MỤC LỤC
Lời cam đoan
ii
Lời cảm ơn
iii
Mục lục
iv
Danh mục chữ viết tắt
vii
Danh mục bảng
viii
Danh mục hộp
x
Danh mục sơ đồ
xi
Danh mục biểu đồ
5
2.1.1 Các khái niệm có liên quan
5
2.1.2 Vai trò, đặc điểm của huy động nguồn lực cộng đồng cho xây dựng cơ
sở hạ tầng nông thôn mới
15
2.1.3 Nội dung nghiên cứu về huy động nguồn lực cộng đồng cho xây dựng
cơ sở hạ tầng nông thôn mới
21
2.1.4 Các yếu tố ảnh hưởng đến huy động nguồn lực cộng đồng cho xây
dựng cơ sở hạ tầng nông thôn mới
26
2.2 Cơ sở thực tiễn
29
2.2.1 Kinh nghiệm huy động nguồn lực cộng đồng cho xây dựng cơ sở hạ
tầng nông thôn mới trên thế giới
29
44
3.1.1 Điều kiện tự nhiên
44
3.1.2 Điều kiện kinh tế xã hội
46
3.2 Phương pháp nghiên cứu
53
3.2.1 Phương pháp chọn điểm nghiên cứu
53
3.2.2 Phương pháp thu thập số liệu
54
3.2.3 Phương pháp xử lý và phân tích thông tin
56
3.2.4 Hệ thống chỉ tiêu nghiên cứu
57
88
4.2.2 Năng lực tổ chức và quản lý của đội ngũ cán bộ cơ sở
90
4.2.3 Từ phía người dân và cộng đồng
93
4.2.4 Sự phát triển của các doanh nghiệp trên địa bàn huyện Mỹ Lộc
95
4.3 Giải pháp chủ yếu nâng cao hiệu quả huy động nguồn lực cộng đồng cho
xây dựng CSHT NTM huyện Mỹ Lộc tỉnh Nam Định
4.3.1 Căn cứ đề xuất giải pháp
Học viện Nông nghiệp Việt Nam – Luận văn Thạc sỹ Khoa học Kinh tế
98
98
Page v
4.3.2 Các giải pháp chủ yếu nâng cao hiệu quả huy động nguồn lực cộng
đồng cho xây dựng CSHT NTM huyện Mỹ Lộc, tỉnh Nam Định
101
CCN
Cụm công nghiệp
CNH
Công nghiệp hóa
CSHT
Cơ sở hạ tầng
ĐVT
Đơn vị tính
GTNT
Giao thông nông thôn
HĐH
Hiện đại hóa
KCN
Khu công nghiệp
KT
THPT
Trung học phổ thông
TP
Thành phố
UBND
Ủy ban nhân dân
XH
Xã hội
Học viện Nông nghiệp Việt Nam – Luận văn Thạc sỹ Khoa học Kinh tế
Page vii
DANH MỤC BẢNG
Số bảng
Tên bảng
Trang
3.1
Đối tượng và số phiếu điều tra ở các nhóm đối tượng
55
4.1
Nhu cầu vốn đầu tư xây dựng cơ sở hạ tầng nông thôn mới của ba xã
nghiên cứu giai đoạn 2010-2015
4.2
63
Kế hoạch huy động các nguồn vốn để xây dựng cơ sở hạ tầng nông
thôn mới huyện Mỹ Lộc giai đoạn 2010-2015
4.3
66
Kết quả công tác tuyên truyền xây dựng CSHT nông thôn mới huyện
Mỹ Lộc giai đoạn 2010-2014
4.4
71
Tỷ lệ biết đến chương trình xây dựng cơ sở hạ tầng nông thôn mới,
hình thức tuyên truyền về huy động nguồn lực cộng đồng cho xây
81
Kết quả huy động đất đai xây dựng CSHT NTM huyện Mỹ Lộc giai
đoạn 2010-2014
4.10
81
Kết quả huy động vốn từ cộng đồng cho xây dựng cơ sở hạ tầng nông
thôn mới huyện Mỹ Lộc giai đoạn 2010-2014
Học viện Nông nghiệp Việt Nam – Luận văn Thạc sỹ Khoa học Kinh tế
83
Page viii
4.11
Kết quả huy động nguồn lực cộng đồng cho xây dựng CSHT NTM
giai đoạn 2010-2014 của 3 xã nghiên cứu
4.12
84
Ý kiến của chủ doanh nghiệp đối với công tác xây dựng CSHT NTM
90
Ý kiến của cán bộ địa phương về cách tổ chức huy động cộng đồng
91
tham gia xây dựng cơ sở hạ tầng nông thôn mới (n=30)
4.18
Trình độ đào tạo của đội ngũ cán bộ, công chức cấp cơ sở ở huyện Mỹ
Lộc năm 2014
4.19
92
Nguồn huy động nguồn lực xây dựng CSHT NTM của các hộ dân tại
3 xã nghiên cứu
93
4.20
Trình độ văn hóa và trình độ chuyên môn của các chủ hộ (n=90)
94
4.21
Kết quả đóng góp xây dựng cơ sở hạ tầng NTM của các doanh nghiệp
Ý kiến của cán bộ Ban Quản lý xây dựng NTM xã về việc lập kế
hoạch huy động nguồn lực xây dựng CSHT nông thôn mới
4.2
67
Quan điểm lãnh đạo, chỉ đạo của Ban chỉ đạo chương trình mục tiêu
quốc gia xây dựng nông thôn mới huyện Mỹ Lộc
4.3
69
Tuyên truyền tổ chức huy động nguồn lực cộng đồng xây dựng cơ sở
hạ tầng nông thôn mới.
70
4.4
Sự hiểu biết về xây dựng CSHT nông thôn mới
73
4.5
Giám sát quá trình huy động nguồn lực cộng đồng cho xây dựng
CSHT NTM
Ý kiến về sự tham gia đóng góp của doanh nghiệp cho xây dựng
CSHT NTM trên địa bàn huyện Mỹ Lộc giai đoạn 2010-2015
Học viện Nông nghiệp Việt Nam – Luận văn Thạc sỹ Khoa học Kinh tế
96
Page x
DANH MỤC SƠ ĐỒ
Số sơ đồ
Tên sơ đồ
Trang
2.1
Vai trò của cộng đồng tham gia xây dựng cơ sở hạ tầng nông thôn mới
4.1
Quá trình thực hiện quy hoạch cơ sở hạ tầng nông thôn mới huyện
18
Mỹ Lộc
4.2
4.3
61
Cơ cấu vốn đầu tư cho xây dựng CSHT nông thôn mới huyện Mỹ Lộc
giai đoạn 2010-2015
4.4
62
Cơ cấu nguồn vốn xây dựng cơ sở hạ tầng nông thôn mới huyện Mỹ
Lộc giai đoạn 2011-2014
Học viện Nông nghiệp Việt Nam – Luận văn Thạc sỹ Khoa học Kinh tế
82
Page xi
PHẦN I
MỞ ĐẦU
1.1 Tính cấp thiết của đề tài
Nghị quyết số 26-NQ/TW của Ban Chấp hành trung ương (Khóa X) về nông
nghiệp, nông dân, nông thôn đã thể hiện tầm nhìn chiến lược, ý chí quyết tâm của
Đảng để thay đổi diện mạo nông thôn với mục tiêu phát triển nông nghiệp và nâng
cao đời sống của người dân nông thôn, đảm bảo phát triển kinh tế bền vững và đồng
đều khắp cả nước. Nhằm cụ thể hóa nghị quyết của Đảng, Chính phủ đã ban hành “
dân đóng góp 2.920 ha đất nông nghiệp và hiến gần 200 ha đất thổ cư để làm đường
giao thông nông thôn, thủy lợi nội đồng... Toàn tỉnh đã xây dựng mới, nâng cấp, cải
tạo được 5.418 km đường giao thông nông thôn đạt chuẩn, 1.897 công trình thủy
lợi, 175 km mương cấp III, 356 trạm biến áp, 1.443 km đường dây hạ thế, 537 nhà
văn hóa và khu thể thao thôn, 64 chợ nông thôn, 38 trạm y tế xã, 24 công trình cấp
nước sạch, 93 bãi xử lý rác thải, 9.753 hầm Biogas... Đến hết năm 2014, có 100/229
xã, thị trấn (47,8%) đạt và cơ bản đạt 19 tiêu chí xây dựng nông thôn mới. Nam
Định được Trung ương đánh giá là một trong 5 địa phương dẫn đầu cả nước về xây
dựng nông thôn mới. (UBND tỉnh Nam Định, 2015).
Đối với huyện Mỹ Lộc, trong những năm qua, các cấp, ban ngành cùng với
toàn thể cán bộ, đảng viên và quần chúng nhân dân trong huyện đã tích cực triển
khai và thực hiện chương trình MTQG xây dựng nông thôn mới trên địa bàn; chủ
động thực hiện các biện pháp huy động nguồn lực của cộng đồng vào xây dựng
cơ sở hạ tầng nông thôn mới. Tính đến nay, nguồn lực huy động từ cộng đồng và
các tổ chức kinh tế đã đạt được những kết quả đáng kể. Một số nơi đã hoàn thành
cơ bản về số lượng các công trình cơ sở hạ tầng. Tuy nhiên, cũng như các địa
phương khác của cả nước, huyện Mỹ Lộc đang gặp phải khó khăn trong quá
trình huy động nguồn lực cộng đồng vào xây dựng cơ sở hạ tầng nông thôn mới
như đội ngũ cán bộ cấp cơ sở còn hạn chế trong việc thẩm định, giám sát việc thi
công các công trình xây dựng; điều kiện kinh tế của nhiều hộ dân trên địa bàn
huyện còn khó khăn... Điều đó dẫn tới kết quả thực hiện 19 tiêu chí xây dựng
NTM còn chậm, kể cả 04 xã làm điểm giai đoạn 2010-2015; đến hết năm 2014
vẫn chưa có xã nào đạt và cơ bản đạt 19 tiêu chí, nhất là nhóm tiêu chí về cơ sở
hạ tầng (UBND huyện Mỹ Lộc, 2015).
Hiện nay, đã có rất nhiều công trình bàn về xây dựng NTM, cũng như việc huy
động nguồn lực cho xây dựng nông thôn mới; nhưng đối với Mỹ Lộc thì chưa có
công trình nghiên cứu nào đi vào nghiên cứu cụ thể việc huy động nguồn lực cộng
Học viện Nông nghiệp Việt Nam – Luận văn Thạc sỹ Khoa học Kinh tế
Page 2
trong thời gian tới?
Học viện Nông nghiệp Việt Nam – Luận văn Thạc sỹ Khoa học Kinh tế
Page 3
1.4 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
1.4.1 Đối tượng nghiên cứu
- Đối tượng nghiên cứu: Nghiên cứu những vấn đề lý luận và thực tiễn về
huy động nguồn lực cộng đồng cho xây dựng cơ sở hạ tầng nông thôn mới.
- Đối tượng khảo sát: Các hộ dân, doanh nghiệp, cán bộ cấp thôn, cấp xã, cấp
huyện có liên quan trên địa bàn huyện Mỹ Lộc.
1.4.2 Phạm vi nghiên cứu
1.4.2.1 Phạm vi nội dung
Các hoạt động huy động nguồn lực cộng đồng cho xây dựng cơ sở hạ tầng
nông thôn hiện nay ở huyện Mỹ Lộc.
1.4.2.2 Phạm vi không gian
Đề tài nghiên cứu trên địa bàn huyện Mỹ Lộc, tỉnh Nam Định. Tập trung
nghiên cứu ở 3 xã: Mỹ Phúc, Mỹ Tân, Mỹ Thịnh.
1.4.2.3 Phạm vi thời gian
- Số liệu thứ cấp: Thu thập số liệu của giai đoạn 2012-2014; số liệu về
Chương trình MTQG xây dựng nông thôn mới trên địa bàn huyện Mỹ Lộc giai đoạn
2010-2015
- Số liệu sơ cấp: Thu thập số liệu năm 2014 và những đánh giá cho giai đoạn
2012 - 2014
- Thời gian thực hiện đề tài: Từ tháng 07/2014 đến tháng 08/2015
Học viện Nông nghiệp Việt Nam – Luận văn Thạc sỹ Khoa học Kinh tế
Các nguồn lực được xem xét ở nhiều góc độ. Có nghĩa là dưới nhiều góc độ,
người ta chia các nguồn lực thành các loại khác nhau. Cụ thể:
Học viện Nông nghiệp Việt Nam – Luận văn Thạc sỹ Khoa học Kinh tế
Page 5
* Căn cứ vào nguồn gốc
- Vị trí địa lý: tạo thuận lợi hay gây khó khăn trong việc trao đổi, tiếp cận hay
cùng phát triển giữa các vùng trong một nước hay giữa các quốc gia với nhau.
- Nguồn lực tự nhiên: là cơ sở tự nhiên của quá trình sản xuất
- Nguồn lực kinh tế - xã hội: có vai trò quan trọng để lựa chọn chiến lược phát
triển phù hợp với điều kiện cụ thể của đất nước trong từng giai đoạn (Lê Thông và
cộng sự, 2014).
* Căn cứ vào phạm vi lãnh thổ
- Nguồn lực trong nước (có ý nghĩa quyết định): nguồn lực trong nước còn
gọi là nội lực, bao gồm các nguồn lực tự nhiên, nhân văn, hệ thống tài sản quốc gia,
đường lối chính sách đang được khai thác.
- Nguồn lực nước ngoài (có vai trò quan trọng): nguồn lực nước ngoài còn được
gọi là nguồn ngoại lực, bao gồm khoa học, kỹ thuật và công nghệ, nguồn vốn, kinh
nghiệm về tổ chức và quản lý sản xuất… từ nước ngoài (Lê Thông và cộng sự, 2014).
Ngoài ra, nguồn lực còn được chia thành nguồn lực phi vật chất và nguồn lực
vật chất. Trong đó, nguồn lực phi vật chất được hiểu là nguồn lực từ con người như
sức mạnh, trí óc (ý tưởng, sáng kiến)… nguồn lực vật chất được hiểu là các nguồn
lực từ tiền bạc, đất đai, vật tư… Khi con người làm nên tất cả và quyết định tất cả
nên nguồn lực con người được gọi là nguồn lực của mọi nguồn lực.
2.1.1.3 Cộng đồng
Ở Việt Nam, có nhiều tài liệu đưa ra khái niệm “cộng đồng”. Từ điển tiếng
Việt giải thích: “Cộng đồng là toàn thể những người sống thành một xã hội, nói
của các thành viên của phong trào để có được nguồn tài nguyên và huy động người dân
đối với việc hoàn thành các mục tiêu của phong trào (Phạm Thị Hiệp, 2014).
Huy động nguồn lực cộng đồng là quá trình xác định các mục tiêu và lựa chọn
các phương thức để đạt được mục tiêu về huy động nguồn lực cộng đồng.
Như vậy, huy động nguồn lực cộng đồng bao gồm các hoạt động huy động
các nguồn lực phi vật chất (sức mạnh, trí óc...) và nguồn lực vật chất (tiền của, đất
đai, vật tư...) từ phía người dân và các doanh nghiệp, tổ chức kinh tế xã hội đang
hoạt động trên địa bàn của một vùng, một địa phương... mà chủ yếu là nguồn nội
lực để tăng cường năng lực tổ chức và mang lại lợi ích cho cộng đồng.
2.1.1.6 Cơ sở hạ tầng nông thôn
a. Khái niệm cơ sở hạ tầng nông thôn
Cơ sở hạ tầng nông thôn là một bộ phận của tổng thể cơ sở hạ tầng vật chất kỹ thuật nền kinh tế quốc dân. Đó là những hệ thống thiết bị và công trình vật chất - kỹ
Học viện Nông nghiệp Việt Nam – Luận văn Thạc sỹ Khoa học Kinh tế
Page 7
thuật được tạo lập phân bố, phát triển trong các vùng nông thôn và trong các hệ thống
sản xuất nông nghiệp, tạo thành cơ sở, điều kiện chung cho phát triển kinh tế, xã hội ở
khu vực này và trong lĩnh vực nông nghiệp (Đỗ Xuân Nghĩa, 2013).
Nội dung của cơ sở hạ tầng trong nông thôn cũng như sự phân bố, cấu trúc
trình độ phát triển của nó có sự khác biệt đáng kể giữa các khu vực, quốc gia cũng
như giữa các địa phương, vùng lãnh thổ của đất nước. Tại các nước phát triển, cơ sở
hạ tầng nông thôn còn bao gồm cả các hệ thống, công trình cung cấp gas, khí đốt, xử lý
và làm sạch nguồn nước tưới tiêu nông nghiệp, cung cấp cho nông dân nghiệp vụ
khuyến nông. Kinh tế - xã hội nông thôn không thể phát triển nếu các yếu tố cơ sở hạ
tầng nông thôn không được đáp ứng (Mai Thanh Cúc và cộng sự, 2005).
b. Đặc điểm của cơ sở hạ tầng nông thôn
Cơ sở hạ tầng bao gồm tổng thể các công trình mang tính hệ thống, đồng bộ,
phục vụ lâu dài, có tính thẩm mỹ, tính tiên phong định hướng, vốn đầu tư lớn (Mai
còn góp phần giảm được chi phí vận chuyển, giảm giá thành sản phẩm, nâng cao
hiệu quả sản xuất - kinh doanh; tuy nhiên, trong một số trường hợp khi xây dựng
công trình làm thiệt hại cho đối tượng này nhưng lại làm lợi cho đối tượng khác.
- Tính công cộng: Các ngành sản xuất và dịch vụ thuộc kết cấu hạ tầng tạo ra
những sản phẩm hàng hoá công cộng như: đường giao thông, cầu cống, mạng lưới
điện, cung cấp nước… điều đó được thể hiện cả trong xây dựng và trong sử dụng.
Bởi vậy, hiệu quả đầu tư phát triển cơ sở hạ tầng nông thôn không thể chỉ xét đến
lợi ích của doanh nghiệp đầu tư mà còn phải xét đến ý nghĩa phúc lợi của nó đối với
toàn xã hội.
- Tính vùng (địa lý): Các ngành sản xuất và dịch vụ thuộc kết cấu hạ tầng
thường gắn với một vùng, địa phương cụ thể. Nó chịu ảnh hưởng của các yếu tố tự
nhiên (tài nguyên, môi trường, địa hình, đất đai…) và các yếu tố kinh tế, xã hội của
từng vùng, từng khu vực. Kết cấu hạ tầng của các vùng nông thôn có vị trí địa lý
khác nhau thì cũng sẽ khác nhau.
- Xây dựng hạ tầng nói chung và CSHT nông thôn nói riêng thuộc lĩnh
vực đầu tư kinh doanh, đòi hỏi vốn lớn: Trong điều kiện nguồn vốn có hạn, khi
đầu tư cần chú ý phân bổ nguồn vốn hợp lý giữa các lĩnh vực phát triển hạ tầng
và phát triển các hoạt động kinh tế - xã hội. Mặt khác, các công trình hạ tầng
thường là những công trình công cộng không thể hoặc khó thu hồi vốn và trong
khi sử dụng phải tu sửa, bảo dưỡng, vì vậy cần phải huy động đóng góp của
người dân, trích từ phí sử dụng hay huy động đóng góp của các doanh nghiệp,
các nhà hảo tâm, công đức.
Học viện Nông nghiệp Việt Nam – Luận văn Thạc sỹ Khoa học Kinh tế
Page 9
* Một số đặc thù riêng cơ sở hạ tầng nông thôn
- Phần lớn công trình hạ tầng nông thôn mang tính địa phương, khu vực khá
rõ nét. Công trình xây dựng phân tán, phát huy trong một phạm vi nhất định, tính hệ
Cơ sở hạ tầng phi sản xuất bao gồm các ngành phục vụ, đảm bảo hoạt động
chung cho con người như: y tế, giáo dục, các cơ sở nghỉ ngơi, dịch vụ khác.
- Các nhà kinh tế lại phân loại CSHT theo CSHT kinh doanh và CSHT phục
vụ sản xuất:
+ CSHT kinh doanh bao gồm những cơ sở vật chất kỹ thuật phục vụ trực tiếp
cho việc kinh doanh của những doanh nghiệp sản xuất hoặc dịch vụ. Đó là những hệ
thống hạ tầng thuộc sự quản lý của các doanh nghiệp nhất định. Thí dụ nhà máy,
công xưởng, hệ thống dây chuyền sản xuất...
+ CSHT phục vụ sản xuất là những cơ sở vật chất gián tiếp phục vụ sản xuất
kinh doanh của doanh nghiệp như: hệ thống điện, liên lạc, giao thông nội bộ.
Gần đây người ta đã phân CSHT theo hai phần "phần cứng và phần mềm":
- "Phần cứng" của CSHT nông thôn là hệ thống công trình đường xá nông
thôn, mạng lưới điện nông thôn, hệ thống thuỷ lợi, công nghiệp chế biến nông sản,
thông tin liên lạc, hệ thống cung cấp nước sạch.
- "Phần mềm"của CSHT nông thôn là hệ thống giáo dục, đào tạo nghề và
kinh tế công cộng, cơ sở nghiên cứu để tạo ra các cơ sở vật chất kỹ thuật cho nông
thôn và vận hành chúng (Phạm Văn Hùng, 2013).
2.1.1.7 Nông thôn mới
Nông thôn mới là nông thôn văn minh hiện đại nhưng vẫn giữ được nét đẹp
của truyền thống Việt Nam.
Theo Thông tư số 54/TT-NNPTNT ngày 21/08/2009 của Bộ Nông nghiệp và
Phát triển nông thôn quy định: “Vùng/khu vực nông thôn mới Việt Nam xã hội chủ
nghĩa là phần lãnh thổ không thuộc nội thành, nội thị các thành phố, thị xã, thị trấn;
được quản lý bởi cấp hành chính cơ sở là Ủy ban nhân dân xã” (Bộ Nông nghiệp và
PTNT, 2009). Như vậy nông thôn mới trước hết phải là nông thôn, chứ không phải
là thị tứ, thị trấn. Nông thôn mới vừa bao hàm chức năng lịch sử vốn có của nông
thôn; là vùng nông dân quần tụ trong đơn vị làng xã và chủ yếu làm nông nghiệp,
vừa có những thuộc tính khác với nông thôn truyền thống, đó là: Làng xã văn minh,
sạch đẹp, hạ tầng hiện đại; sản xuất phát triển bền vững theo hướng kinh tế hàng
- Hệ thống kênh mương và các công trình thuỷ lợi nông thôn: bao gồm toàn
bộ hệ thống công trình phục vụ cho việc khai thác, sử dụng hợp lý nguồn nước
(nước mặt và nước ngầm) và hạn chế những tác hại do nước gây ra đối với sản xuất,
đời sống và môi trường sinh thái. Các công trình chủ yếu gồm: các trạm bơm tưới,
tiêu, hệ thống đê sông, hệ thống kênh mương. Việc xây dựng hệ thống kênh mương
Học viện Nông nghiệp Việt Nam – Luận văn Thạc sỹ Khoa học Kinh tế
Page 12
và các công trình thuỷ lợi hiện đại, góp phần khắc phục tình trạng hoang hoá, mở
rộng diện tích canh tác, cung cấp nước tưới, tạo điều kiện thâm canh, tăng vụ và sự
chuyển đổi cơ cấu cây trồng, kịp thời khắc phục những hậu quả của thiên tai là một
yêu cầu bức thiết với các vùng nông thôn hiện nay trong xây dựng NTM.
- Hệ thống cung cấp nước sạch nông thôn: đây là một trong những nhân tố
quan trọng góp phần vào việc bảo vệ sức khoẻ, phòng chống dịch bệnh, nâng cao
chất lượng cuộc sống cư dân nông thôn.
Hiện nay, việc cung cấp nước sạch ở nông thôn có thể thực hiện thông qua
hệ thống cung cấp nước tập trung, khai thác từ các nguồn qua hệ thống phân phối
chuyển đến nơi sử dụng hoặc có thể do các hộ dân, cơ sở sản xuất khoan giếng, trữ
nước mưa. Do vậy, cần phải xây dựng các nhà máy nước (có thể mỗi xã xây dựng
một nhà máy nước hoặc hai, ba xã… xây dựng một nhà máy nước) để phục vụ nhân
dân. Thực tế cho thấy, việc xây dựng nhà máy cấp nước sạch cho các vùng nông
thôn là giải pháp hữu hiệu nhất trong bối cảnh môi trường ngày càng có xu hướng
bị ô nhiễm, do tác động của quá trình công nghiệp hóa nông nghiệp, nông thôn, nhất
là sự phát triển các hoạt động công nghiệp. Nó đảm bảo chất lượng nguồn nước đã
qua xử lý, đảm bảo cung cấp đủ nước cho nhu cầu sử dụng của dân cư.
- Về hệ thống thoát nước và xử lý chất thải, nước thải nông thôn: hiện nay,
nhiều vùng nông thôn đã căn bản cải tạo được tình trạng ao tù, nước đọng… Tuy
nhiên, môi trường nông thôn đang bị ô nhiễm, tình trạng chất thải, nước thải xả
THPT. Kinh nghiệm nhiều nước cho thấy, nguồn lực con người đã trở thành một
trong những nhân tố quyết định sự thành công hay thất bại của quá trình xây dựng
nông thôn mới. Do vậy, phải tập trung huy động mọi nguồn lực để xây dựng các
trường mầm non, tiểu học, THCS, THPT đạt chuẩn sẽ góp phần nâng cao trình độ
dân trí, đào tạo nguồn nhân lực có trình độ văn hoá, kỹ năng nghề nghiệp phục vụ
cho xây dựng nông thôn mới.
- Trạm y tế xã: nơi chăm sóc sức khoẻ ban đầu cho cộng đồng dân cư ở nông
thôn. Tuy nhiên, ở nhiều vùng nông thôn hiện nay, trạm y tế xã còn thấp kém, cơ sở
vật chất nghèo nàn, trang thiết bị y tế thiếu thốn, lạc hậu, chưa đáp ứng được yêu
cầu khám chữa bệnh ban đầu và chăm sóc sức khỏe cho nhân dân. Do vậy, việc xây
dựng, cải tạo nâng cấp các trạm y tế xã đạt chuẩn quốc gia là yếu tố mở đường cho
công tác bảo vệ và chăm sóc sức khỏe nhân dân ở nông thôn trong quá trình xây
dựng thôn mới.
- Nhà văn hoá thôn: nông thôn là nơi bảo tồn, lưu truyền và giữ gìn bản sắc
văn hoá dân tộc. Tuy nhiên, hiện nay cơ sở vật chất, thiết chế văn hoá cấp xã còn
Học viện Nông nghiệp Việt Nam – Luận văn Thạc sỹ Khoa học Kinh tế
Page 14
thiếu thốn, số xã có thư viện rất ít, nhà văn hoá còn thô sơ lồng ghép. Do vậy, việc
phát triển nhà văn hóa nông thôn như phát triển các trung tâm văn hóa, trung tâm
sinh hoạt cộng đồng, thư viện… là hết sức cần thiết, góp phần quan trọng vào việc
xây dựng nền văn hóa nông thôn mới bảo tồn và phát huy bản sắc văn hóa dân tộc,
hạn chế và tiến tới xóa bỏ các hoạt động mê tín dị đoan, các hủ tục lạc hậu đã tồn tại
lâu dài ở nông thôn.
Như vậy, huy động nguồn lực cộng đồng cho xây dựng CSHT nông thôn mới
là cách thức tổ chức tuyên truyền, vận động và thuyết phục để người dân và cộng
đồng, doanh nghiệp... tham gia đóng góp công sức, trí tuệ, tiền của... vào xây dựng
các công trình thiết yếu, như: đường giao thông, hệ thống kênh mương, hệ thống
nghiệp hàng hoá và phát triển công nghiệp nông thôn trong xây dựng nông thôn mới
không thể thiếu các công trình thuỷ lợi, mạng lưới giao thông, hệ thống cung cấp
điện, nước, hệ thống thông tin liên lạc, chợ và trung tâm buôn bán... Khi cơ sở hạ
tầng được tạo lập khá đầy đủ và đồng bộ ở nông thôn, các nhà đầu tư sẽ bỏ vốn đầu
tư, do đó sẽ thúc đẩy nông nghiệp, nông thôn phát triển nhanh và mạnh hơn.
Cơ sở hạ tầng nông thôn hoàn thiện và đồng bộ sẽ giúp giảm giá thành sản
xuất, giảm chi phí vận chuyển, chi phí dịch vụ, giảm thiểu rủi ro trong các hoạt động
sản xuất, kinh doanh nông nghiệp và các ngành liên quan trực tiếp tới nông nghiệp,
góp phần thúc đẩy lưu thông hàng hoá. Trong điều kiện hiện nay với xu hướng hội
nhập, nếu thiếu hệ thống thông tin viễn thông, hệ thống ngân hàng hay hệ thống giao
thông hiện đại... thì không thể đạt được mục tiêu phát triển như mong muốn (Phạm
Văn Hùng, 2013).
CSHT nông thôn phát triển sẽ tác động đến sự phát triển khu vực nông
nghiệp và kinh tế nông thôn, tạo môi trường cạnh tranh lành mạnh, tạo điều kiện thu
hút vốn đầu tư cả trong nước và nước ngoài vào thị trường nông nghiệp, nông thôn.
Góp phần tạo việc làm thu hút nguồn lao động dư thừa, tăng thêm thu nhập cho cư
dân ở các vùng nông thôn, nâng cao năng suất lao động, hạ giá thành sản phẩm.
Ngoài ra còn tạo điều kiện cho nông dân tiếp cận được với tiến bộ khoa học kỹ
thuật tiên tiến, tiếp cận được với các dịch vụ chất lượng cao như tín dụng, ngân
hàng, bảo hiểm,...
Cơ sở hạ tầng nông thôn là điều kiện quan trọng tác động tới việc phân bố
lực lượng sản xuất theo lãnh thổ. Phát triển cơ sở hạ tầng nông thôn sẽ tạo điều kiện
phát triển đồng đều giữa các vùng, miền trong cả nước, góp phần thực hiện mục tiêu
tăng trưởng kinh tế gắn với công bằng xã hội. Thực hiện mục tiêu công bằng xã hội
không chỉ thể hiện ở khâu phân phối kết quả mà nó còn thể hiện ở chỗ tạo điều kiện
Học viện Nông nghiệp Việt Nam – Luận văn Thạc sỹ Khoa học Kinh tế
Page 16
- Họ quản lý nguồn tài nguyên như đất đai, nhà xưởng, sản phẩm địa phương
mà quá trình phát triển phải dựa vào đó.
Học viện Nông nghiệp Việt Nam – Luận văn Thạc sỹ Khoa học Kinh tế
Page 17