách máy móc, chưa
biết vận dụng bài mẫu để hình thành lối văn của riêng mình. Nhiều học sinh còn dùng
luôn lời cô hướng dẫn để viết bài của mình.
Học sinh chưa có ý thức đọc sách, báo hoặc tìm tòi, sưu tầm những tài liệu
phục vụ cho kiến thức có liên quan đến môn học dẫn đến tình trạng nghèo vốn từ,
nghèo vốn sống để có thể đưa vào bài viết.
Thiếu sự quan tâm, hỗ trợ động viên của phụ huynh. Cha mẹ có thể giúp các
em học tốt các môn khác. Riêng môn Tập làm văn một số phụ huynh khó có thể dạy
cho con mình học tốt được vì kỹ năng vốn sống của một số phụ huynh còn hạn chế.
Về đồ dùng dạy học: Phương tiện chủ yếu là tranh trong SGK, một số bài dạy
thiếu tranh ảnh nên giáo viên dùng lời nói mô tả học sinh tiếp thu trừu tượng. Ngoài
ra hạn chế sử dụng thường xuyên các phương tiện hiện đại như đèn chiếu, băng hình
làm cho chất lượng giờ học tập làm văn chưa cao.
Giáo viên chưa linh động, sáng tạo khi tổ chúc giờ dạy trên lớp, hình như tổ
chức dạy học đơn điệu: “Giáo viên hỏi- học sinh trả lời”, chỉ những em khá giỏi mới
có thể tham gia trả lời còn những học sinh trung bình hoặc yếu thì cảm thấy lo sợ nếu
bị gọi đến tên. Mặt khác giáo viên chưa phát huy hết vai trò gợi mở óc tò mò, khả
năng sáng tạo, độc lập ở học sinh. Từ đó làm cho các em cảm thấy nhàm chán, mất
hứng thú học tập.
Với những thuận lợi và khó khăn trên, chúng tôi đã đặt ra cho bản thân mình là
phải làm thế nào để học sinh ham thích học phân môn Tập làm văn.
Để có cơ sở so sánh kết quả học tập của học sinh qua từng thời điểm, chúng tôi
đã tiến hành khảo sát chất lượng môn Tập làm văn lớp 2, 3 vào tuần 3- tháng 9 (Năm
học 2008-2009).
Học sinh thể nghiệm : Lớp 2A và lớp 3A (Tổng số học sinh: 70 em.)
Kết quả cụ thể như sau:

chưa đọc kỹ đề, sự suy xét của các em còn non nớt. Bởi vậy, giáo viên cần tập cho các
em đọc kỹ đề bài. Đặt mình vào tình huống của đề bài, cùng sắm vai theo tình huống
đó. Có vậy, các em mới không bị lầm lẫn.
Với dạng bài nói và đáp lời khẳng định, phủ định có lẽ tương đối dễ đối với các
em, các em chỉ cần nói có hoặc không. Tuy nhiên, giáo viên cần giải thích cho các em
thuật ngữ khẳng định, phủ định. Vì nếu không giải thích, các em chỉ làm theo mẫu
trong sách giáo khoa thì không thể phát huy tính tích cực chủ động của học sinh. Còn
nếu ta giải thích thì khi vừa gặp dạng bài này các em sẽ tự giác hiểu và làm bài tốt.
Bởi vậy giáo viên cần cho các em thực hành sắm vai và cần lưu ý tình cảm thể hiện
qua thái độ.
Ví dụ: Khi đáp lời khẳng định thì thể hiện sự vui mừng, đáp lời phủ định thể
hiện sự tiếc nuối. Có thế thì người nghe mới hiểu được tình cảm của mình.
Dưới dây là một số trò chơi sắm vai mà chúng tôi đã áp dụng trong giờ tự học
hoặc giờ ra chơi, giờ sinh hoạt lớp hay trong phần củng cố của mỗi giờ học Tập làm
văn. Qua các trò chơi này học sinh được tăng cường rèn luyện các kiến thức đã học
và giúp các em tham gia tích cực hơn trong giờ Tập làm văn. Từ đó các em sẽ vận
dụng vào trong giao tiếp đời sống hằng ngày.
Một số trò chơi cụ thể như sau:
a. Trò chơi phỏng vấn:
Trò chơi này có thể áp dụng vào bài tập 1, tuần 1: Tự giới thiệu. Câu và bài.
* Mục đích:
Trang 5
Sáng kiến kinh nghiệm: “Một số kinh nghệm dạy Tập làm văn lớp 2, 3 phát huy tính tích cực của HS”.
- Luyện tập cách tự giới thiệu về mình và về người khác với thầy cô; bạn bè
hoặc người xung quanh.
- Phân công: 1 HS đóng vai phóng viên truyền hình, còn 1 HS đóng vai người
trả lời hoặc 1 HS đóng vai chị phụ trách, 1 HS đóng vai đội viên Sao Nhi đồng… sau
đó đổi vai.
- HS có thể chơi trò chơi này theo nhóm hoặc cả lớp.
- Để tất cả các em nắm được cách chơi, trước khi giao việc cho từng em, GV

Ví dụ: 2 HS đại diện cho nhóm 1 tham gia chơi. Một em đóng vai bạn gái đang
xách một chiếc túi to, bước đi chậm chạp và nặng nhọc. Một HS đóng vai bạn trai đến
bên bạn gái và nói: “Bạn để mình xách đỡ cho nào! ” rồi đỡ lấy chiếc túi từ tay bạn
gái. Bạn gái nói: “Cảm ơn bạn, bạn tốt quá! ’’ Bạn trai cười tươi và nói: “Có gì đâu,
việc nhỏ thôi mà! ”
- Sau khi đại diện cả 4 nhóm đã chơi xong về một tình huống, GV yêu cầu 2 HS
giúp việc đọc to lời của hai vai trong từng nhóm để cả lớp cùng nghe lại và bình chọn
lời nói đúng.
- HS tiếp tục chơi ở các tình huống khác theo gợi ý nói trên.
Chú ý: 2 HS giúp việc GV ghi lại câu nói của hai bạn tham gia chơi ở từng tình
huống, mỗi HS giúp việc cho GV chỉ chuyên ghi lại lời nói của một vai (vai “cảm ơn”
hoặc vai “đáp lại lời cảm ơn ” ).
c. Nhận lại đồ dùng:
* Mục đích:
- Cung cấp một số cách nói lịch sự trong giao tiếp; phục vụ các bài dạy về nghi
thức lời nói (phủ định, nhờ cậy, yêu cầu, đề nghị ).
- Rèn thói quen dùng lời nói lịch sự khi cần đề nghị trong giao tiếp và sinh hoạt
hằng ngày.
* Chuẩn bị:
- Khoảng 20 đồ dùng thông thường của HS: mũ, sách, vở, bút… Mỗi đồ dùng
có gắn tên chủ ở phía trong (phía khuất ) của đồ vật.
Trang 7
Sáng kiến kinh nghiệm: “Một số kinh nghệm dạy Tập làm văn lớp 2, 3 phát huy tính tích cực của HS”.
- Một bàn đặt các đồ vật. Cạnh bàn có 1 HS ngồi làm nhiệm vụ trả đồ dùng cho
chủ nhân của nó khi tan học.
- 3 HS giúp việc cho GV.
- Khoảng 20 lá cờ nhỏ để trao cho người đạt yêu cầu của trò chơi.
* Cách tiến hành:
- Nêu cách chơi: Một nhóm khoảng 10 HS làm động tác đứng dậy ra về khi tan
học (đứng theo thứ tự để chờ lấy đồ dùng cá nhân ).

+ Một bạn trai đang đứng nhận giải thưởng cuộc thi: “Thi kể chuyện hay”, hai
bạn lên tặng hoa cho bạn trai.
- 5 chiếc mũ làm bằng giấy bìa quây tròn có dòng chữ: “Giải nhất viết chữ
đẹp”.
- 5 chiếc mũ làm bằng giấy bìa quây tròn trên có điểm 10 và chữ: “Kể chuyện
hay nhất ”.
- 2 HS giúp GV làm việc.
* Cách tiến hành:
- Nêu cách chơi (tương tự như ở trò chơi : “Chọn lời nói đúng”).
Ví dụ: Hai HS đại diện cho nhóm 2 tham gia chơi. Một HS đóng vai bạn gái
đoạt giải Nhất trong kì thi viết chữ đẹp của trường. Một HS đóng vai bạn gái lên chúc
mừng bạn đạt giải và nói: “Chúc mừng bạn! Chúng tớ vui lắm! ”rồi xiết chặt tay bạn.
Bạn được giải đáp: “Cảm ơn các bạn!”.
*Thực hành chơi:
- 3 nhóm HS chơi đóng vai lần lượt từng tình huống theo cách đã hướng dẫn.
Khi 2 HS trong nhóm chơi xong ở tình huống đầu thì nhóm lại cử 2 HS khác chơi ở
tình huống thứ hai.
- Hai HS giúp việc GV ghi lại câu nói của hai bạn tham gia chơi ở từng tình
huống, mỗi HS giúp việc GV chỉ chuyên ghi lại lời nói của một vai (vai “ chúc mừng
” hoặc vai “đáp lời chúc mừng ”. )
Trang 9
Sáng kiến kinh nghiệm: “Một số kinh nghệm dạy Tập làm văn lớp 2, 3 phát huy tính tích cực của HS”.
- Sau mỗi tình huống, GV cho HS nhận xét và bình chọn người nói đúng hay
sai. Cuối cùng bình chọn nhóm chiến thắng.
e. Đóng vai khen ngợi nhau:
* Mục đích:
- Luyện tập cách nói lịch sự khi khen ngợi người khác và đáp lại lời người khác
khen mình.
- Rèn thói quen lịch sự trong giao tiếp và sinh hoạt hằng ngày; tập khen ngợi
bằng những lời khác nhau.

* Mục đích:
- Luyện tập cách nói lịch sự khi an ủi người khác và đáp lại lời người khác an
ủi mình.
- Rèn thói quen lịch sự trong giao tiếp và sinh hoạt hằng ngày; tập nói lời an ủi
bằng nhiều cách khác nhau.
* Chuẩn bị:
- 3 hình vẽ (3 băng giấy ghi ) 3 tình huống khác nhau có xuất hiện lời an ủi và
đáp lại lời an ủi:
+ Một bạn gái mặc bộ váy đẹp và bị giây mực ra váy. Một bạn khác đang an ủi
bạn có váy đẹp bị giây bẩn.
+ Bạn trai lỡ tay làm rách một trang sách của quyển truyện. Bạn khác đến bên
cạnh nói lời an ủi, động viên.
+ Một bạn bị điểm 3 môn toán đang buồn. Các bạn khác đến an ủi động viên.
- 5 HS mặc quần áo có vết bẩn được tạo ra bằng phấn màu.
- 5 bài kiểm tra toán có diểm 3.
- Chia nhóm: 6 HS / 1nhóm: 2 HS đóng vai thực hiện 1 tình huống.
- 2 HS giúp việc cho GV.
* Cách tiến hành:
- Nêu cách chơi: (tương tự ở trò chơi: “Chọn lời nói đúng ” ).
Trang 11
Sáng kiến kinh nghiệm: “Một số kinh nghệm dạy Tập làm văn lớp 2, 3 phát huy tính tích cực của HS”.
Ví dụ: Hai HS đại diện cho nhóm 4 tham gia chơi. Một em đóng vai bạn bị
điểm kém. Một em đóng vai bạn đến động viên và nói lời an ủi: “Cậu đừng buồn nữa.
Từ bây giờ cậu cố gắng chăm chỉ học bài, làm bài thì đến bài kiểm tra lần sau cậu sẽ
đạt điểm cao thôi mà. Cậu yên tâm, bọn mình sẽ giúp đỡ cậu. ”
* Thực hành chơi:
- Các nhóm HS chơi đóng vai lần lượt từng tình huống theo cách đã hướng dẫn.
- Khi 2 HS trong nhóm chơi xong ở tình huống đầu thì nhóm lại cử 2 HS khác
chơi ở tình huống tiếp theo. Tiếp tục cử người chơi như vậy ở 3 tình huống.
- Hai HS giúp việc ghi lại câu nói của hai bạn tham gia chơi ở từng tình huống,

- Giáo viên yêu cầu và hướng dẫn học sinh có thói quen quan sát những sự vật
hiện tượng xung quanh để ghi nhận lại và sử dụng khi thật cần thiết. Ngoài ra giáo
viên cần sưu tầm những hình ảnh để các em quan sát hoặc có thể trình chiếu, cho các
em quan sát vật thật, tham quan dã ngoại …
- Để các em có thể làm được một bài văn tốt, các em phải có vốn từ ngữ phong
phú. Mà vốn từ đó, có em tích lũy khá nhiều nhưng chưa biết vận dụng. Có em thì có
rất ít hoặc chưa hề có. Bởi vậy, giáo viên chính là người cung cấp.Mà cung cấp ở
đâu? Tôi nghĩ trong các bài tập đọc có khá nhiều. Mỗi chủ đề của môn Tiếng Việt thì
môn tập đọc đều có những bài văn, bài thơ nói về chủ để đó.
- Ví dụ: Khi dạy tả về một loài chim thì GV cho HS đọc kĩ bài văn Chim chích
bông (SGK, tập hai, trang 30 ) và bài văn tả con chim gáy (tiết Tập làm văn tuần 22 )
để giúp HS tả về con chim được sinh động hơn.
- Trong các tiết dạy, giáo viên nên tập cho học sinh trả lời thành câu đủ ý và
chú ý đến những bài tập đọc có liên quan đến tiết tập làm văn. Từ đó học sinh có thể
rút ra những câu văn hay, hình ảnh đẹp và ghi nhớ sau này vận dụng. Ví dụ : qua bài
Tôm Càng và Cá Con học sinh rút ra được đoạn văn tả về chú Cá Con trong bài “Con
vật thân dẹt, trên đầu có đôi mắt tròn xoe, toàn thân phủ một lớp vẩy bạc óng
ánh”.
Trang 13
Sáng kiến kinh nghiệm: “Một số kinh nghệm dạy Tập làm văn lớp 2, 3 phát huy tính tích cực của HS”.
Để dạy tốt bài tập làm văn dạng viết một đoạn vă ngắn kể về người thân, con
vật, loài vật, cây cối…giáo viên cần tạo cho các em thói quen làm văn phải có bố cục
3 phần : mở bài (giới thiệu), thân bài (nội dung), kết luận (tình cảm); nói, viết phải
thành câu rõ ý, đúng ngữ pháp. Khi viết xong các em đọc lại toàn bộ, gắn bó các câu
với nhau để ý sau, ý trước nối tiếp thành đoạn văn, bài văn xuôi nghĩa.
Ngoài ra còn hướng dẫn học sinh lập sơ đồ trước khi làm tập làm văn. Tôi xin
gợi ý một cách lập sơ đồ thông qua bài viết một đoạn văn ngắn tả con vật mà em yêu
thích . Ví dụ : Tả một chú gà
Giáo viên cho học sinh nói về hình dáng, hoạt động của con gà và tình cảm của
mình đối với gà. Giáo viên ghi nhanh các ý học sinh trả lời lên bảng thành sơ sồ.

thì chắc chắn câu văn sẽ hay hơn nhiều như “ nó vỗ cánh và rướn cổ gáy vang “
- Để hỗ trợ cho học sinh, giáo viên cần cung cấp cho học sinh : nhiều từ ngữ
gợi tả, từ láy, từ tượng thanh, tượng hình … Ví dụ : Mặt biển xanh và rộng thành mặt
biển xanh ngắt và rộng mênh mông. Nối các câu văn lại thành những từ ngữ liên
kết như : và, thì, nếu, vậy là ….
Lưu ý học sinh trong đoạn văn tránh lặp lại từ nhiều lần mà phải thay những từ
ngữ lặp lại bằng từ có ý nghĩa tương tự.
. Khi dạy các bài Tập làm văn tả ngắn về bốn mùa, kể về con vật (thú, chim… ),
cây cối chúng tôi đó sưu tầm những tranh ảnh hoặc băng hình về các chủ đề này cho
HS xem nhằm giúp HS nắm được rõ hơn về các hình ảnh của các sự vật. Từ đó giúp
các em hào hứng học tập và kể sinh động, chính xác. Khi học sinh kể thì chú ý hướng
dẫn các em dùng những từ ngữ có hình ảnh, màu sắc để kể nhằm làm cho bài văn
thêm sinh động.
Ngoài ra khi dạy các kiểu bài này, chúng tôi có thể tổ chức thành trò chơi ô. Ví
dụ: Vận dụng cho bài tả về một loài chim mà em yêu thích.
* Mục tiêu: Giúp HS phát triển vốn từ ngữ miêu tả loài vật, đặc biệt là các từ tả
hình dáng và hoạt động.
Giúp cho tiết Tập làm văn trở nên lý thú hơn đối với học sinh.
* Vật liệu:
+ Bảng trò chơi ô hình rắn
Trang 15
Sáng kiến kinh nghiệm: “Một số kinh nghệm dạy Tập làm văn lớp 2, 3 phát huy tính tích cực của HS”.
+ Các vòng nhựa có màu khác nhau đủ cho số học sinh trong một nhóm.
+ Xúc xắc
+ Bộ ảnh nhiều loài chim khác nhau.
Trang 16
Về đích

- Bước 1: Các nhóm nhận đồ dùng
- Bước 2: Các nhóm thảo luận chọn một loại cây mà mình thích. Từng thành
viên trong tổ sẽ nêu lên hình dáng của cây ấy có gì nổi bật ( thân, cành, lá, hoa,
quả…); ích lợi của cây đối với con người. Thư ký sẽ ghi tên loại cây của nhóm mình
vào đầu tàu, còn từng toa tàu sẽ ghi ý các bạn nêu về tả hình dáng, ích lợi của cây và
cảm nghĩ của mình đối với cây như thế nào.Sau đó các nhóm sẽ sắp xếp các ý vừa ghi
thành 1 đoạn văn tương đối hoàn chỉnh. Lúc ấy sẽ tạo thành một đoàn tàu lửa.
- Bước 3: Đại diện các nhóm trình bày bài của nhóm mình, giáo viên hướng
dẫn học sinh nhận xét về cách dùng từ, cách diễn dạt, cách dùng dấu câu và bố cục
của đoạn văn có đủ ba phần không.
Trang 18
Sáng kiến kinh nghiệm: “Một số kinh nghệm dạy Tập làm văn lớp 2, 3 phát huy tính tích cực của HS”.
Nhóm nào ghép được đoàn tàu nhanh và sắp xếp ý thành đoạn văn hay thì
nhóm đó thắng cuộc.
B. Một số biện pháp dạy Tập làm văn lớp 3 theo hướng tích cực.
1/ Luôn chú trọng “Tích hợp-lồng ghép” khi dạy phân môn Tập làm văn lớp 3.
Khi dạy tập làm văn giáo viên cần hiểu rõ tính tích hợp kiến thức giữa các phân
môn trong môn Tiếng Việt như: Tập đọc, Kể chuyện, Chính tả, Luyện từ và câu, Tập
viết để giảng dạy và tạo đà cho học sinh học tập tốt phân môn Tập làm văn. Mối quan
hệ này thể hiện rất rõ trong cấu trúc của sách giáo khoa: các bài học được biên soạn
theo chủ đề, chủ điểm, hai đơn vị học xoay quanh một chủ điểm ở tất cả các phân
môn.
Ví dụ: Chủ đề Cộng đồng dạy trong 2 tuần gồm các bài Tập đọc, Luyện từ và
câu…Trong quá trình rèn đọc, khai thác nội dung các bài đọc cung cấp cho học sinh
vốn từ về chủ đề Cộng đồng, những câu văn có hình ảnh về chủ đề Cộng đồng. Cụ thể
khi dạy bài tập đọc: Kể chuyện: Các em nhỏ và cụ già-Tuần 8, giáo viên khai thác nội
dung bài theo hệ thống câu hỏi sau:
+ Điều gì gặp bên đường khiến các bạn nhỏ phải dừng lại?
+Các bạn quan tâm đến ông cụ như thế nào?
+Vì sao các bạn quan tâm đến ông cụ?

đồng hương
Cộng tác, đồng tâm
Từ việc hiểu nghĩa của từ ở bài tập 1, học sinh hiểu ý nghĩa các thành ngữ ở bài
tập 2 và bày tỏ thái độ tán thành hay không tán thành thái độ ứng xử trong cộng đồng
thể hiện trong các thành ngữ đó:
Chung lưng đấu cật.
Cháy nhà hàng xóm bình chân như vại.
Ăn ở như bát nước đầy.
Trang 20
Sáng kiến kinh nghiệm: “Một số kinh nghệm dạy Tập làm văn lớp 2, 3 phát huy tính tích cực của HS”.
Như vậy học sinh biết vận dụng những câu thành ngữ về thái độ ứng xử trong
cộng đồng khi nói-viết tập làm văn giao tiếp, ứng xử trong cuộc sống.
Ở phân môn Chính tả Tuần 8, các em cũng được luyện viết các bài trong chủ đề
Cộng đồng. Ví dụ: Viết đoạn 4 trong bài các em nhỏ và cụ già.
Khi viết đoạn văn trên, học sinh được rèn viết chính tả, cách sử dụng các dấu
câu; thấy được sự cảm thông, chia sẻ giữa con người với nhau làm dịu bớt nỗi lo lắng,
buồn phiền, tăng thêm cho mỗi người niềm hy vọng, nghị lực trong cuộc sống. Học
sinh vận dụng cái hay , cái đẹp của ngôn từ trong đoạn văn để thể hiện tình cảm, thái
độ đánh giá trong từng bài văn cụ thể của chính các em.
Tương tự, ở phân môn Tập viết-Tuần 8, các em được làm quen với các thành
ngữ, tục ngữ về chủ đề Cộng đồng như luyện viết câu ứng dụng:
“ Khôn ngoan đá đáp người ngoài
Gà cùng một mẹ chớ hoài đá nhau.”
Xuất phát từ các phân môn: Tập đọc, Luyện từ và câu, Chính tả, Tập viết xoay
quanh chủ đề Cộng đồng, học sinh biết “ Kể về người hàng xóm mà em quý mến”
( TLV 3-Tuần 8) và viết được đoạn văn hoàn chỉnh, thể hiện tình cảm, thái độ đánh
giá đối với người hàng xóm qua việc sử dụng từ ngữ, câu văn có hình ảnh.
Cô Loan là người hàng xóm bên cạnh nhà em. Cô là giáo viên tiểu học, tối tối
miệt mài bên trang giáo án và chấm bài cho học sinh. Với dáng nhỏ nhắn nhung rất
nhanh nhẹn, giọng cô ấm áp. Em thích nghe nhất là khi cô hát. Cô thật xứng danh là

của các em người đọc hiểu được tâm tư tình cảm của các em về một vấn đề nào đó.
Ngoài ra, mỗi giáo viên cần cần chú trọng vận dung phương pháp dạy học theo
quan điểm giao tiếp, khơi dậy ở các em những cảm xúc, đánh thức tiềm năng cảm thụ
văn học và có nhu cầu thể hiện, bày tỏ sự cảm thụ đó với người khác. Như vậy, mỗi
bài nói, bài viết sẽ chính là tâm hồn tình cảm của các em, các em sẽ thêm yêu văn-yêu
cái hay, cái đep, yêu tiếng Việt-giữ gìn sự trong sáng của tiếng Việt.
3/ Tổ chức tốt việc quan sát tranh, hướng dẫn học sinh cách dùng từ, giọng
kể, điệu bộ khi làm bài nghe, nói, viết.
Với đặc điểm vốn từ còn hạn chế, nên học sinh lớp 3 gặp nhiều khó khăn trong
việc nghe-nói-viết-kể lại câu chuyện bằng lời văn của mình. Do vậy, giáo viên cần tổ
chức tốt hoạt động quan sát tranh: quan sát từng đường nét, màu sắc, hình ảnh, nội
dung thể hiện của tranh. Học sinh cảm nhận được được những nét đẹp của cảnh vật,
con người và muốn bày tỏ trao đổi với bạn, với thầy cô.
Để các em làm tốt hoạt động này, trước hết giáo viên chú ý cho học sinh sử
dụng gợi ý trong sách giáo khoa, lắng nghe cô kể, bạn kể để nhớ được các ý chính của
nội dung câu chuyện.
Giáo viên chú trọng về lời văn kể và nghệ thuật sử dụng ngôn từ. Giáo viên cần
hướng dẫn các em cách chọn lựa, sử dụng từ ngữ, hình ảnh để điễn đạt sao cho dễ
hiểu, sinh động.
Ví dụ: Dạy bài: viết đoạn văn qua quan sát tranh (ảnh) về một cảnh đẹp ở nước ta.
-Tuần 12.
Thông qua việc quan sát tranh (ảnh) về một cảnh đẹp ở nước ta, giúp học sinh
nắm nội dung của tranh (ảnh), thấy vẻ đẹp của tranh (ảnh), từ đó các em lựa chọn từ
ngữ thích hợp để nói và viết thành đoạn văn, giúp cho người nghe-đọc tuy không
quan sát tranh (ảnh) nhưng vẫn thấy được vẻ đẹp của danh lam thắng cảnh mà học
sinh nói đến.
Bài tập 2 tuần 12: Học sinh quan sát ảnh chụp cảnh biển Phan Thiết.
Trang 23
Sáng kiến kinh nghiệm: “Một số kinh nghệm dạy Tập làm văn lớp 2, 3 phát huy tính tích cực của HS”.
HS quan sát tổng thể bức ảnh, sau đó quan sát từng hình ảnh cụ thể, màu sắc

sinh nói, viết những cảm xúc, nhận xét, đánh giá, sự miêu tả của chính các em.
Trong chương trình thay sách giáo khoa lớp 3, mỗi tiết Tập làm văn là một hệ
thống bài tập có tính định hướng, gợi mở, với nhiều dạng bài: nghe-nói, nói-viết,
nghe-nói-viết Vì vậy, giáo viên vẫn bám sát mục đích, yêu cầu của tiết dạy, bài dạy
nhưng linh hoạt, chủ động hơn trong cách tổ chức các hoạt động dạy-học, phân bố
thời gian hợp lý, vừa tránh được những nhược điểm nêu trên vừa tạo được không khí
học tập phát huy được tính tích cực, sáng tạo của học sinh.
Ví dụ: Tiết tập làm văn (tuần11) với hệ thống bài tập như sau:
Bài 1: Nghe kể lại câu chuyện “Tôi có đọc đâu”.
Yêu cầu:Học sinh nghe và kể lại câu chuyện.
Trang 25

Trích đoạn MỘT SỐ BÀI HỌC KINH NGHIỆM:
Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status