MỤC LỤC
Lời cam đoan
Lời cảm ơn
Mục lục
Danh mục các từ viết tắt
Danh mục bảng
Danh mục sơ đồ
Danh mục đồ thị
Danh mục hộp
PHẦN I MỞ ĐẦU
1.1
Tính cấp thiết của đề tài
1.2
Mục tiêu nghiên cứu
1.2.1 Mục tiêu chung
1.2.2 Mục tiêu cụ thể
1.3
Câu hỏi nghiên cứu
1.4
Đối tượng nghiên cứu
1.5
Phạm vi nghiên cứu
1.5.1 Phạm vi về nội dung
1.5.2 Phạm vi về không gian
1.5.3 Phạm vi về thời gian
PHẦN II CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN
2.1
Cơ sở lý luận
2.1.1 Một số khái niệm liên quan
2.1.2 Nội dung nghiên cứu chuỗi cung ứng
2.1.3 Những yếu tố ảnh hưởng đến chuỗi cung ứng sản phẩm thịt lợn
4
4
4
4
4
5
5
5
14
29
32
32
36
39
39
39
41
45
45
46
3.2.3 Phương pháp xử lý thông tin
3.2.4 Phương pháp phân tích thông tin
3.2.5 Phương pháp phân tích chuỗi cung ứng
3.2.6 Hệ thống các chỉ tiêu phân tích
PHẦN IV KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU VÀ THẢO LUẬN
4.1
Thực trạng chuỗi cung ứng sản phẩm thịt lợn trên địa bàn huyện
Hương Sơn, tỉnh Hà Tĩnh
PHỤ LỤC
v
48
48
50
51
52
52
52
57
63
85
91
102
102
105
106
108
108
110
114
114
115
115
116
117
119
Hỗ trợ kỹ thuật
HTX
:
Hợp tác xã
KHKT
:
Khoa học kỹ thuật
LĐ
:
Lao động
NN&PTNT
:
Nông nghiệp & Phát triển nông thôn
TSCĐ
:
3.2
Tình hình đất đai của huyện Hương Sơn qua 3 năm 2012 - 2014
44
3.3
Số lượng các tác nhân và người tiêu dùng điều tra
46
4.1
Số lượng lợn qua các năm của huyện
52
4.2
Số lượng lợn thịt qua các năm
53
4.3
Tình hình chế biến thịt lợn trên địa bàn huyện
54
4.9
Nguồn thức ăn sử dụng cho chăn nuôi lợn của các hộ điều tra
69
4.10
Tình hình sử dụng thuốc thú y của các hộ chăn nuôi
70
4.11
Hoạt động cung ứng đầu vào của các hộ chăn nuôi lợn thịt
72
4.12
Kết quả chăn nuôi của các hộ chăn nuôi lợn thịt
73
4.13
Hoạt động cung ứng thịt lợn của hộ thu gom
76
4.19
Kết quả và hiệu quả hoạt động bán lẻ thịt lợn của các hộ điều tra
89
4.20
Kết quả và hiệu quả hoạt động của các hộ chế biến thịt lợn
90
4.21
Mức độ trao đổi thông tin của hộ chăn nuôi với các thành viên
chuỗi cung ứng sản phẩm thịt lợn
vii
91
Số bảng
4.22
Tên bảng
Trang
Sự đánh giá mối quan hệ của hộ chăn nuôi với các tác nhân khác
4.27
Phương tiện vận chuyển sản phẩm của các tác nhân
97
4.28
Tổng hợp kết quả, hiệu quả kinh tế của các tác nhân
98
4.29
Quá trình hình thành giá, giá trị gia tăng qua các kênh phân phối
4.30
thịt lợn tại huyện Hương Sơn
100
Những thuận lợi và khó khăn chủ yếu trong hoạt động của các tác nhân
109
viii
2.5
Hoạt động của các dòng chảy về sản phẩm, thông tin và tài chính
15
2.5
Chuỗi cung ứng giản đơn
17
2.6
Chuỗi cung ứng mở rộng
17
2.7
Dòng chảy trong chuỗi cung ứng
18
2.8
Sơ đồ chuỗi cung ứng sản phẩm thịt lợn
27
59
4.3
Các kênh tiêu thụ trên địa bàn huyện Hương Sơn
60
4.4
Dòng chảy thông tin trong chuỗi cung ứng sản phẩm thịt lợn tại
huyện Hương Sơn – tỉnh Hà Tĩnh
ix
62
DANH MỤC ĐỒ THỊ
Số đồ thị
4.1
Tên đồ thị
Trang
Giá thịt lợn hơi năm 2014
57
x
PHẦN I
MỞ ĐẦU
1.1 Tính cấp thiết của đề tài
Việt Nam là một nước nông nghiệp, với 70% dân số sống trong khu vực
nông thôn và 49% lao động làm nghề nông nghiệp (Tổng cục thống kê 2010).
Trong những năm gần đây nhờ quá trình công nghiệp hoá, hiện đại hóa nông
nghiệp nông thôn, nhờ vào sự chuyển dịch cơ cấu kinh tế, đặc biệt là sự chuyển
dịch cơ cấu trong nội bộ ngành nông nghiệp đã đóng góp một phần không nhỏ
vào tỷ trọng GDP của cả nước. Trồng trọt và chăn nuôi là hai bộ phận chính
trong phát triển của ngành nông nghiệp. Tuy nhiên, với đặc điểm đất đai là tư liệu
sản xuất chủ yếu không thể thay thế, trong điều kiện diện tích đất canh tác ngày càng
giảm và thu hẹp thì việc phát triển ngành trồng trọt sẽ ngày càng gặp nhiều khó
khăn. Vì vậy càng phải quan tâm đến việc phát triển của ngành chăn nuôi.
Ngày nay, chăn nuôi nói chung chăn nuôi lợn nói riêng của nước ta đã và
đang phát triển một cách mạnh mẽ. Theo Bộ Nông nghiệp và phát triển nông
thôn (2014), giá trị sản xuất ngành chăn nuôi năm 2014 theo giá so sánh năm
2010 đạt 151.392 tỷ đồng, tăng 2,3% so với cùng kỳ năm 2013; tỷ trọng chăn
nuôi trong tổng giá trị sản xuất nông nghiệp đạt 24,5%. Tuy nhiên cùng với sự
tăng lên về số lượng là sự đòi hỏi khắt khe về chất lượng thịt lợn của người tiêu
dùng trên thị trường. Một trong những yêu cầu cấp bách đó là tổ chức lại ngành
chăn nuôi lợn thịt một cách có hiệu quả nhất. Chăn nuôi có xu hướng chuyển dần
từ quy mô chăn nuôi nhỏ lẻ sang quy mô tập trung dưới hình thức các trang trại,
gia trại ở hầu hết các vùng miền trong cả nước nhằm đáp ứng được nhu cầu ngày
càng cao của thị trường.
Trong điều kiện sản xuất hàng hóa hiện nay, các ngành kinh tế đều hướng
theo sự đáp ứng tối đa nhu cầu khách hàng và còn tạo ra nhu cầu để đáp ứng cho
chính là hoạt động của chuỗi cung ứng sản phẩm. Như vậy việc nghiên cứu
chuỗi cung ứng ứng sản phẩm thịt lợn sẽ góp phần hạn chế mặt lỏng lẻo và
chuyển dần sang mối liên kết chặt chẽ tạo nên chuỗi cung ứng có hiệu quả cho
các thành phần trong chuỗi cung ứng.
Xuất phát từ những vấn đề trên, tôi tiến hành thực hiện nghiên cứu đề tài:
“Nghiên cứu chuỗi cung ứng sản phẩm thịt lợn trên địa bàn huyện Hương
Sơn, tỉnh Hà Tĩnh”.
2
1.2 Mục tiêu nghiên cứu
1.2.1 Mục tiêu chung
Đánh giá thực trạng chuỗi cung ứng sản phẩm thịt lợn trên địa bàn
huyện Hương Sơn, tỉnh Hà Tĩnh; từ đó đề xuất một số giải pháp hoàn thiện
chuỗi cung ứng thịt lợn trên địa bàn huyện Hương Sơn, tỉnh Hà Tĩnh.
1.2.2 Mục tiêu cụ thể
(1) Góp phần hệ thống hóa cơ sở lý luận và thực tiễn về chuỗi cung ứng,
chuỗi cung ứng sản phẩm thịt lợn;
(2) Đánh giá thực trạng chuỗi cung ứng sản phẩm thịt lợn trên địa bàn
huyện Hương Sơn, tỉnh Hà Tĩnh;
(3) Phân tích những yếu tố ảnh hưởng đến chuỗi cung ứng sản phẩm thịt
lợn trên địa bàn huyện Hương Sơn, tỉnh Hà Tĩnh;
(4) Đề xuất một số giải pháp chủ yếu nhằm hoàn thiện chuỗi cung ứng sản
phẩm thịt lợn trên địa bàn huyện Hương Sơn, tỉnh Hà Tĩnh.
1.3 Câu hỏi nghiên cứu
(1) Chuỗi cung ứng là gì? Đặc điểm của chuỗi cung ứng như thế nào? Tại
sao phải quản trị chuỗi cung ứng?
(2) Cấu trúc và hoạt động của chuỗi cung ứng sản phẩm thịt lợn như thế nào?
(3) Thực trạng chuỗi cung ứng sản phẩm thịt lợn?
4
PHẦN II
CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN
2.1 Cơ sở lý luận
2.1.1 Một số khái niệm liên quan
2.1.1.1 Chuỗi cung ứng
Chuỗi cung ứng là một giai đoạn phát triển của lĩnh vực Logistics (hậu cần).
Ban đầu, logistics được sử dụng như một từ chuyên môn trong quân đội, được hiểu
với nghĩa là công tác hậu cần. Đến cuối thế kỷ 20, Logistics được ghi nhận như là
một chức năng kinh doanh chủ yếu, mang lại thành công cho các công ty cả trong
khu vực sản xuất lẫn trong khu vực dịch vụ. Ủy ban kinh tế và xã hội châu Á Thái
Bình Dương (Economic and Social Commission for Asia and the Pacific – ESCAP,
2011) ghi nhận Logistics đã phát triển qua ba giai đoạn:
- Giai đoạn 1: Phân phối (Distribution)
Đó là quản lý một cách có hệ thống các hoạt động liên quan với nhau
nhằm đảm bảo cung cấp sản phẩm, hàng hóa cho khách hàng một cách hiệu quả
nhất. Giai đoạn này bao gồm các hoạt động nghiệp vụ sau: Vận tải, phân phối,
bảo quản hàng hóa, quản lý kho bãi, bao bì, nhãn mác, đóng gói.
- Giai đoạn 2: Hệ thống Logistics
Giai đoạn này có sự phối kết hợp công tác quản lý của cả hai mặt trên vào
cùng một hệ thống có tên là Cung ứng vật tư và Phân phối sản phẩm.
- Giai đoạn 3: quản trị dây chuyền cung ứng
Theo Ủy ban kinh tế và xã hội châu Á Thái Bình Dương (ESCAP) thì đây là
khái niệm mang tính chiến lược về quản trị chuỗi quan hệ từ nhà cung cấp nguyên
liệu – đơn vị sản xuất – đến người tiêu dùng. Khái niệm quản trị dây chuyền chú
trọng việc phát triển các mối quan hệ với đối tác, kết hợp chặt chẽ giữa nhà sản
xuất với nhà cung cấp, người tiêu dùng và các bên liên quan như các công ty vận
Có rất nhiều định nghĩa về chuỗi cung ứng:
Theo Thomas Friedmann (2014), tác giả cuốn “Thế giới phẳng” thì chuỗi
cung ứng là nghệ thuật và khoa học của sự cộng tác nhằm đem lại những sản
phẩm và dịch vụ tốt nhất cho người tiêu dùng. “Chuỗi cung ứng là mạng lưới các
tổ chức tham gia vào dòng vận động của nguồn tài nguyên đầu vào, các dòng vật
chất được chuyển hóa, dòng tài chính và dòng thông tin từ nhà cung cấp đầu tiên
đến tay người tiêu dùng cuối cùng”.
6
Theo Nguyễn Công Bình (2008) trong cuốn giáo trình Quản lý chuỗi cung
ứng: Chuỗi cung ứng bao gồm tất cả các doanh nghiệp tham gia, một cách trực
tiếp hay gián tiếp, trong việc đáp ứng nhu cầu khách hàng. Chuỗi cung ứng
không chỉ bao gồm các nhà sản xuất và nhà cung cấp, mà còn công ty vận tải,
nhà kho, nhà bán lẻ và khách hàng của nó.
Bên trong mỗi tổ chức, chẳng hạn nhà sản xuất, chuỗi cung ứng bao gồm
tất cả các chức năng liên quan đến việc nhận và đáp ứng nhu cầu khách hàng.
Những chức năng này bao gồm, nhưng không bị hạn chế, phát triển sản phẩm
mới, marketing, sản xuất, phân phối, tài chính và dịch vụ ngân hàng. Trong một
chuỗi cung ứng điển hình, nguyên vật liệu được mua ở một hoặc nhiều nhà cung
cấp, các bộ phận được sản xuất ở một nhà máy hoặc nhiều hơn, sau đó vận
chuyển đến nhà kho để lưu trữ ở giai đoạn trung gian và cuối cùng đến nhà bán lẻ
và khách hàng.
Chuỗi cung ứng cũng được xem như mạng lưới hậu cần, bao gồm các nhà
cung cấp, các trung tâm sản xuất, nhà kho, các trung tâm phân phối, các cửa hàng
bán lẻ, cũng như nguyên vật liệu, tồn kho trong quá trình sản xuất và sản phẩm
hoàn thành dịch chuyển giữa các cơ sở.
Sơ đồ 2.1 Chuỗi cung ứng điển hình
Từ các quan điểm của các nhà nhiên cứu nổi tiếng nêu trên, chúng tôi thấy:
+ Chuỗi cung ứng bao gồm tất cả các đơn vị sản xuất kinh doanh tham gia
trực tiếp hoặc gián tiếp trong việc phục vụ nhu cầu khách hàng.
+ Chuỗi cung ứng không chỉ bao gồm nhà sản xuất, nhà cung ứng mà còn
liên quan đến vận chuyển, nhà kho, nhà bán lẻ và khách hàng.
+ Hoạt động của các tác nhân trong chuỗi tuy phức tạp và khác nhau
nhưng các thành viên luôn thống nhất về mục đích là phục vụ nhu cầu của khách
hàng, coi khách hàng là trung tâm của các hoạt động.
a. Quản trị chuỗi cung ứng
Quản trị chuỗi cung ứng là việc kiểm soát vật tư, thông tin, và tài chính
trong quá trình các yếu tố này dịch chuyển từ nhà cung ứng đến người sản xuất
đến người tiêu dùng cuối cùng. Quản trị chuỗi cung liên quan đến việc điều phối
và hợp nhất các dòng dịch chuyển này bên trong một doanh nghiệp và giữa các
doanh nghiệp với nhau. Mục đích quan trọng nhất của các hệ thống quản trị
chuỗi cung ứng nhằm làm giảm số lượng hàng hóa lưu kho.
Michael Hugos trong cuốn “Essential of supply chain management” định
nghĩa quản lý chuỗi cung ứng là sự phối hợp của sản xuất, tồn kho, địa điểm và
vận chuyển giữa các thành viên trong chuỗi cung ứng nhằm đáp ứng nhanh và
hiệu quả các nhu cầu của thị trường. Không chỉ bao gồm các hoạt động như thu
mua, phân phối, bảo trì, quản lý tồn kho mà chuỗi cung ứng có marketing, phát
triển sản phẩm mới, tài chính và dịch vụ khách hàng.
Cũng có những định nghĩa khác nhau như quản trị chuỗi cung ứng là việc kết
hợp một cách hệ thống, chiến lược các chức năng kinh doanh truyền thống và sách
lược giữa các chức năng kinh doanh đó trong phạm vi một công ty và giữa các công
ty trong chuỗi cung ứng nhằm mục đích cải thiện kết quả lâu dài của từng công ty và
toàn bộ chuỗi cung ứng (Mebtzer et al., 2001).
Theo Hartmurt và Christoph quản trị chuỗi cung ứng là chiến thuật kết
hợp các tổ chức đơn vị dọc chuỗi cung ứng và phối hợp dòng nguyên vật liệu,
9
- Sản xuất;
- Đóng gói;
- Vận
chuyển.
Sản
xuất
Phân
phối
Tiêu
thụ
Marketing
Tiêu dùng
và tái chế
Sơ đồ 2.3 Sự liên kết tác nhân trong chuỗi giá trị giản đơn
( Nguồn: R. Kapliusky, M. Morris, 2013)
10
- Chuỗi giá trị mở rộng: Theo Michael Porter (1985), chuỗi giá trị mở
rộng bao gồm các hoạt động chính và các hoạt động bổ trợ tạo nên lợi thế cạnh
tranh. Các hoạt động chính là các hoạt động hướng tới chuyển đổi về mặt vật lý
của sản phẩm và quản lý sản phẩm từ khâu sản xuất đến kết thúc để cung cấp cho
khách hàng. Các hoạt động bổ trợ thường là xây dựng cơ sở vật chất, bồi dưỡng
quan hệ móc xích với nhau. Sự tăng lên hay giảm đi của yếu tố này có thể ảnh
hưởng tích cực hay tiêu cực tới các yếu tố khác. Trong quá trình vận hành của
một ngành hàng đã tạo ra sự dịch chuyển các luồng vật chất trong ngành hàng đó.
Phân tích chuỗi giá trị hỗ trợ phân tích nghành hàng. Đưa ra các yếu tố mới
tăng cường khả năng phân tích ngành hàng. Phân tích nghành hàng là tìm xu hướng
và đặc điểm của thị trường, xem xét quan hệ các bên tham gia, xác định cơ hội và
thách thức và đặc biệt vẽ được bản đồ mối liên hệ giữa các bên tham gia. Phân tích
chuỗi giá trị xem xét cấu trúc phân bổ các bên tham gia, so sánh khả năng cạnh
tranh, quan hệ giữa các bên tham gia và nhằm quản trị thị trường.
2.1.1.2 Các khái niệm có liên quan
a. Sản phẩm
Theo K. Mark thì sản phẩm là kết quả của quá trình lao động dùng để
phục vụ cho việc làm thỏa mãn nhu cầu của con người. Trong nền kinh tế thị
trường, người ta quan niệm sản phẩm là bất cứ cái gì đó có thể đáp ứng nhu cầu
thị trường và đem lại lợi nhuận
Trong ngành hàng, mỗi tác nhân đều tạo ra sản phẩm riêng của mình. Trừ
những sản phẩm bán lẻ cuối cùng, sản phẩm của mọi chức năng khác chưa phải
là sản phẩm cuối cùng của ngành hàng mà chỉ là kết quả của hoạt động kinh tế, là
“đầu ra” của quá trình sản xuất kinh doanh của từng tác nhân. Sản phẩm của tác
nhân trước là chi phí trung gian của các tác nhân kề sau nó. Chỉ có sản phẩm của
tác nhân cuối cùng trước khi đến tay người tiêu dùng mới là sản phẩm cuối cùng
của ngành hàng (Nguyễn Thị Thúy Vinh, 2013). Chủng loại sản phẩm khá đa
dạng, nên trong phân tích ngành hàng thường chỉ phân tích sự vận hành của các
sản phẩm chính.
b. Tác nhân
Theo Lê Văn Gia Nhỏ (2005) thì tác nhân là một tế bào sơ cấp với các
hoạt động kinh tế, độc lập và tự quyết định hành vi của mình. Có thể hiểu rằng,
tác nhân là những hộ, những doanh nghiệp, những cá nhân tham gia trong ngành
12
đó có ý nghĩa lớn trong quá trình tổ chức và phát triển sản xuất vì sự luân chuyển
của luồng vật chất qua từng tác nhân trong các luồng hàng đã làm cho mọi tác
13
nhân trong ngành hàng trở thành người sản xuất sản phẩm hàng hoá (Nguyễn
Kim Anh, 2010).
2.1.2 Nội dung nghiên cứu chuỗi cung ứng
2.1.2.1 Cấu trúc hoạt động chuỗi cung ứng
Xét trên góc độ tổ chức, hoạt động của chuỗi cung ứng thể hiện qua sơ đồ sau :
Sơ đồ 2.4 Các hoạt động của chuỗi cung ứng
(Nguồn: Nguyễn Công Bình, 2008)
Bức tranh đơn giản nhất của chuỗi cung ứng là khi chỉ có một sản phẩm
dịch chuyển qua một loạt các tổ chức, và mỗi tổ chức tạo thêm một phần giá trị
cho sản phẩm. Lấy một tổ chức nào đó trong chuỗi làm qui chiếu, nếu xét đến
các hoạt động trước nó - dịch chuyển nguyên vật liệu đến - được gọi là ngược
dòng; những tổ chức phía sau doanh nghiệp dịch chuyển vật liệu ra ngoài - được
gọi là xuôi dòng.
Các hoạt động ngược dòng được dành cho các các nhà cung cấp. Một nhà
cung cấp dịch chuyển nguyên vật liệu trực tiếp đến nhà sản xuất là nhà cung cấp
cấp một; nhà cung cấp đảm nhiệm việc dịch chuyển nguyên vật liệu cho nhà
cung cấp cấp một được gọi là nhà cung ứng cấp hai, cứ ngược dòng như vậy sẽ
đến nhà cung cấp cấp ba rồi đến tận cùng sẽ là nhà cung cấp gốc. Khách hàng
cũng được phân chia thành từng cấp.
Xét quá trình cung cấp xuôi dòng, khách hàng nhận sản phẩm một cách
trực tiếp từ nhà sản xuất là khách hàng cấp một, khách hàng nhận sản phẩm từ
khách hàng cấp một chính là khách hàng cấp hai, tương tự chúng ta sẽ có khách
hàng cấp ba và tận cùng của dòng dịch chuyển này sẽ đến khách hàng cuối cùng.
- Theo dòng sản phẩm là dòng tài chính bao gồm giá cả, chi phí, lợi nhuận
của từng thành viên và toàn chuỗi.
- Dòng thông tin cho biết nhu cầu sản phẩm, phân phối, quảng bá và giới
thiệu sản phẩm..
Từ nguồn thông tin về nhu cầu của từng thành viên trong chuỗi cung ứng,
các dòng chảy trong chuỗi được bắt đầu từ nhà cung ứng các yếu tố đầu vào sản
xuất cho các nhà sản xuất. Người sản xuất cung cấp sản phẩm cho nhà phân phối ;
các nhà bán lẻ phân phối sản phẩm tới các khách hàng cuối cùng. Đến đây khách
hàng thanh toán và hoạt động của chuỗi tạo lập được giá trị, tạo lợi nhuận và phân
phối lại cho các thành viên trong chuỗi. Đồng thời có sự phản hồi thông tin của các
thành viên trong chuỗi. Các dòng chảy cứ liên tục như vậy trong chuỗi cung ứng tạo
thành một hệ thống có liên kết chặt chẽ.
15
2.1.2.2 Đặc điểm của chuỗi cung ứng
Mỗi chuỗi cung ứng khác nhau đáp ứng những nhu cầu khác nhau của thị
trường nhưng bất kỳ chuỗi cung ứng nào các công ty trong đó cũng cần trả lời
những câu hỏi cơ bản về sản xuất, hàng tồn kho, địa điểm, vận chuyển, thông tin.
Đây được gọi là những yếu tố dẫn dắt chuỗi cung ứng.
Về sản xuất: Thị trường cần có sản phẩm gì? Sản phẩm được sản xuất khi
nào và số lượng bao nhiêu?
Về tồn kho: Hàng tồn kho nào sẽ được tồn trữ ở mỗi giai đoạn trong chuỗi
cung ứng? Mức tồn kho là bao nhiêu nguyên vật liệu, bán thành phẩm và thành
phẩm? Xác định mức độ tồn kho và điểm tái đặt hàng tốt nhất là bao nhiêu?
Về địa điểm: Nơi nào có điều kiện thuận lợi trong sản xuất và tồn trữ hàng
hóa? Nơi nào có hiệu quả nhất về chi phí trong việc sản xuất và tồn trữ hàng hóa?
Nên sử dụng những điều kiện thuận lợi sẵn có hay tạo ra điều kiện thuận lợi mới?
Về vận chuyển: Vận chuyển sản phẩm bằng phương tiện nào là hợp nhất
khác đó là nhà cung cấp của các nhà cung cấp, khách hàng của khách hàng, và toàn
bộ các công ty cung cấp dịch vụ cho các công ty trong chuỗi cung ứng. Các công
ty cung cấp dịch vụ này sẽ cung cấp dịch vụ hậu cần, tài chính, tìm hiểu thị
trường, thiết kế sản phẩm và công nghệ thông tin cho các công ty khác trong
chuỗi cung ứng.
Nhà cung
ứng chuỗi
Nhà sản
xuất
Công ty
Khách
hàng
Nhà cung cấp
dịch vụ
Khách
hàng
cuối
cùng
Dịch vụ cung cấp thuộc
các lĩnh vực như:
- Hậu cần
- Tài chính
-Nghiên cứu thị trường
- Thiết kế sản phẩm
cấp
Sản lượng, kế hoạch, quảng bá, phân phối
Nguyên liệu thô, bán thành phẩm, sản phẩm
Ký gửi, thanh toán, hóa đơn (phiếu nhập)
Nhà sản
xuất
Nhà phân
phối
Nhà bán lẻ
Lượng bán, đặt hàng, tồn kho, chất lượng, quảng bá
Trả lại, sửa chữa, bảo dưỡng, tái chế, loại bỏ
Thanh toán, trả chậm
Khách hàng
Thông tin
Sản phẩm
Tài chính
Sơ đồ 2.7 Dòng chảy trong chuỗi cung ứng
(Nguồn: Lee, 2000)
Chuỗi cung ứng là năng động và liên quan đến dòng thông tin nhất định, sản
phẩm và tài chính giữa các giai đoạn khác nhau. Qua sơ đồ 2.7 có thể thấy dòng
thông tin, nguyên vật liệu và tài chính sẽ luân chuyển trong toàn chuỗi cung ứng.