Nghiên cứu đặc điểm nông sinh học của một số giống bí ngô có nguồn gốc tại khu vực miền núi phía bắc - Pdf 41

TRƢỜNG ĐẠI HỌC SƢ PHẠM HÀ NỘI 2
KHOA SINH - KTNN

TRẦN THỊ VƢỢNG

NGHIÊN CỨU ĐẶC ĐIỂM NÔNG SINH HỌC CỦA MỘT SỐ
GIỐNG BÍ NGÔ CÓ NGUỒN GỐC TẠI KHU VỰC MIỀN
NÚI PHÍA BẮC

KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP ĐẠI HỌC
Chuyên ngành: Trồng trọt

HÀ NỘI, 2016


TRƢỜNG ĐẠI HỌC SƢ PHẠM HÀ NỘI 2
KHOA SINH - KTNN

NGHIÊN CỨU ĐẶC ĐIỂM NÔNG SINH HỌC
CỦA MỘT SỐ GIỐNG BÍ NGÔ CÓ NGUỒN GỐC
TẠI KHU VỰC MIỀN NÚI PHÍA BẮC

KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP ĐẠI HỌC
Chuyên ngành: Trồng trọt

Ngƣời hƣớng dẫn khoa học: ThS. Nguyễn Thị Tâm Phúc
Ngƣời thực hiện:Trần Thị Vƣợng
Mã SV: 125D1402130166

HÀ NỘI, 2016


Trần Thị Vƣợng


MỤC LỤC
Trang
MỞ ĐẦU ........................................................................................................1
1. Lí do chọn đề tài ..........................................................................................1
2. Mục đích, yêu cầu của đề tài .......................................................................2
2.1. Mục đích ...................................................................................................2
2.2. Yêu cầu .....................................................................................................2
3. Ý nghĩa khoa học, ý nghĩa thực tiễn ...........................................................2
CHƢƠNG 1. TỔNG QUAN TÀI LIỆU ......................................................4
1.1. Nguồn gốc cây bí ngô ..............................................................................4
1.2. Một số đặc điểm thực vật học của bí ngô ................................................5
1.2.1. Đôi nét về đặc điểm hình thái ...............................................................5
1.2.2.Yêu cầu điều kiện sinh thái ....................................................................5
1.2.3. Giá trị sử dụng của cây bí ngô ..............................................................6
1.3. Tình hình sản xuất và nghiên cứu bí ngô trên Thế giới và Việt Nam .....7
1.3.1. Tình hình sản xuất và nghiên cứu bí ngô trên Thế giới ........................7
1.3.2. Tình hình sản xuất và nghiên cứu bí ngô ở Việt Nam ..........................7
CHƢƠNG 2. ĐỐI TƢỢNG, NỘI DUNG VÀ PHƢƠNG PHÁP NGHIÊN
CỨU ................................................................................................................10
2.1. Đối tượng, thời gian, địa điểm nghiên cứu ..............................................10
2.1.1. Đối tượng nghiên cứu............................................................................10
2.1.2. Địa điểm nghiên cứu .............................................................................10
2.1.3.Thời gian nghiên cứu .............................................................................10
2.2. Nội dung nghiên cứu ................................................................................11
2.3. Phương pháp nghiên cứu ..........................................................................11
2.3.1. Phương pháp bố trí thí nghiệm..............................................................11
2.3.2. Qui trình gieo trồng và chăm sóc ..........................................................11

Bảng 3.8. Đặc điểm chất lượng của các mẫu giống nghiên cứu .....................28


MỞ ĐẦU
1. Lý do chọn đề tài
Cây bí ngô hay còn gọi là bí đỏ là tên gọi chung cho một số loài
(Cucurbita spp.) của chi Cucurbita, họ bầu bí (Cucurbitaceae), có nguồn gốc
nhiệt đới châu Mỹ. Ở Việt Nam, tên gọi này là tên thông dụng để chỉ các cây
trồng thuộc ba loài Cucurbita pepo L., Cucurbita maxima Duch, và Cucurbita
moschata Duch [6]
Trên thế giới cũng như ở Việt Nam, bí ngô là một trong những cây rau
có vị trí quan trọng trong đời sống và trong sản xuất nông nghiệp. Sản phẩm
từ cây bí ngô đa dạng bao gồm quả, nụ, hoa, ngọn, lá non, và hạt. Chúng được
sử dụng làm rau ăn hàng ngày hoặc nguyên liệu cho ngành chế biến thực
phẩm. Thịt quả bí ngô chứa nhiều sinh tố và khoáng chất, cũng là một vị thuốc
nam trị nhiều bệnh [12]. Trong 100g thịt quả bí ngô chứa 85 - 91% nước, chất
đạm 0,8 - 2 g, chất béo 0,1 - 0,5 g, chất bột đường 3,3 - 11 g, năng lượng 85 170 kJ/100 g, rất giàu vitamin A, vitamin C... có lợi cho sức khỏe con người.
Hơn nữa, canh tác bí ngô dễ dàng và mang lại hiệu quả kinh tế tích cực. Bí
ngô thích nghi rộng với một loạt môi trường nông nghiệp từ đầu tư thấp như
vườn gia đình đến đầu tư cao ở vùng chuyên canh, có thể trồng quanh năm, vì
thế nó có thể đóng vai trò quan trọng trong chuyển đổi cơ cấu cây trồng, đa
dạng sản phẩm nông nghiệp để cải thiện thu nhập cho người nông dân.
Bí ngô là cây trồng ngày càng có vị trí trong sản xuất, tuy nhiên cho
tới nay vẫn chưa có nhiều công trình nghiên cứu khoa học về loại cây trồng
này được công bố ở Việt Nam, diện tích trồng còn nhỏ lẻ, phân tán và chưa
tạo được sự bứt phá về giống. Tại các địa phương hiện nay, phần lớn vẫn sử
dụng các giống bí người dân tự để giống. Năng suất và chất lượng không
được cải thiện trong khoảng thời gian dài. Các sản phẩm bí ngô địa phương
thường chỉ được sử dụng cho gia đình, cho chăn nuôi và một phần rất ít ra thị
trường. Vì vậy, việc nghiên cứu phục vụ công tác chọn tạo những giống bí có


2


Ý nghĩa thực tiễn: Từ kết quả nghiên cứu của đề tài đánh giá được
một hoặc một vài giống bí ngô địa phương có đặc tính tốt giới thiệu làm vật
liệu cho công tác khai thác sử dụng.

3


CHƢƠNG 1. TỔNG QUAN TÀI LIỆU
1.1. Nguồn gốc cây bí ngô
Nguồn gốc và sự tiến hóa các loài trồng của chi Cucurbita được tóm tắt
bởi Merrick (1995) và Sanjur và cộng sự (2002) [9] [10] trong đó ba loài
trồng được biết đến nhiều nhất là C. maxima Duch, C. moschata Duch và C.
pepo L.. Chúng có nguồn gốc ở Mexico và vùng Nam Mỹ. Sau khi Culumbus
đến châu Mỹ (thế kỷ XVI - XVII), các loài này được lan truyền và phát triển
rộng rãi khắp thế giới từ vùng nhiệt đới, cận nhiệt, đến các khu vực ôn đới có
mùa hè ấm áp.
C. maxima Duch có nguồn gốc ở khu vực ôn đới ẩm miền Nam Mỹ và
vùng đất thấp của Bolivia. Loài hoang dại C. maxima sub sp. andreana
(Naudin) Filov được coi là tổ tiên hoang dã của nó. Hạt của C. maxima được
khai quật ở Peru có niên đại 1800 năm trước công nguyên.
C. moschata Duch có nguồn gốc Trung và Nam Mỹ. Các bằng chứng
khảo cổ có niên đại 7660 năm trước công nguyên đã được tìm thấy ở sườn
phía tây của dãy núi Andes. Tổ tiên hoang dã của loài này vẫn chưa xác định
rõ, nhưng những nghiên cứu gần đây về các mối quan hệ phát sinh loài giữa
các loài hoang dã và loài thuần trong chi Cucurbita, chủ yếu dựa trên dữ liệu
DNA, cho rằng loài tổ tiên của C. moschata có thể được tìm thấy ở vùng đất

loe hoặc không loe. Hạt hình trứng, dẹt, kích thước thay đổi tùy giống, loài,
vỏ hạt màu trắng, màu kem hoặc nâu đôi khi màu sẫm, bề mặt hạt nhẵn hoặc
hơi thô ráp. Hạt nảy mầm kiểu epigeal (nảy mầm trên mặt đất), thân mầm dài
2 - 3 cm, lá mầm hình elip dài 2 - 4cm [8].
1.2.2. Yêu cầu điều kiện sinh thái
Bí ngô có khả năng thích ứng tương đối rộng, có thể trồng ở những
vùng nhiệt đới từ các vùng đất thấp đến độ cao 2000 m, nhiệt độ thích hợp từ
180C - 270C, ngưỡng nhiệt độ cho ra hoa đậu quả là trên 14 0C và dưới 320C.
5


Loài C. maxima chịu được nhiệt độ thấp tốt hơn C. moschata nhưng lại không
chịu được nhiệt độ cao, hầu như không phản ứng quang chu kỳ và chịu bóng
nhẹ. Trong khi C. moschata là loài chịu nhiệt nhất trong ba loài, gần như
không hoặc có phản ứng nhẹ với quang chu kỳ, chịu bóng nhẹ. C. pepo ưa khí
hậu mát mẻ hơn, chịu ngập úng kém, ít thích nghi với vùng nhiệt đới thấp,
đặc biệt trong mùa mưa. Cả ba loài chịu hạn khá, nhạy cảm với sương giá và
ngập úng. Chúng không quá khắt khe về đất trồng nhưng ưa đất mùn giàu hữu
cơ và màu mỡ, đất trung tính hoặc hơi acid (pH 5,5 - 6,8), C.pepo trồng được
trên đất có pH 5,6 - 8,0 [8].
1.2.3. Giá trị sử dụng của cây bí ngô
Nói chung các loài thuần của chi Cucurbita được trồng để sử dụng chủ
yếu làm thực phẩm và một số mục đích khác. Quả non hoặc già, lá, hoa, và
hạt đều có thể làm rau. Tuy nhiên với C. pepo lá và hoa ít được sử dụng làm
rau hơn so với C. maxima và C. moschata. Quả già ngoài tác dụng là một loại
rau được nấu nướng hàng ngày còn phổ biến được dùng làm bánh bí ngô, làm
kẹo và món tráng miệng. Quả già bảo quản được lâu (trong vài tuần lễ), nếu
cắt lát phơi khô thời gian bảo quản còn được kéo dài lâu hơn nữa. Hạt được
rang ăn như một dạng quà vặt, hoặc nghiền thành bột làm bánh, trộn salat.
Dầu thực vật sản xuất từ hạt bí ngô dùng để trộn salat ở Trung Quốc, Mỹ,

lĩnh vực. Nổi bật là nguồn vật liệu khởi đầu trong chọn tạo giống bí ngô trên
phạm vi toàn cầu, tạo ra hàng loạt giống thuần và giống ưu thế lai đáp ứng thị
hiếu của thị trường và khả năng chịu hạn, chịu nhiệt, và đặc biệt là chống chịu
các loại bệnh trên cây bầu bí [11].
1.3.2. Tình hình sản xuất và nghiên cứu bí ngô ở Việt Nam
Ở Việt Nam, bí ngô, bí đỏ hay bí rợ là tên thông dụng để chỉ các loại cây
thuộc ba loài được trồng trọt lâu đời, phổ biến ở khắp các tỉnh thành từ bắc
vào nam là C. pepo L, C. maxima Duch, và C. moschata Duch [11]. Bí ngô có
7


nhiều ưu điểm, là cây dễ trồng, thích hợp với nhiều điều kiện đất đai và có thể
trồng quanh năm, đặc biệt chi phí đầu tư thấp, thị trường tiêu thụ rộng lớn,
ngoài thu hoạch quả có thể thu ngọn. Do vậy, diện tích trồng bí ngô liên tục
được mở rộng và đã hình thành một số vùng trồng tập trung từ vài chục đến
vài trăm ha ở Vĩnh Phúc, Thái Nguyên, Hải Dương, Hà Nội, Bình Phước,
Lâm Đồng... đem lại hiệu quả kinh tế cao cho người sản xuất ở nhiều vùng
miền. Tuy nhiên cho tới nay, bí ngô vẫn được coi là cây trồng phụ nên chưa có
số liệu thống kê đầy đủ về cả diện tích, năng suất và sản lượng [2].
Tại Việt Nam, Trung tâm Tài nguyên thực vật được thành lập năm 1996,
từ đó đã có rất nhiều chuyến thu thập nguồn gen trong nước và một số trao
đổi nguồn gen với nước ngoài. Hiện tại, Ngân hàng gen cây trồng quốc gia
đang lưu giữ khoảng 1000 mẫu giống thuộc chi Cucurbita (nguồn từ Bộ môn
Ngân hàng gen-Trung tâm Tài nguyên thực vật). Nguồn gen chi Cucurbita ở
Việt Nam mặc dù chỉ gồm ba loài chính nêu ở trên nhưng khá đa dạng phong
phú. Tuy nhiên, các công trình công bố về cây bí ngô ở nước ta nhìn chung
còn nghèo nàn. Gần đây có Nguyễn Văn Dự (2009) [1], đã và đang nghiên
cứu tuyển chọn giống bí ngô cho vùng đồng bằng; Nguyễn Mạnh Thắng
(2010) [4], bước đầu nghiên cứu tuyển chọn 6 giống bí đỏ đã xác định được 2
giống bí đỏ GM018 và F1-M315 có năng suất và chất lượng cao phù hợp với


Tên giống

Nơi thu

gen QG)
1

3627

Bí đỏ

Na Sầm, Văn Lãng, Lạng Sơn

2

3630

Bí đỏ gáo

Chợ Trào, Phú Lương, Thái Nguyên

3

3826

Bí đỏ

Chiềng Hắc, Mộc Châu, Sơn La


Linh Phú, Chiêm Hoá, Tuyên Quang

8

6559

Bí đỏ

Chiến Thắng, Bắc Sơn, Lạng Sơn

9

6564

Tẩu héo

Vân Sơn, Sơn Động, Bắc Giang

10

9075

Mạc ức

Quy Hướng, Mộc Châu, Sơn La

2.1.2. Địa điểm nghiên cứu
Trung tâm tài nguyên thực vật, An Khánh, Hoài Đức, Hà Nội.
2.1.3. Thời gian nghiên cứu
Vụ đông xuân 10/2015-3/2016.


11


- Các tính trạng đánh giá vào giai đoạn quả đầu tiên phát triển đầy đủ
gồm: kích cỡ phiến lá, sự phân thùy của lá, mức độ màu xanh mặt trên của lá,
vết đốm bạc trên phiến lá.
+ Kích cỡ phiến lá: nhỏ (điểm 3), trung bình (điểm 5), lớn (điểm 7).
+ Sự phân thùy của lá: không có hoặc nông (điểm 3), trung gian (điểm
5), sâu (điểm 7).
+ Mức độ màu xanh mặt trên của lá: nhạt (điểm 3), trung bình (điểm 5),
đậm (điểm 7).
+ Vết đốm bạc trên phiến lá: không có (điểm 1), có (điểm 9).
- Các tính trạng đánh giá vào giai đoạn quả quả chín sinh lý gồm:
+ Hình dáng tiết diện cuống quả: tròn (điểm 1), góc cạnh trơn (điểm 2),
góc cạnh sắc (điểm 3).
+ Kiểu dạng cuống quả: cứng không loe (điểm 1), cứng và loe (điểm 2),
không loe lan rộng bởi vết bần cứng (điểm 3), không loe lan rộng bởi
vết bần mềm (điểm 4).
+ Chiều dài quả: ngắn (điểm 3), trung bình (điểm 5), dài (điểm 7).
+ Đường kính quả: nhỏ (điểm 3), trung bình (điểm 5), lớn (điểm 7).
+ Vị trí phần rộng nhất của quả: hướng về phía cuống quả (điểm 1), ở
giữa (điểm 2), hướng về phía cuống quả (điểm 3).
+ Hình dạng mặt cắt dọc quả: hình bầu dục dẹt rộng (điểm 1), hình bầu
dục dẹt trung bình (điểm 2), hình tròn (điểm 3), hình trứng (điểm 4),
hình tứ giác (điểm 5), hình thang (điểm 6), hình quả lê (điểm 7), hình
chùy (điểm 8), hình trụ (điểm 9).
+ Hình dạng núm quả: nhô lên (điểm 1), phẳng (điểm 2), hơi lõm (điểm
3), lõm vừa (điểm 4), rất lõm (điểm 5).
+ Hình dạng đáy quả: lõm (điểm 1), phẳng (điểm 2), lồi (điểm 3).

+ Điểm 3, nhiễm trung bình: 10 - 25% diện tích lá bị bệnh
+ Điểm 4, nhiễm nặng: 25 - 50% diện tích lá bị bệnh
+ Điểm 5, nhiễm rất nặng: > 50% diện tích lá bị bệnh
13


2.3.3.3. Đánh giá một số chỉ tiêu chất lượng bí ngô
Đánh giá chất lượng bí ngô qua một số chỉ tiêu: độ brix của thịt quả,
quan sát màu sắc của thịt quả.
2.3.4. Phương pháp xử lý số liệu
Số liệu thu được từ thí nghiệm được xử lý, thống kê bằng chương trình
Excel.

14


CHƢƠNG 3. KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU VÀ THẢO LUẬN
3.1. Đánh giá đặc điểm nông sinh học của các mẫu giống bí ngô
Nghiên cứu đặc điểm nông sinh học của các mẫu giống là để phân loại
và cung cấp thông tin về các nguồn gen bí ngô cho công tác bảo tồn, khai thác
sử dụng và chọn tạo giống. Mỗi giống bí ngô có đặc điểm nông sinh học khác
nhau phù hợp điều kiện canh tác, mục đích sử dụng của từng giống, nắm rõ về
đặc điểm của chúng nhằm phục tráng bảo tồn giống hoặc khai thác theo các
hướng mục tiêu hay đơn giản là đưa ra các biện pháp canh tác phù hợp. Dưới
đây là kết quả đánh giá đặc điểm nông sinh học của một số giống bí ngô có
nguồn gốc tại khu vực miền núi phía bắc trồng ở vụ Đông Xuân 2015-2016 tại
An Khánh, Hoài Đức, Hà Nội.
3.1.1. Một số đặc điểm hình thái lá của các mẫu giống nghiên cứu
Đặc điểm lá của giống rất được quan tâm bởi các nhà khoa học cũng
như người trồng trọt. Bên cạnh việc chúng là đối tượng để nghiên cứu ảnh

21,7 ± 0,8

21,2 ± 1,6

3

2

3630

24,1 ± 1,2

24,7 ± 2,0

5

3

3826

30,2 ± 1,9

30,1 ± 1,5

5

4

4043


30,2 ± 1,5

29,0 ± 1,2

5

8

6559

34,3 ± 1,5

33,4 ± 1,9

7

9

6564

32,7 ± 1,0

32,5 ± 1,2

7

10

9075


Mức độ màu xanh

Sự phân thùy

Vết đốm bạc

mặt trên của lá

của lá

trên phiến lá

(điểm)

(điểm)

(điểm)

1

3627

5

3

9

2


5356

5

5

9

6

5363

7

5

9

7

6551

5

3

9

8


giống trong tập đoàn.
Mức độ đậm nhạt của màu xanh mặt trên lá thể hiện hàm lượng diệp
lục trong lá, lá càng có màu xanh đậm thì hàm lượng diệp lục càng cao, hiệu
quả quang hợp, tích luỹ chất hữu cơ càng tốt. Trong 10 mẫu giống nghiên
cứu, có 5 mẫu giống có mặt trên lá màu xanh đậm (3826; 5363; 6559; 6546;
9075), 5 mẫu giống còn lại có màu xanh trung bình (3627; 3630; 4043; 5356
và 6551); có 4 mẫu giống lá xẻ thùy trung bình (3826; 4043; 5356; 5363) và 6
mẫu giống còn lại có lá xẻ thùy nông.

17


3.1.2. Một số đặc điểm hình thái quả của các mẫu giống nghiên cứu
Quả là sản phẩm chính của cây bí ngô. Hiện nay, đặc điểm hình thái quả
cũng được thị hiếu người tiêu dùng rất quan tâm. Ví dụ, kích thước quả, khối
lượng quả cho phù hợp bữa ăn gia đình; hình dạng quả một phần là cảm quan
người sử dụng, mặt khác hình dạng quả còn liên quan đến nhu cầu sử dụng
nấu nướng (như dạng quả đặc ruột như quả hình lê để thái lát, hay quả hình
cầu hình dẹt để nhồi thịt hầm nguyên quả...). Về mặt khoa học, cây bí ngô có
một sự đa dạng ấn tượng về đặc điểm hình thái quả, việc phân nhóm giống
căn cứ rất nhiều vào hình thái quả. Theo tài liệu hướng dẫn mô tả cây họ bầu
bí của BIOVERSITY và ECPGR, quả bí ngô có tới 14 dạng hình quả. Do đó,
nghiên cứu về đặc điểm hình thái quả của các mẫu giống bí ngô là một việc
quan trọng, kết quả được trình bày trong bảng 3.3 và bảng 3.4.
Bảng 3.3. Kích thƣớc quả của các mẫu giống nghiên cứu
SĐK

Khối
lƣợng


7

2,8 ± 0,5

5

3630

0,8 ± 0,2

18,8 ± 1,1

5

12,5 ± 1,0

5

1,7 ± 0,2

3

3826

2,9 ± 0,7

14,9 ± 1,5

5


3

17,0 ± 1,2

5

2,7 ± 0,4

5

5363

3,2 ± 0,2

16,9 ± 1,5

5

22,2 ± 0,8

7

3,2 ± 0,2

5

6551

1,7 ± 0,5


3,7 ± 0,5

13,3 ± 1,1

3

22,7 ± 2,6

7

3,8 ± 0,5

7

9075

2,4 ± 0,4

20,0 ± 1,6

5

18,8 ± 2,3

7

3,0 ± 0,7

5


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status