TRƯỜNG ĐẠI HỌC KINH TẾ HUẾ
HỌC PHẦN: MARKETING CĂN BẢN (N06)
LỚP: K44B QTKD THƯƠNG MẠI
----------
ĐỀ TÀI
TÌM HIỂU CHUỖI CUNG ỨNG SẢN PHẨM RAU XANH
TRÊN ĐỊA BÀN THÀNH PHỐ HUẾ
Giáo viên hướng dẫn:
Phan Thị Thanh Thủy
Nhóm 11:
Huế, 03/2012
Mục Lục
I. Giới thiệu chung
Thừa Thiên Huế là một vùng đất chịu thường xuyên chịu ảnh hưởng nặng nề bởi thiên tai
và khí hậu khắc nghiệt. Trong những năm trở lại đây, cùng với sự đa dạng hoá về hệ thống
đất canh tác đang diễn ra ở cả nước, người nông dân trồng lúa ở Huế cũng đang dần chuyển
đổi thế độc canh cây lúa sang trồng một số loại cây rau màu ngắn ngày nhằm tạo ưu thế cạnh
tranh và nâng cao năng suất cho sản phẩm nông nghiệp và cải thiện đời sống kinh tế hộ gia
đình (lợi nhuận từ trồng rau thường cao hơn lúa 2 - 4 lần). Tuy nhiên, ngành sản xuất rau ở
Huế chỉ mới nhắm đến phục vụ thị trường tại thành phố Huế và tỉnh Thừa Thiên Huế là chủ
yếu.
Song song với sự tăng trưởng sản lượng rau, người tiêu dùng ngày càng quan tâm đến
chất lượng và an toàn thực phẩm. Hàng ngày trên phương tiện thông tin đại chúng cho thấy
nhiều trường hợp ngộ độc xảy ra do ăn rau có chứa dư lượng độc chất cao.
•
Nhà sản xuất: là các tổ chức sản xuất ra sản phẩm, bao gồm những công ty sản xuất nguyên
vật liệu và sản xuất thành phẩm.
•
Nhà phân phối: là những công ty tồn trữ hàng với số lượng lớn từ nhà sản xuất và phân phối
sản phẩm đến khách hàng.
•
Nhà bán lẻ: tồn trữ sản phẩm và bán cho khách hàng với số lượng nhỏ hơn.
•
Nhà cung cấp dịch vụ: là những tổ chức cung cấp dịch vụ cho nhà sản xuất, nhà phân phối,
nhà bán lẻ và khách hàng.
2. Cấu trúc của chuỗi cung ứng
Bức tranh đơn giản nhất của chuỗi cung ứng là khi chỉ có một sản phẩm dịch chuyển qua
một loạt các tổ chức, và mỗi tổ chức tạo thêm một phần giá trị cho sản phẩm. Lấy một tổ
chức nào đó trong chuỗi làm qui chiếu, nếu xét đến các hoạt động trước nó - dịch chuyển
nguyên vật liệu đến - được gọi là ngược dòng; những tổ chức phía sau doanh nghiệp- dịch
chuyển vật liệu ra ngoài - được gọi là xuôi dòng.
Các hoạt động ngược dòng được dành cho các các nhà cung cấp. Một nhà cung cấp dịch
chuyển nguyên vật liệu trực tiếp đến nhà sản xuất là nhà cung cấp cấp một; nhà cung cấp đảm
còn 12. Tóm lại, lợi ích của chuỗi cung ứng được thiết kế tốt:
• Khỏa lấp một cách hữu hiệu khoảng trống giữa nguồn cung với nhu cầu cuối cùng
• Nhà sản xuất bố trí cơ sở sản xuất tại vị trí tốt nhất, bất kể đến vị trí của khách hàng
• Thông qua việc tập trung hoạt động sản xuất ở một cơ sở lớn, nhà sản xuất hưởng lợi từ
tính kinh tế nhờ quy mô.
• Nhà sản xuất không cần lưu trữ số lượng lớn sản phẩm hoàn thành, các thành tố ở gần
khách hàng sẽ thực hiện việc lưu trữ này.
• Nhà bán sỉ đặt các đơn hàng lớn, và nhà sản xuất chiết khấu giá cho nhà bán sỉ làm cho
chi phi đơn vị giảm
• Nhà bán sỉ giữ nhiều loại sản phẩm tồn kho từ nhiều nhà sản xuất, cung cấp đa dạng sự
lựa chọn cho khách hàng bán lẻ
• Nhà bán sỉ ở gần nhà bán lẻ vì thế thời gian giao hàng ngắn
• Nhà bán lẻ lưu trữ tồn kho thấp khi nhà bán sỉ cung cấp hàng một cách tin cậy.
• Nhà bán lẻ kinh doanh ít hàng hóa với quy mô hoạt động nhỏ nên phục vụ khách hàng
một cách nhanh chóng hơn
• Tổ chức có thể phát triển chuyên môn trong một loại hoạt động hoặc chức năng kinh
doanh cụ thể.
III. Tổng quan về thành phố Huế và sản xuất rau
1. Tổng quan về thành phố Huế
•
Huế nằm ở dải đất hẹp của miền Trung Việt Nam và là thành phố tỉnh lỵ của Thừa Thiên Huế. Nằm tựa lưng vào dãy núi Trường Sơn, khu vực thành phố Huế là đồng bằng thuộc
vùng hạ lưu sông Hương và sông Bồ, có độ cao trung bình khoảng 3 - 4 m so với mực nước
biển và thường bị ngập lụt khi đầu nguồn của sông Hương (trên Dãy trường Sơn) xảy ra mưa
vừa và lớn.
•
Huế có sự ngoại lệ về khí hậu so với vùng Bắc Bộ và Nam Bộ, vì nơi đây khí hậu khắc nghiệt
Người dân Thành Trung bên luống xà lách xanh tốt.
Người dân Thành Trung thu hoạch rau
•
Huyện Hương Trà: xã Hương An và Hương Chữ là 2 xã trồng rau chính của huyện
Về qui mô diện tích trồng rau của các hộ hầu hết đều nhỏ, chủ yếu là tận dụng đất trồng
lạc của vụ hè thu sang trồng rau, chỉ có một số ít vùng do đưa được nước tưới vào nên trồng
chuyên rau, tuy nhiên diện tích này chiếm rất nhỏ.
Bảng 2. Qui mô trồng rau của các hộ
Diện tích
(m2)
Xã Hương An
Tỷ lệ
Số hộ
(%)
10
33
÷ 250 – 500
÷
12
>500,1000
8
Huyện Phú Vang: Là một địa phương có thế mạnh về sản xuất nông nghiệp
Vụ Đông Xuân năm 2011 - 2012, bà con nông dân trên địa bàn huyện Phú Vang đã gieo
trồng hơn 2790 ha rau, củ, quả các loại trong đợt Tết Nguyên đán, chủ yếu tập trung nhiều ở
các xã như Vinh Xuân, Vinh Thanh, phú Dương , Phú Mậu , Phú Mỹ …bà con đã thu hoạch
các diện tích đã gieo trồng trước tết để bán phục vụ người dân trong dịp tết, đến nay tranh
thủ thời tiết rất thuận lợi bà con nông dân trên địa bàn tiếp tục triển khai sản xuất, đa dạng
hoá các loại rau, củ, quả đáp ứng nhu cầu của thị trường.Bên cạnh đó, người dân còn tăng
cường thâm canh xen vụ, đảm bảo cung cấp liên tục nhu cầu sử dụng rau xanh cho người
tiêu dùng.
+ Tình hình sản xuất rau an toàn:
Năm 2009, thông qua một số các đề tài, dự án, chương trình của Trung tâm Khuyến
Nông Lâm Ngư, của trường Đại học Nông Lâm Huế, và một số tổ chức khác, một số mô
hình sản xuất rau an toàn đã được triển khai tại các địa phương như: HTX Hương Long - TP
Huế ( 0,5ha), HTX Kim Thành - Quảng Thành (1,1 ha), HTX Hương Chữ -Hương Trà (1
ha),…
Từ năm 2009 đến nay, các dự án được ngân sách Trung ương và ngân sách tỉnh Thừa
Thiên Huế đầu tư hỗ trợ như dự án “Xây dựng mô hình ứng dụng các sản phẩm công nghệ
sinh học để tổ chức sản xuất rau an toàn theo hướng VietGAP tại huyện Quảng Điền, tỉnh
Thừa Thiên Huế” do Phòng Nông nghiệp và Phát triển nông thôn huyện Quảng Điền chủ trì
thực hiện với diện tích 3,4 ha; 6 loại rau: cải xanh, xà lách, cải cúc, rau thơm, rau má và
mướp đắng, được thực hiện tại 2 xã Quảng Thành và Quảng Thọ; dự án “Hỗ trợ phát triển
rau an toàn” do truờng Đại học Nông Lâm Huế chủ trì với quy mô diện tích là 2,4208 ha
thực hiện tại các HTX Hương Long và Hương An. Đến nay đã cho một số kết quả khả quan.
Tính đến nay đã có 5 đơn vị được Sở Nông nghiệp và Phát triển nông thôn tỉnh Thừa
Thiên Huế cấp giấy đủ điều kiện sản xuất kinh doanh rau quả an toàn, cụ thể như sau:
Rau cải, hành lá, xà
lách, kiệu, rau thơm
Xà lách, hành hoa,
kiệu, dền đỏ, rau
thơm...
Rau cải, hành lá, xà
lách, kiệu, nưa, paro
Số QĐ-ngày
577/ QĐ-NNPTNT
ngày 11/8/2010
576/ QĐ-NNPTNT
ngày 11/8/2010
737/ QĐ-NNPTNT
ngày 7/10/2010
05/ QĐ-NNPTNT
ngày 06/01/2010
768/QĐ-NNPTNT
ngày 03/12/2010
6,8958 ha
(Nguồn Sở NN &PTNT tỉnh Thừa Thiên Huế)
IV. Chuỗi cung ứng rau hiện tại tại thành phố Huế
Thành phố Huế là một thị trường tiêu thụ rau lớn với hệ thống các chợ, siêu thị lớn; bên
cạnh đó Huế là một thành phố du lịch nên nhu cầu về rau xanh mà đặc biệt là rau an toàn là
rất lớn.
thực sự an tâm về đầu ra vì chi phí cho rau an toàn cao, đầu tư nhiều (nhà lưới, phân bón v.v.)
lại ít có nơi thu mua, cũng như chưa có các cửa hàng chuyên biệt bán rau an toàn để tiêu thụ
được sản phẩm (như tại TP. Hồ Chí Minh) hoặc xuất khẩu số lượng lớn (như Đà Lạt) khiến
rau an toàn vẫn còn được sản xuất với sản lượng thấp, chủ yếu phục vụ các siêu thị trên địa
bàn khu vực (Big C, Coopmart, Thuận Thành) hoặc cửa hàng do ngành nông nghiệp địa
phương tổ chức.
Hiện nay các hộ nông dân Huế đang trồng nhiều các loại rau ăn lá, rau gia vị (rau thơm,
ngò rí, cải bẹ xanh, xà lách, rau muống,…) trên những khu đất dành riêng và các loại rau ăn
trái (dưa hấu, dưa leo, khổ qua, bí đỏ, bí đao, cà chua, cà phổi, ớt, đậu đũa,…) luân canh với
cây lúa (2 lúa 1 rau). Mỗi năm, các hộ nông dân trồng trung bình luân phiên trên cùng diện
tích từ 2 đến 5 loại rau (mùa vụ), mỗi loại cách nhau khoảng 1 tháng (rau lá), có khi 2 - 3
tháng (rau củ, quả). Mùa vụ trồng rau chính là Đông Xuân (tháng 11 đến tháng 2), bất lợi
nhất là tháng Thu Đông (tháng 9 - 11) mưa dầm, có khi bão lũ càn quét, mất trắng. Lợi nhuận
đạt trung bình từ 20 - 30 triệu đồng/1 ha/vụ.
Sau đây sẽ là chi tiết các thành phần tham gia chuỗi cung ứng rau xanh thành phố
Huế:
1. Hộ nông dân:
Chợ đầu mối
Chợ lẻ
Nông dân
Hợp tác xã/ thương lái
Cty, Cửa hàng cung ứng rau quả hoặc chế biến
Quy trình thu hoạch: Mỗi một loại rau cũng có qui trình thu hoạch riêng phụ thuộc rất
nhiều vào phương thức tiêu thụ (bán kg hay bán mão), và người tiêu thụ (nông dân hay
thương lái), nhưng khá đơn giản.
Hái nhổ Sơ chế Phân loại Đóng gói Tồn trữ/Bảo quản
• Tiêu thụ: Hình thức bán mão chiếm phổ biến trong phương thức giao dịch của
nông dân Huế. Người nông dân bán rau thường đến nhà thương lái thông báo số
lượng rau có thể thu hoạch ngày hôm đó. Nếu thương lái đồng ý thì người nông
dân thu hoạch sẵn xếp vào các bội hoặc túi ni lông. Đây là hình thức được nông dân
ưa chuộng vì lượng sản phẩm bán ra thường được tiêu thụ hết bất kể chất lượng sản
phẩm đồng đều hay không
• Khách hàng và giao dịch: Khách hàng chính của nông dân là thương lái, chủ yếu là
thương lái quen lâu năm, chuyên nghiệp, có uy tín “thoả thuận giá cả”. Bên cạnh đó,
nông dân cũng có bán cho các thương lái lạ, nhưng thường yêu cầu đặt cọc
trước. Điểm mà nông dân không hài lòng nhất về thương lái là hay bị ép giá khi giá
thị trường biến động, ngay cả khi đã được thoả thuận trước (bằng miệng). Một
lượng nhỏ sản phẩm rau được nông dân bán cho các đại lý để bán lẻ ở địa phương
hoặc nông dân tự bán lẻ rau ở chợ cho người tiêu dùng nhưng giá bán không được
cao.
•
Ngoài ra còn có Hợp tác xã của địa phương bao tiêu rau an toàn cho nông dân, chủ yếu
bán rau cho siêu thị (Big C, Coopmart,…). Do số lượng đặt hàng của siêu thị ít, trong khi
hộ nông dân trồng nhiều, dẫn đến nhiều khi cung vượt quá cầu. Do vậy, một lượng lớn
rau an toàn này nông dân phải tiêu thụ lẻ bên ngoài với giá thấp hơn.
Thương hiệu, nhãn hiệu: Đến nay chưa có nhãn hiệu sản phẩm rau của người nông dân,
Hợp tác xã ở Huế bán cho siêu thị, vẫn mang nhãn hàng của siêu thị. Đây cũng là khó khăn
đối với những hộ nông dân trồng rau. Họ rất mong muốn có chứng nhận nhãn hiệu riêng
cho mình để có thể kiểm soát giá cả sản phẩm, quảng bá rộng rãi hơn và được người tiêu
HTX Hương Long (TP Huế).
Quy mô hoạt động:
Nhìn chung quy mô hoạt động của các hợp tác xã rau an toàn là nhỏ do chỉ hoạt động
trong khu vực của mình. Các hợp tác xã tiêu thụ bình quân 15 – 20 tấn/tháng.
Phương thức thu mua:
Thương lái thường thu mua từ nông dân trên cùng khu vực (mua quanh năm). Theo đơn
đặt hàng của nơi tiêu thụ, họ hợp đồng lại với người sản xuất bằng cam kết đặt hàng (ràng
buộc bằng tín chấp, sổ theo dõi, không cần thủ tục) về chủng loại, số lượng; riêng giá cả phụ
thuộc vào biến động của thị trường. Sau đó thu mua và cung ứng cho các đơn vị đặt hàng.
Hợp tác xã thì thu mua tại điểm sơ chế của mình. Nông dân tự mang đến và hàng đã tự
sơ chế.
• Khách hàng
Khách hàng của Hợp tác xã thường là các siêu thị, các bếp ăn tập thể, nhà trẻ, bệnh viện,
trường học.... Lựơng khách hàng ít do tính chủ động tiếp thị thấp. Hầu hết do giới thiệu và
khách hàng tự tìm tới.
Khách hàng của thương lái rất đa dạng, từ người bán lẻ ở chợ đến các nhà bán buôn ở chợ
đầu mối, đến các nhà hàng, khách sạn. Tuy nhiên, các thương lái ở Huế chủ yếu tập trung thu
mua và cung cấp rau cho các chợ đầu mối, trong đó lớn nhất là chợ đầu mối Phú Hậu (chợ
Bãi Dâu)
+ Chợ đầu mối Phú Hậu (hay còn được gọi là chợ Bãi Dâu) nằm cách trung tâm TP Huế
chừng 5km. Đây là một trong những chợ đầu mối về rau củ lớn nhất tại Huế. Phần lớn các
mặt hàng được bày bán tại đây đều do những người lái buôn chuyên thu gom rau củ quả tại
các địa phương trong địa bàn tỉnh rồi mang về đây bán sỉ, phân phối cho các chợ nhỏ trong
thành phố. Cũng có nhiều người là nông dân, đem chính sản phẩm mà mình trồng lên bán
trực tiếp, không thông qua trung gian.
Làng rau Thành Trung, xã Quảng Thành, huyện Quảng Điền là nguồn cung cấp phần lớn
rau xanh cho chợ này.
3. Người bán lẻ / siêu thị
cho các khách sạn, nhà hàng, căng tin, các nhà trẻ....cùng mục đích phục vụ cho người tiêu
dùng cuối cùng.
Do các khách hàng khác nhau nên yêu cầu sơ chế, quy cách đóng gói sản phẩm cũng
khác nhau. Nhìn chung khi giao hàng cho các đơn vị như nhà trẻ, căng tin, nhà hàng rau đều
phải được sơ chế sẵn, sạch sẽ.
-
Phương thức giao dịch và hợp đồng
Phương thức giao dịch phổ biến giữa người bán lẻ với nông dân thông qua hợp đồng
miệng.
Đối với các siêu thị, khi thu mua rau thì ký kết hợp đồng với nơi cung ứng.
Khi giao dịch với các khách hàng lớn người bán lẻ cũng có kí hợp đồng. Ví dụ khi giao
dịch với nhà trẻ, công ty.
4. Người tiêu dùng (end-users)
+ Quan niệm và thái độ của người tiêu dùng đối với rau an toàn và không an toàn
Nhìn chung, nhận thức của người tiêu dùng về rau an toàn còn hạn chế, chủ yếu thông
qua ‘cảm nhận’ từ hình thức..
Bảng 12: Nhận thức của người tiêu dùng về rau an toàn và không an toàn
Khái niệm
Đặc điểm
Lí do
Rau không an
toàn
Trông xanh mượt, bóng láng
Xịt thuốc nhiều nên tươi tốt
của sản phẩm. Tại đây, họ thường xuyên mua rau của một người bán quen và tin tưởng vào
chất lượng của người bán này. Theo họ, chất lượng sản phẩm được đánh giá là đạt nếu dùng
không bị ngộ độc hoặc xảy ra bất cứ triệu chứng gì bất thường. Một số người tiêu dùng mua
rau ở chợ cho biết người bán rau ở chợ cũng có phân loại hàng khi bán theo rau loại 1, loại 2
(Rau không dập, tươi, đều bó được coi là loại 1, loại 2 là rau kém chất lượng hơn).Nhìn
chung, người tiêu dùng khá hài lòng đối với nơi mà họ thường xuyên mua rau hiện tại. Các lí
do chính của sự hài lòng này là do người bán vui vẻ, nhiệt tình, giá cả hợp lí, và rau tươi.
+ Những yếu tố chính ảnh hưởng đến quyết định mua rau:
-
Gần nhà (tiện lợi)
-
Người bán quen, vui vẻ, đáng tin cậy
-
Sản phẩm đảm bảo chất lượng (tươi, xanh, trông ngon)
-
Giá rẻ
V. Điểm mạnh, điểm yếu, cơ hội và thách thức của chuỗi cung ứng hiện tại
a. Điểm mạnh và điểm yếu
Vấn đề
Vật tư
sản xuất
rau
- Các chính sách quy hoạch
trồng trọt rau của thành phố
Huế đang tạo một bước phát
triển mới trong tương lai
Có thể tạo ra sản phẩm rau
chất lượng cao trong điều
kiện canh tác tự nhiên ngoài
đồng
Chất
lượng sản
phẩm
- Mô hình hợp tác xã được tổ
chức khá tốt với các điểm sơ
chế tập trung, vận chuyển xe
tải, nên đã giúp giảm bớt một
Quy trình phần hao hụt sau thu hoạch
sau thu
hoạch
Giá cả
- Một số loại rau quả giá đạt
cao, tăng lợi nhuận và giá trị
cho rau nói chung
- Giá mua vào của các siêu
thị về rau quả an toàn cao
hơn bên ngoài
chưa có hoặc nếu có thì các cơ sở vật chất cho các
điểm sơ chế, đóng gói, bảo quản vẫn còn chật hẹp,
vệ sinh kém
- Phương tiện vận chuyển và cách đóng gói lạc hậu
khiến hao hụt qua từng khâu trong chuỗi cung ứng
vẫn còn cao
- Thiếu nguồn nhân lực quản lý có trình độ, có
kinh nghiệm
- Giá cả thị trường không ổn định, đặc biệt vào
mùa mưa lũ, từ phía các nhà thu mua, gây xáo
động thị trường
- Hợp tác xã rau an toàn hoạt động chưa hiệu quả,
chưa đảm bảo hết đầu ra cho sản phẩm, nên một
lượng rau phải bán ra chợ lẻ với mức giá ngang
với rau thường, gây thiệt thòi cho nông dân
- Mặt khác, sự không phân biệt rõ ràng về rau an
toàn và giá tương ứng trên thị trường khiến người
tiêu dùng hoang mang vì bất kỳ rau nào được dán
nhãn “an toàn” thì lập tức được giá tăng hơn 2050% mà không biết thực sự có an toàn hay không
Quan hệ
trong
chuỗi
cung ứng
- Xây dựng được mô hình
liên kết giữa người nông dân,
hợp tác xã, tổ sản xuất, các
doanh nghiệp tiêu thụ, các cơ
- Hỗ trợ vốn còn hạn chế.
b. Cơ hội và thách thức
Các vấn đề
cốt lõi
Nhu cầu thị
trường
Sản phẩm/
Cạnh tranh
Cơ hội
Thách thức
- Nhu cầu thị trường về rau an toàn ngày càng
tăng về số lượng và chất lượng (nhà hàng,
khách sạn, siêu thị,…)
- Huế là một thành phố du lịch, hàng năm thu
hút hàng ngàn khách du lịch; cũng là thành
phố tập trung một số lượng rất lớn sinh viên
học tập trong các trường trung cấp, cao đẳng,
đại học và sự ra đời của các siêu thị lớn, các
chợ lớn là cơ hội lớn cho thị trường rau tại
đây.
- Nhu cầu về chất lượng sản phẩm cao đi đôi
với giá cao hơn ngày càng được nhiều người
tiêu dùng chấp nhận => cơ hội tăng lợi nhuận
cho các thành phần trong chuỗi cung ứng nếu
Để tăng khả năng cạnh tranh của rau xanh Huế cũng như nâng cao hiệu quả của chuỗi
cung ứng rau xanh trên địa bàn thành phô Huế, giải pháp cần thiết trước tiên là phải áp dụng
qui trình nông nghiệp an toàn (Good Agriculture Practices: GAP) trong sản xuất rau.
Các giải pháp cụ thể:
- Số lượng lớn
NHU CẦU THỊ TRƯỜNG - Giá bán cạnh tranh
Tác nhân trong
chuỗi cung ứng
I. Yếu tố đầu vào
KHÓ KHĂN CHÍNH
- Không chủ động giống
- Giá giống cao
1. Giống
- Quản lý chất lượng giống,
cây con chưa tốt
- Lạm dụng phân bón, thuốc
2. Phân bón và trừ sâu hoá học
thuốc BVTV
- Phân, thuốc vi sinh giá cao
3. Vốn
Thiếu vốn
- Chất lượng cao, vệ sinh an toàn thực phẩm
NGUYÊN NHÂN
GIẢI PHÁP
tiêu
thuỷ lợi
liệu: đầu tư thuỷ lợi, giao
xuất
- Năng suất & chất lượng
- đầu tư cao
thông, điện
không ổn định
- Nông dân liên kết sản xuất
- Hầu hết lao động thủ công - kỹ thuật canh tác lạc hậu
- Thiếu rau trong mùa nghịch - Thiếu đầu tư công nghệ
2. Kỹ thuật canh - Thiếu áp dụng công nghệ sinh học
sinh học
- Lạm dụng phân bón lá,
tác
- Năng suất, chất lượng
chất kích thích
không thoả mãn thị trường
- Cải thiện kỹ thuật canh tác:
ứng dụng công nghệ cao,
công nghệ sinh học
- Thay đổi suy nghĩ, cách
làm của người sản xuất
VII. Kết luận
Chuỗi cung ứng sản phẩm rau xanh trên địa bàn thành phố Huế có đầy tiềm năng để phát
triển. Tuy nhiên, với điều kiện khí hậu nơi đây cũng như nhiều điều kiện khách quan, chủ