PHÂN TÍCH TÁC PHẨM VĂN HỌC TRONG NHÀ TRƯỜNG
TỪ GÓC ĐỘ NGÔN NGỮ
PHÂN TÍCH TÁC PHẨM VĂN HỌC
TRONG NHÀ TRƯỜNG TỪ GÓC ĐỘ NGÔN NGỮ
Tác giả: TS. NGUYỄN TRỌNG KHÁNH
LỜI NÓI ĐẦU
Cảm thụ, phân tích tác phẩm văn học trong nhà trường là công việc
thường xuyên, đồng thời cũng là một yêu cầu bắt buộc đối với tất cả các thầy,
cô giáo dạy văn, tất cả các em học sinh. Làm thế nào để có thể cảm thụ, phát
hiện được những vẻ đẹp đích thực về tư tưởng, nghệ thuật của các tác phẩm
văn chương là một vấn đề lâu nay các nhà nghiên cứu, các thầy, cô giáo dạy
văn vẫn hằng trăn trở.
Cuốn sách này giới thiệu những bài viết theo hướng cảm thụ, phân tích
các tác phẩm văn học trong nhà trường từ góc độ ngôn ngữ. Hầu hết các bài
viết tập hợp trong sách đều là những bài nghiên cứu được rút ra từ thực tiễn
giảng dạy, ôn luyện thi môn Ngữ văn cho đối tượng học sinh các lớp cuối cấp
học phổ thông của chính tác giả và một số bài đã được đăng rải rác trên các
báo, tạp chí Ngôn ngữ, Ngôn ngữ và đời sống, Văn học và tuổi trẻ v.v… Đây
là một công việc khó, bởi các tác phẩm văn học trong chương trình trung học
phổ thông đều là những tác phẩm đã quen thuộc với nhiều người, được
nghiên cứu khá kĩ, không ít tác phẩm từng là đối tượng của những cuộc tranh
luận học thuật sôi nổi trong đời sống văn học. Do vậy, cảm thụ, phân tích tác
phẩm từ góc độ ngôn ngữ đương nhiên không phải là một con đường tiếp
nhận văn học hoàn toàn mới mẻ; nó cũng không đối lập hay phủ nhận sự kế
thừa kết quả nghiên cứu của các tác giả đi trước. Tuy nhiên, xuất phát từ góc
độ ngôn ngữ, không ít ý nghĩa chân chính của các từ ngữ, hình ảnh, chi tiết
trong tác phẩm văn học đã được phát hiện, không ít những cách lí giải có tính
chất áp đặt chủ quan hoặc xa rời tác phẩm tồn tại bấy lâu trong nhiều tài liệu
1. TỪ CÁCH TIẾP CẬN NGÔN NGỮ TÁC PHẨM VĂN HỌC…
Việc giảng dạy, học tập môn Ngữ văn trong nhà trường, nhất là ở các
cấp học phổ thông, có một vấn đề tồn tại đã lâu nhưng chưa được giải quyết
triệt để và hiện vẫn còn đang làm nhiều thầy, cô giáo, nhiều nhà khoa học tâm
huyết phải băn khoăn, trăn trở. Đó là tình trạng ngày càng có nhiều em học
sinh tỏ ra chán ghét môn Văn học. Nhiều nguyên nhân đã được đề cập và
làm sáng tỏ, nhiều biện pháp đã được áp dụng, trong đó đáng kể nhất là công
tác cải tiến, đổi mới nội dung chương trình sách giáo khoa, đổi mới phương
pháp dạy văn, học văn theo xu hướng ngày càng tiến gần hơn và tiếp cận với
những thuộc tính đặc trưng của bộ môn v.v… Tuy nhiên, chúng ta vẫn phải
thừa nhận một thực tế là cho đến nay, môn Văn học trong nhà trường vẫn
chưa thật sự tạo ra được sức hấp dẫn, lôi cuốn cần thiết, do vậy cũng vẫn
chưa có được chỗ đứng vững chắc trong tâm hồn, tình cảm của các em học
sinh như vị trí xứng đáng vốn có của nó.
Về mặt bản chất, khoa học tìm hiểu, khám phá, cảm thụ văn chương
cũng giống với mọi khoa học nhận thức có tính sáng tạo khác về quy luật và
đặc trưng của tâm lí nhận thức. Hứng thú và niềm say mê khoa học ở phía
chủ thể nhận thức chỉ có thể được hình thành, xây đựng một cách bền vững
trên cơ sở những phát hiện mới lạ trong quá trình tìm hiểu, khám phá đối
tượng nghiên cứu. Một học sinh học kém môn Toán chắc chắn sẽ chán và sợ
học Toán, trong khi Toán học là một mềm say mê lớn với đại đa số các em
học sinh khác. Trong Văn học cũng vậy, đối tượng tìm hiểu, khám phá là tác
phẩm văn chương, do đó, mặc dù có nhiều nguyên nhân dẫn đến việc các em
học sinh không hứng thú với những giờ dạy văn trong nhà trường, thì nguyên
nhân cơ bản nhất vẫn là do các em không hiểu được tác phẩm. Từ chỗ không
hiểu tác phẩm, không cảm thụ được những gì nhà văn thể hiện trong tác
phẩm nên các em không thể có những phát hiện mới lạ, không thể xuất hiện
những rung động thẩm mĩ trong tâm hồn, tình cảm – cội nguồn của niềm say
mê sáng tạo trong quá trình nhận thức, cảm thụ văn học nơi các em.
Việc cảm thụ, phân tích văn học không xuất phát từ khâu tìm hiểu, khai
thác nội dung tư tưởng tác phẩm trực tiếp từ những yếu tố ngôn ngữ của văn
bản tác phẩm còn dẫn đến một thực trạng viết lan man, “tán” một cách sao
rỗng, áp đặt những cách hiểu suy diễn, chủ quan, vô căn cứ, không gắn với
tác phẩm, nhan nhản trong các bài làm văn của học sinh. Đề thi tuyển sinh đại
học – cao đẳng, khối D, năm 2002, yêu cầu bình giảng bốn câu thơ sau trong
bài Đây mùa thu tới của Xuân Diệu:
Hơn một loài hoa đã rụng cành
Trong vườn sắc đỏ rũa màu xanh
Những luồng run rẩy rung rinh lá
Đôi nhánh khô gầy xương mỏng manh
Rất nhiều thí sinh đã đành phải bó tay trước dạng đề này vì không hiểu
đoạn thơ. Ở những bài làm khá hơn, một số em có thể viết khá dài dòng về
sự lãng mạn của Xuân Diệu, về nỗi buồn mông lung vô cớ trong thơ ông,
thậm chí cả về những cách tân mới mẻ, sự “Tây hoá” cảm xúc và ngôn từ của
một nhà thơ hiện đại vào bậc nhất trong làng thơ Việt Nam hồi ấy, một nhà
thơ “mới nhất trong các nhà Thơ mới”, nhưng vẫn không thể nào chỉ rõ ra
được cụ thể bốn câu thơ đang miêu tả cái gì và qua sự miêu tả ấy đã thể hiện
vẻ đẹp trong cảm xúc của một tâm hồn thơ trước thiên nhiên tạo vật như thế
nào, trong khi, đây mới thật sự là cái đích nhận thức thẩm mĩ mà sự cảm thụ,
phân tích đoạn thơ cần phải đạt được.
Đề tuyển sinh khối D, năm 2003 (Câu 2) yêu cầu: “Phân tích những bức
tranh mùa thu trong đoạn thơ sau để làm rõ sự biến đổi tâm trạng của nhà
thơ:
Sáng chớm lạnh trong lòng Hà Nội
Những phố dài xao xác hơi may
Người ra đi đầu không ngoảnh lại
Sau lưng thềm nắng lá rơi đầy
trước các hiện tượng đời sống. Xét từ góc độ giao tiếp thì thông qua tác phẩm
của mình, nhà văn, nhà thơ thực hiện một sự giao tiếp xã hội và tác phẩm là
một dạng ngôn bản. sản phẩm của quá trình giao lưu đồng cảm và đồng sáng
tạo giữa tác giả với các thế hệ độc giả. Dẫu rằng cách diễn đạt, trình bày của
ngôn ngữ văn chương có những thuộc tính đặc trưng riêng biệt thế nào thì nó
vẫn không thể vượt ra ngoài phạm vi những khuôn phép, quy luật biểu đạt
của ngôn ngữ giao tiếp nói chung: Tuy nhiên, trong hoạt động giao tiếp đó,
quy trình sáng tạo và tiếp nhận tác phẩm văn học là hai con đường ngược
chiều nhau. Đó là quá trình “mã hoá” và quá trình “giải mã” lượng thông tin
tâm hồn. Nhà văn, nhà thơ xuất phát từ những cảm xúc, những trăn trở, suy
tư (tư tưởng – cảm xúc của tác giả) mà sáng tạo ra những hình tượng nghệ
thuật rồi dùng ngôn ngữ để diễn đạt, thể hiện hình tượng nghệ thuật và tư
tưởng ấy. Tác phẩm văn học đến với độc giả và đến lượt mình, người tiếp
nhận tác phẩm lại đi từ việc tiếp xúc với văn bản tác phẩm, thông qua các yếu
tố ngôn ngữ và thế giới hình tượng trong tác phẩm để phát hiện ra tư tưởng
nghệ thuật – những cảm xúc, những suy tư trăn trở của nhà văn, nhà thơ gửi
gắm trong đó (xem sơ đồ dưới đây). Nói theo cách nói của một nhà phê bình:
nhà thơ “gói” tâm tình của mình lại, còn nhà phê bình (độc giả) thì lại tìm cách
“mở” tâm tình ấy ra. Cả hai việc “gói” và “mở” ấy đều phải được thực hiện
bằng phương tiện ngôn ngữ – yếu tố trung tâm của tác phẩm văn học. Vì vậy,
tiếp nhận tác phẩm văn học từ các yếu tố ngôn ngữ có thể coi như chiếc chìa
khoá duy nhất để mở cánh cửa đi vào khám phá thế giới nghệ thuật của tác
phẩm, tìm hiểu tâm hồn, tư tưởng, tình cảm của nhà văn, nhà thơ gửi gắm và
biểu hiện trong đó.
Quy trình sáng tạo văn học
TÁC GIẢ TƯ TƯỞNG CẢM XÚC
HÌNH TƯỢNG NGHỆ THUẬT NGÔN NGỮ
những từ ngữ chứa đựng nhiều thủ pháp nghệ thuật (ẩn dụ, hoán dụ, chơi
chữ, khoa trương v.v…), thể hiện dụng công của tác giả. Điều ấy quả không
sai, nhưng như thế sẽ bỏ sót rất nhiều từ ngữ mà thiếu nó, tư tưởng nghệ
thuật của tác phẩm không thể nào nổi bật lên được. Bởi vì, cùng với các hình
tượng nghệ thuật, nhiều khi cảm xúc và tư tưởng của nhà văn, nhà thơ còn
được diễn đạt trực tiếp bằng các từ ngữ bình thường. Lại cũng có trường
hợp, do sự mẫn cảm ngôn ngữ đặc biệt và năng lực ngôn ngữ tiềm tàng, nhà
văn, nhà thơ - những nghệ sĩ ngôn từ – đã “vô tình” đem đến cho các từ ngữ
bình thường những phẩm chất nghệ thuật mới, những khả năng biểu đạt đặc
biệt, tạo nên những chữ “xuất thần” mà có khi, chính người sử dụng nó cũng
không ngờ tới. Nhưng vì có vẻ “bình thường” nên người đọc rất dễ bỏ qua khi
nghiên cứu tác phẩm. Người cảm thụ, phân tích văn học, với tư cách là người
đồng sáng tạo với chủ thể cảm xúc, vừa phải biết phát hiện những từ ngữ
chứa đựng các biện pháp tu từ, đồng thời cũng vừa phải biết phát hiện cho
thật trúng và không để lọt những từ ngữ bình thường nhưng lại có giá trị biểu
đạt “xuất thần” ấy. Trở lại bốn câu thơ trên trong bài Đây mùa thu tới thì, riêng
ở nhan đề bài thơ, người đọc cần phải đặc biệt chú ý đến chữ tới – một chữ
quả là rất bình thường, nhưng nếu bị bỏ qua thì tư tưởng cơ bản của tác
phẩm cũng không thể nói rõ được. Bởi vì, bài thơ không chỉ nói về mùa thu
chung chung, mà chủ yếu nhằm thể hiện những xúc cảm tinh tế của chủ thể
trữ tình trước cái khoảnh khắc chuyển mùa của thiên nhiên tạo vật lúc thu
sang: Đây (là một) mùa thu (đang) tới. Bám sát vào một số từ ngữ trong khổ
thơ đó như: vườn, hoa đã rụng cành, sắc đỏ rũa màu xanh, nhánh (cây) khô
gầy… chúng ta sẽ nhận ra ngay đây là bốn câu thơ tập trung miêu tả khung
cảnh một vườn thu. Để ý kĩ chút nữa, chúng ta sẽ phát hiện ra sự quan sát rất
tinh tế của một tâm hồn thơ, thể hiện qua cách diễn đạt độc đáo, mới lạ của
rất nhiều từ ngữ bình thường ở đoạn thơ này. Nét đặc trưng của mùa thu là
cảnh lá rụng hoa tàn. Nhưng vì thu mới ở vào độ thu tới, thu sang, lúc thời tiết
gần gũi, thân thuộc, là sự sống, máu thịt và tinh thần của mỗi con người nên
mỗi người đều phải có trách nhiệm với đất nước, bởi vì trách nhiệm với đất
nước cũng là trách nhiệm với chính sự sống của bản thân mình. Khi phân tích
đoạn thơ tiếp theo ở Phần II:
Những người vợ nhớ chồng còn góp cho Đất Nước những núi Vọng
Phu
Cặp vợ chồng yêu nhau góp nên hòn Trống mái
Gót ngựa của Thánh Gióng đi qua còn trăm ao đầm để lại
Chín mươi chín con voi góp mình dựng thành đất Tổ Hùng Vương
Những con rồng nằm im góp dòng sông xanh thẳm
Người học trò nghèo góp cho Đất Nước mình núi Bút non Nghiên
Con cóc, con gà quê hương cùng góp cho Hạ Long thành thắng cảnh
Những người dân nào đã góp tên Ông Đốc, Ông Trang, Bà Đen, Bà
Điểm…
thì người phân tích cần phải biết phát hiện và bám vào khai thác động
từ “góp” lặp đi lặp lại ở mỗi dòng thơ: góp, góp cho, góp nên, góp mình… Đây
là một từ tuy được sử dụng hết sức thông thường, không chứa đựng bất kì
một thủ pháp nghệ thuật nào nhưng lại có khả năng biểu đạt rất tập trung cô
đọng, thể hiện sự cảm nhận sâu sắc của tác giả về vai trò, sứ mệnh, những hi
sinh đóng góp to lớn của nhân dân đối với đất nước.
Phát hiện đúng các từ ngữ, hình ảnh cần thiết trong tác phẩm gắn liền
với yêu cầu phát hiện và hiểu đúng ý nghĩa cửa các từ ngữ, hình ảnh ấy.
Không phát hiện được ý nghĩa hoặc hiểu không đúng ý nghĩa của các đơn vị
ngôn ngữ đều dẫn đến những cách hiểu sai lầm trong cảm thụ, phân tích tác
phẩm văn học. Không hiểu đúng ý nghĩa của các đơn vị ngôn ngữ còn khiến
cho tác phẩm trở nên khó hiểu, làm giảm sút niềm hứng thú của đối tượng
tiếp nhận trong khi theo dõi tác phẩm. Kinh nghiệm thực tế cho thấy, giờ dạy
văn sẽ sôi động hẳn lên khi tác phẩm trở nên dễ hiểu dưới sự dẫn dắt, gợi
tác giả hồi tưởng về một đêm liên hoan văn nghệ của đơn vị Tây Tiến tại một
bản làng nơi đóng quân. Nhưng trong nỗi nhớ về đơn vị cũ, nhà thơ đã gọi kỉ
niệm đó bằng cái tên “hội đuốc hoa” – với ý nghĩa chỉ hội cưới và cái đêm
“động phòng hoa chúc” của một đời người. Đó quả là một liên tưởng hết sức
lãng mạn mà có lẽ chỉ những người lính Tây Tiến tài hoa như Quang Dũng
mới có được những xúc cảm như vậy.
Trong nhiều trường hợp, chủ đề tư tưởng của tác phẩm thường được
biểu hiện qua những ý nghĩa biểu trưng của một vài từ ngữ, hình ảnh nào đó
trong tác phẩm. Chẳng hạn, Đôi mắt là một tên truyện bộc lộ trọn vẹn chủ đề
tác phẩm. “Đôi mắt” là biểu tượng cho cách nhìn và lập trường tư tưởng, thái
độ của người cầm bút đối với con người và cuộc kháng chiến cứu nước của
dân tộc. Trong bài thơ Tiếng hát con tàu của Chế Lan Viên, “Tây Bắc” là tên
một vùng đất xa xôi của Tổ quốc nhưng cũng là biểu tượng cho cuộc sống
cần lao rộng lớn, còn nhiều gian khó của nhân dân. “Con tàu” là hình ảnh của
một tâm hồn thơ đang trong hành trình từ bỏ cái tôi cô đơn, đóng khép để trở
về hoà nhập, gắn bó với cuộc đời của nhân dân, đất nước. Hình ảnh ấy chỉ
xuất hiện ở phần đầu và phần cuối của bài thơ. Ở phần đầu bài thơ, con tàu
là một nỗi lòng khao khát, hăm hở, một lời mời gọi lên đường; còn ở phần
cuối bài thơ (nghĩa là khi con tàu đã đến được nơi cần đến), thì đó là một
khúc hát mê say, lôi cuốn và lãng mạn. Do đó, Tiếng hát con tàu cũng là cách
nói hình ảnh thể hiện chủ đề tư tưởng của bài thơ: tiếng hát thiết tha, sôi nổi
và sâu lắng của những tâm hồn thơ trong hành trình tìm về với cuộc sống lớn
của nhân dân đất nước, tìm về với cội nguồn của những cảm hứng thơ ca
chân chính, đích thực. Trong bài thơ Sóng của Xuân Quỳnh, ý nghĩa biểu
trưng của hình ảnh con sóng cũng đồng thời chính là chủ đề tư tưởng của bài
thơ, thể hiện khát vọng hạnh phúc và những biểu hiện tâm hồn đẹp đẽ của
người phụ nữ Việt Nam mới trong tình yêu. Trong Mảnh trăng cuối rừng của
Nguyễn Minh Châu, hình ảnh “mảnh trăng” là một hình ảnh có ý nghĩa biểu
Trong thực tế giảng dạy, phân tích thơ, phép thử ấy nhiều khi tỏ ra rất hữu
hiệu, nhất là đối với các em học sinh. Nó gợi mở trí tưởng tượng, lấp đầy các
“khoảng trống” ngữ nghĩa giữa các câu thơ để người đọc có thể hiểu và cảm
thụ chúng. Chẳng hạn, có những câu thơ mới đọc tưởng chừng rất khó hiểu,
song chỉ cần diễn đạt lại câu thơ dưới dạng văn xuôi, lập tức có thể phát hiện
ngay được ý nghĩa lấp lánh của nó. Trong bài Thơ duyên của Xuân Diệu, học
sinh thường bị “vấp” ngay từ những câu thơ đầu tiên:
Chiều mộng hoà thơ trên nhánh duyên
Cây me ríu rít cặp chim chuyền
Song nếu làm một phép thử ngôn ngữ học là đảo trật tự hai câu thơ và
diễn đạt chúng bằng văn xuôi: “Trên cành cây me có đôi chim chuyền cành ríu
rít, khiến cho cành cây me trở thành nhánh duyên, còn không gian của buổi
chiều thu bỗng biến thành một không gian thơ mộng (của những lứa đôi)”, thì
câu thơ đầu tiên sẽ trở nên hoàn toàn dễ hiểu và hình ảnh về bức tranh buổi
chiều thu đậm đà màu sắc duyên tình tươi vui như thể đã hiển hiện khá sinh
động ngay trước mắt người đọc.
Hay như khi phân tích những câu thơ “hai giọng” (trong bài Tống biệt
hành của Thâm Tâm) thể hiện cái khẩu khí cứng cỏi, khí phách ngang tàng
của người li khách giã nhà theo “chí nhớn”:
Đưa người, ta chỉ đưa người ấy,
Một giã gia đình, một dửng dưng…
– Li khách! Li khách! Con đường nhỏ,
Chí nhớn chưa về bàn tay không,
Thì không bao giờ nói trở lại!
Ba năm, mẹ già cũng đừng mong.
Giáo sư Trần Đình Sử viết: “Từ ngữ trong câu dồn nén, có nhiều tỉnh
lược, giữa các dòng thơ có nhiều khoảng trống, tạo thành một vẻ ám ảnh bí
ẩn, không dễ gì thuyết minh cho thông (…). Có nhiều chỗ tối nghĩa, phải thêm
CÁI ĐƯỢC SO SÁNH
CÁI DÙNG ĐỂ SO SÁNH
Cuộc đời này
như là
– tuần tháng mật của bướm ong
– hoa của đồng nội xanh rì
– lá của cành tơ phơ phất
– khúc tình si của yến anh
– ánh chớp của hàng mi
– tháng giêng của mùa xuân…
Dễ dàng nhận ra đây là đoạn thơ thể hiện sự cảm nhận của nhà thơ về
cuộc đời và sự sống trần thế. Dưới cặp mắt xanh non háo hức và đầy vui
sướng của Xuân Diệu, sự sống trần thế luôn là một thế giới hết sức tươi đẹp,
đẫm nhạc, đẫm hương thơm, đầy màu sắc và tình ái, đầy ánh sáng và âm
nhạc… Tất cả như đang bày ra trước mặt, ngay trong tầm tay của mỗi người
và dâng đón, chào mời…
Ở khổ thơ cuối bài Đất nước của Nguyễn Đình Thi, lấy chất liệu từ một
thực tế ở chiến trường Điện Biên Phủ trong trận đánh chiếm đồi A1, giữa cái
nắng hè gay gắt, dưới ánh chớp lửa đạn rực trời, trưa ngày 7/5/1954, các
chiến sĩ ta từ các chiến hào, mình đầy bùn đất, sau “Năm mươi sáu ngày đêm
khoét núi ngủ hầm, mưa dầm, cơm vắt/ Máu trộn bùn non, gan không núng,
chí không mòn…” (Tố hữu, Hoan hô chiến sĩ Điện Biên) đã ào ạt xông lên
nữa còn là một phần hết sức quan trọng, bởi từ đó người đọc nắm được
những gì cốt lõi và cảm thụ được tinh thần cơ bản của bài thơ. Thực ra, việc
tìm hiểu mạch lạc và cấu trúc bài thơ cũng đã được tiến hành thông qua việc
phân tích bố cục, cách chia đoạn bài thơ, một công việc khá quen thuộc trong
phân tích, giảng dạy các tác phẩm thơ (và tác phẩm văn học nói chung) trong
nhà trường phổ thông. Bởi vì, bố cục và mạch lạc trong cấu trúc tác phẩm có
quan hệ với nhau một cách chặt chẽ. Tuy nhiên, bố cục chỉ là cái biểu hiện
bên ngoài của cảm xúc, tư tưởng; nó thuộc về hình thức của cấu trúc tác
phẩm. Còn mạch lạc mới chính là trình tự bên trong của dòng mạch cảm xúc;
đó là cái dòng chảy tư tưởng, tình cảm chạy suốt bài thơ; nó thuộc về cái lô
gích bên trong cấu trúc của tác phẩm thơ. Nhìn chung, có hai cách cấu trúc
bài thơ: cấu trúc theo kiểu khai triển đề tài và cấu trúc theo mạch phát triển
tâm trạng cảm xúc của chủ thể trữ tình. Cấu trúc của các bài thơ Đây mùa thu
tới, Đất nước, Bên kia sông Đuống… có thể coi như thuộc kiểu thứ nhất. Còn
cấu trúc của các bài thơ Tống biệt hành, Đây thôn Vĩ Dạ, Sóng, Tiếng hát con
tàu… là thuộc kiểu thứ hai. Có thể cụ thể hoá cấu trúc bài thơ Đây mùa thu
tới của Xuân Diệu thông qua mối quan hệ giữa bố cục và mạch lạc như sau:
BỐ CỤC
MẠCH LẠC
Đoạn 1: Tín hiệu báo
Sự hồ hởi, vui sướng của nhà thơ khi nhận ra
thu và tâm trạng con
dấu hiệu của mùa thu qua dáng vẻ thướt tha,
ngươi lúc thu sang.
mạng tháng Tám.
Đoạn 3: Hình ảnh đất nước đau thương đã đứng dậy và ngời sáng
trong suốt cuộc kháng chiến trường kì. Bố cục đó được xây dựng dựa trên cơ
sở của dòng mạch tư tưởng - cảm xúc chung về đất nước xuyên suốt trong
toàn bộ bài thơ: Khơi nguồn cho niềm xúc cảm và những suy tư về đất nước
là không gian trong trẻo và mùi hương cốm mới rất đặc trưng của một buổi
sáng mùa thu ở chiến khu Việt Bắc trong kháng chiến gợi nhớ về những mùa
thu đất nước trong quá khứ:
Sáng mát trong như sáng năm xưa
Gió thổi mùa thu hương cốm mới
Tôi nhớ những ngày thu đã xa
“Những ngày thu đã xa” ấy là những ngày đất nước còn chìm đắm
trong vòng nô lệ trước Cách mạng tháng Tám, mà hình ảnh biểu trưng là
khung cảnh mùa thu Hà Nội. Hà Nội vào thu: đất nước qua cái nhìn lãng mạn
của Nguyễn Đình Thi vẫn rất đẹp, gợi cảm và đầy khí phách nhưng không
tránh khỏi buồn vắng, hiu hắt:
Sáng chớm lạnh trong lòng Hà Nội
Những phố dài xao xác hơi may
Người ra đi đầu không ngoảnh lại
Sau lưng thềm nắng lá rơi đầy.
Từ niềm hoài niệm đó, nhà thơ trở về với niềm vui phơi phới và niềm tự
hào sâu lắng trước khung cảnh một đất nước có truyền thống bất khuất, đã
có độc lập tự do sau Cách mạng:
… Trời thu thay áo mới
Trong biếc nói cười thiết tha
Trời xanh đây là của chúng ta
Núi rừng đây là của chúng ta
Những cánh đồng thơm mát
được hi sinh, dâng hiến, được sống hết mình cho tình yêu đó (Làm sao được
tan ra/ Thành trăm con sóng nhỏ/ Giữa biển lớn tình yêu/ Để ngàn năm còn
vỗ).
Cấu trúc bài thơ Tống biệt hành của Thâm Tâm theo sát mạch vận
động, phát triển tâm trạng của chủ thể trữ tình – người đưa tiễn: bắt đầu là
những băn khoăn trước thái độ và tình cảm của li khách trong giờ phút chia
tay: Sao có tiếng sóng (…)/ Sao đầy hoàng hôn trong mắt trong/ Đưa người ta
chỉ đưa người ấy…, tiếp đến là những hồi tưởng về cảnh ngộ của người ra đi:
Ta biết người buồn (...) và cuối cùng là lòng ngưỡng vọng, cảm phục đối với
tinh thần trượng nghĩa cùng những tình cảm đầy nhân tính của li khách trong
thời đại ý thức về cái tôi đã được thức tỉnh: Người đi? Ừ nhỉ, người đi thực!
v.v…
Như vậy, nếu chỉ dừng lại ở bố cục thì sự cảm thụ và phân tích vẫn còn
đang ở giai đoạn chia cắt bài thơ thành những bộ phận biểu thị nội dung,
chưa thấy được cấu trúc chỉnh thể tác phẩm, đặc biệt là chưa theo dõi được
mạch vận động, phát triển tư tưởng – cảm xúc của chủ thể trữ tình trong bài
thơ. Phân tích được cấu trúc tác phẩm, theo dõi được mạch lạc tư tưởng,
cảm xúc và thi tứ của bài thơ cũng tức là người đọc đã có thể rung cảm, đồng
điệu được với những xúc động, những trăn trở, suy tư của nhà thơ từ trong
chiều sâu chỉnh thể tác phẩm..
2. THỜI GIAN VỚI Ý NGHĨA HAI CHỮ “VỘI VÀNG” CỦA XUÂN
DIỆU
Trong tập Gửi hương cho gió (1945) Xuân Diệu đã viết những câu thơ
thật giàu hình ảnh về thời gian:
Thời gian rót từng giọt buồn tê héo
Sự sống đi như hương bỏ hoa chiều…
Thời gian vốn là một tồn tại khách quan của tự nhiên. Đó là một đại
lượng vật chất không ngừng biến đổi, diễn ra một chiều, một đi không trở lại,
Nhưng nét độc đáo nhất trong sự cảm nhận về thời gian của Xuân Diệu
là ông luôn có những xúc cảm thật mạnh mẽ về sự đối lập giữa thời gian của
vũ trụ vô biên với thời gian hữu hạn của cuộc đời mỗi con người. Hơn hai hết,
vị “Tao đàn nguyên suý” của phong trào Thơ mới này ý thức được một cách
thật sâu xa về giới hạn ngắn ngủi của đời người trước thời gian một đi không
trở lại. Trước sự chảy trôi của thời gian, Xuân Diệu có những cảm nhận thật
xót xa, thấm thía:
Lòng tôi rộng, nhưng lượng trời cứ chật,
Không cho dài thời trẻ của nhân gian;
Nói làm chi rằng xuân vẫn tuần hoàn,
Nêu tuổi trẻ chẳng hai lần thắm lại.
Còn trời đất, nhưng chẳng còn tôi mãi…
(Vội vàng)
Ý thức về thời gian như thế nên trong thơ Xuân Diệu, thời gian thường
gắn liền với những dự cảm về sự tàn phai, mất mát và xa cách:
Thong thả, chiều vàng thong thả lại…
Rồi đi… Đêm xám tới dần dần…
Cứ thế mà bay cho đến hết
Những ngày, những tháng, những mùa xuân.
(Giờ tàn)
Nỗi sợ thời gian chảy trôi ấy khiến cho thi sĩ có thể cảm nhận được một
cách tinh tế những sắc màu tàn phai, những hương vị chia li sầu tủi ẩn náu
trong bước đi của thời gian: Mùi tháng năm đều rớm vị chia phôi/ Khắp sông
núi bỗng than thầm tiễn biệt (Vội vàng). Xuân Diệu có những dự cảm thật mới
lạ, độc đáo: Trong gặp gỡ đã có mầm li biệt (Giục giã), nên ông tỏ ra rất thấu
hiểu những “lí lẽ ngang ngạnh” của thời gian:
Xuân đương tới, nghĩa là xuân đương qua;
Xuân còn non, nghĩa là xuân sẽ già;
Của ong bướm này đây tuần tháng mật,
Này đây hoa của đồng nội xanh rì,
Này đây lá của cành tơ phơ phất;
Của yến anh này đây khúc tình si,
“Này”, “đây” là những đại từ chỉ định không gian gần, ở ngay trước mặt,
trong tầm tay, được dùng kết hợp theo lối song trùng tạo thành một cụm từ
đồng chức năng “này đây”, khiến cho cấp độ ý nghĩa của các thành tố được
nhấn mạnh thêm. Những chữ “này đây” ấy lại được dùng theo phương thức
đảo ngữ và lặp đi lặp lại trong mỗi dòng thơ, tạo thành một điệp khúc, có tác
dụng diễn tả rất đạt những xôn xao, náo nức của tâm hồn nhà thơ. Bởi vì,
đằng sau mỗi chữ “này đây” ấy đều là những hình ảnh đầy sinh khí của tình
yêu và sự sống: này đây là tuần tháng mật, này đây là hoa của đồng nội xanh
rì, này đây là lá của cành tơ phơ phất và này đây là khúc tình si… Người đọc
như thấy được cả cái háo hức của chính tâm hồn nhà thơ, một nhà thơ ham
sự sống nên luôn nhìn nó trong trạng thái sinh sôi, nảy nở và giàu sức sống
nhất. Và với Xuân Diệu, cái đẹp nhất của thế giới này vẫn là những vẻ đẹp
của con người:
Và này đây ánh sáng chớp hàng mi.
Mỗi sáng sớm thần Vui hằng gõ cửa;