i
NHẬN XÉT CỦA GIÁO VIÊN HƯỚNG DẪN
………………………………………………………………………………………
………………………………………………………………………………………
………………………………………………………………………………………
………………………………………………………………………………………
………………………………………………………………………………………
………………………………………………………………………………………
………………………………………………………………………………………
………………………………………………………………………………………
………………………………………………………………………………………
………………………………………………………………………………………
………………………………………………………………………………………
………………………………………………………………………………………
………………………………………………………………………………………
………………………………………………………………………………………
………………………………………………………………………………………
………………………………………………………………………………………
………………………………………………………………………………………
Nha Trang, tháng 6 năm 2012
Sinh viên
Nguyễn Thị Sáu
iii
MỤC LỤC
MỞ ĐẦU 1
CHƯƠNG 1: TỔNG QUAN 3
1.1. Tổng quan về sản phẩm bia chai hiện nay 3
1.1.1. Giá trị dinh dưỡng của sản phẩm bia chai 3
1.1.2. Tình hình sản xuất bia hiện nay 3
1.1.3. Tình hình tiêu thụ bia hiện nay 5
1.1.4. Xu hướng phát triển sản xuất và tiêu thụ sản phẩm bia chai 8
1.2. Nhu cầu tiêu dùng và thói quen lựa chọn sản phẩm 9
1.3.1. Yếu tố văn hóa, dân tộc, địa phương 10
1.3.2. Yếu tố thu nhập, trình độ học vấn và độ tuổi 11
1.3.3. Các yếu tố về bao bì, giá cả, cách tiếp thị, quảng cáo sản phẩm 11
1.3.4. Tính tiện ích (phù hợp) của sản phẩm với nhu cầu tiêu dùng 13
1.4. Vai trò của phép thử cảm quan trong nghiên cứu thị hiếu tiêu dùng 13
1.4.1. Cơ sở phép thử cảm quan trong nghiên cứu thị hiếu tiêu dùng sản phẩm 13
1.4.1.1. Định nghĩa về đánh giá cảm quan 13
1.4.1.2. Sự khác biệt giữa phương pháp đánh giá cảm quan cổ điển và hiện đại 14
3.1. Phân tích đối tượng điều tra 28
3.1.1. Cơ cấu độ tuổi của đối tượng được khảo sát 28
3.1.2. Cơ cấu tình trạng hôn nhân của đối tượng được khảo sát: 29
3.1.3. Cơ cấu nghề nghiệp của đối tương được khảo sát 29
3.2. Kết quả thống kê tần suất sử dụng 31
3.2.1. Kết quả thống kê số lần sử dụng sản phẩm bia chai trong tuần 31
3.2.2. Kết quả thống kê số chai bia sử dụng trong một lần uống 32
3.2.3. Kết quả thống kê sản lượng tiêu thụ các nhãn hiệu bia chai 33
3.2.3.1. Sản lượng tiêu thụ các nhãn hiệu bia chai 33
3.2.3.2. Nguyên nhân lựa chọn sử dụng các nhãn hiệu bia chai của đối tượng khảo
sát trên địa bàn Thành phố Quy Nhơn 36
3.2.4. Phân tích mối quan hệ giữa tình trạng hôn nhân, độ tuổi và nghề nghiệp đến
tần suất sử dụng bia chai (số lần uống/ tuần) 39
3.3. Kết quả phân tích ý kiến đánh giá của đối tượng khảo sát đối với các đặc điểm
cảm quan của sản phẩm bia chai………………………………………………… 39
v
3.3.1. Kết quả khảo sát đặc điểm về màu của sản phẩm bia chai 41
3.3.2. Kết quả khảo sát đặc điểm về mùi của sản phẩm bia chai 42
3.3.3. Kết quả khảo sát đặc điểm về vị của sản phẩm bia chai 43
3.3.4. Kết quả khảo sát đặc điểm về hàm lượng bọt của sản phẩm bia chai 44
3.3.5. Kết quả khảo sát đặc điểm về độ trong của sản phẩm bia chai 45
3.3.6. Kết quả đánh giá mức độ yêu thích sản phẩm bia chai của đối tượng khảo sát trên
địa bàn Thành phố Quy Nhơn 39
Đồ thị 1.2: Đồ thị định vị thương hiệu 22
Đồ thị 3.1: Kết quả khảo sát cơ cấu về độ tuổi 28
Đồ thị 3.2: Kết quả khảo sát cơ cấu về nghề nghiệp 30
Đồ thị 3.3: Kết quả thống kê tần suất sử dụng sản phẩm bia chai trong tuần 31
Đồ thị 3.4: Kết quả thống kê số chai bia sử dụng trong một lần uống 32
Đồ thị 3.5: Kết quả thống kê sản lượng tiêu thụ của các nhãn hiệu bia theo phần
trăm 33
Đồ thị 3.6: Kết quả thống kê các loại bia uống phổ biến tại các Tỉnh thành 35
Đồ thị 3.7: Kết quả thống kê các nguyên nhân dẫn đến quyết định sử dụng các nhãn hiệu
bia chai trên địa bàn Thành phố Quy Nhơn 36
Đồ thị 3.8: Kết quả thống kê các yếu tố được đối tượng nghiên cứu quan tâm khi
lựa chọn sử dụng một nhãn hiệu bia chai 37
Đồ thị 3.9: Kết quả đánh giá mức độ yêu thích sản phẩm bia chai 40
Đồ thị 3.10: Kết quả khảo sát đặc điểm cảm quan về màu của sản phẩm bia chai 41
Đồ thị 3.11: Kết quả khảo sát đặc điểm cảm quan về mùi của sản phẩm bia chai 42
Đồ thị 3.12: Kết quả khảo sát đặc điểm cảm quan về vị của sản phẩm bia chai 43
Đồ thị 3.13: Kết quả khảo sát đặc điểm cảm quan về hàm lượng bọt của sản phẩm
bia chai 44
Đồ thị 3.14: Kết quả khảo sát đặc điểm cảm quan về độ trong của sản phẩm bia chai 45
Đồ thị 3.15: Kết quả thống kê những trường hợp đối tượng khảo sát thường xuyên
sử dụng bia chai 48
Đồ thị 3.16: Kết quả thống kê các địa điểm đối tượng khảo sát thường sử dụng sản
phẩm bia chai 49
Đồ thị 3.17: Kết quả thống kê các yếu tố ảnh hưởng đến sự lựa chọn sử dụng sản
phẩm bia chai 50
1
MỞ ĐẦU
Trong nửa thế kỷ qua, lĩnh vực đánh giá cảm quan đã trưởng thành rất nhiều
và trở thành một phần quan trọng của ngành công nghiệp thực phẩm và hàng tiêu
dùng. Đánh giá cảm quan có vai trò rất quan trọng trong phát triển sản phẩm mới,
nghiên cứu cơ bản, cải tiến nguyên liệu và công nghệ, giảm chi phí sản xuất, đảm
bảo chất lượng và tối ưu hóa sản phẩm. Ở góc độ người tiêu dùng, một chương trình
đánh giá cảm quan trong một công ty thực phẩm và hàng tiêu dùng giúp đảm bảo
rằng các sản phẩm đến với thị trường với hình ảnh tốt và các thuộc tính cảm quan
đáp ứng được sự mong đợi của người tiêu dùng. Tuy nhiên xu hướng gần đây trong
công nghiệp thực phẩm và hàng tiêu dùng là hợp nhất phòng cảm quan thực hiện
phép thử ở thực địa với phòng nghiên cứu tiếp thị, vì cả hai đều nghiên cứu thị hiếu
người tiêu dùng. Các phòng nghiên cứu tiếp thị thường chịu trách nhiệm về chức
năng tiếp thị hợp nhất, đây là một xu hướng đáng tiếc, vì nó tước mất phần nghiên
cứu các sản phẩm tiêu dùng hay sự hổ trợ kỹ thuật quan trọng của công ty thực
phẩm. Nếu không có phép thử cảm quan ở thực địa, thì giá trị cuối cùng của những
gì liên quan đến phép thử bị tước mất và có thể không chắc chắn để đạt mục đích về
các yếu tố cảm quan và nhận thức của người tiêu dùng về hiệu quả của sản phẩm.
Do đó nghiên cứu thị hiếu tiêu dùng bằng cách sử dụng các phép thử cảm quan là
rất quan trọng cần được chú ý và đầu tư thực hiện.
Đồng thời hiện nay, khi chúng ta đã hội nhập vào nền kinh tế thế giới cùng
với nhu cầu tiêu dùng ngày càng cao của người tiêu dùng đã đẩy các doanh nghiệp
sản xuất trong nước phải đối mặt với hàng loạt nhãn hiệu ngoại đổ bộ vào thị trường
Việt Nam dẫn đến quá trình tiêu thụ sản phẩm gặp rất nhiều khó. Đặc biệt là thị
3
CHƯƠNG 1: TỔNG QUAN
1.1. Tổng quan về sản phẩm bia chai hiện nay
1.1.1. Giá trị dinh dưỡng của sản phẩm bia chai
“Bia là một loại đồ uống thu được từ quá trình lên men dịch các chất chiết từ
đại mạch nảy mầm, có bổ sung không quá 15% nguyên liệu đường khác và hoa
houblon” (định nghĩa bia của Pháp). Còn người Việt định nghĩa “Bia là loại đồ
uống lên men có độ cồn thấp, được làm từ nguyên liệu chính là malt đại mạch,
houblon, nấm men và nước”.
Bia chai là loại bia được chứa đựng trong bao bì thủy tinh, dịch bia sau khi
lên men sẽ tiến hành lọc sau đó trải qua công đoạn chiết rót, nạp CO
2
, thanh trùng
để kéo dài thời gian bảo quản và đảm bảo chất lượng.
4
Hiện nay công nghiệp sản xuất bia đang là ngành tạo ra nguồn thu lớn cho
ngân sách Nhà nước và có hiệu quả kinh tế cao. Vì vậy trong những năm qua ngành
sản xuất bia đã có những bước phát triển khá nhanh thông qua việc đầu tư và mở
rộng các nhà máy bia có từ trước và xây dựng các nhà máy bia mới thuộc Trung
ương và địa phương quản lý, các nhà máy liên doanh với các hãng bia nước ngoài.
Công nghiệp sản xuất bia phát triển kéo theo sự phát triển các ngành sản xuất khác
như: Vỏ lon nhôm, két nhựa, vỏ chai thủy tinh, các loại nút chai và bao bì khác.
Theo thống kê của Bộ Kế hoạch - đầu tư, bốn tháng đầu năm 2011 cả nước
có khoảng trên 350 nhà máy bia và các cơ sở sản xuất bia nằm ở hầu hết các tỉnh
thành. Trong số này, có hơn 20 nhà máy đạt công suất trên 20 triệu lít/ năm, 15 nhà
máy có công suất lớn hơn 15 triệu lít/năm, và có tới 268 cơ sở có năng lực sản xuất
dưới 1 triệu lít/ năm. Theo kết quả thống kê thì các doanh nghiệp trong nước đã sản
xuất 714.6 triệu lít bia các loại, tăng 9.2% so với cùng kỳ năm ngoái. Tốc độ tăng
trưởng ngành bia tại VN, theo thống kê của các công ty nghiên cứu thị trường, ước
đạt 15%/ năm. Đồ thị 1.1. Thị phần sản lượng các nhà sản xuất bia tại Việt Nam
(tháng 12/2010 – Sabeco)
5
từ mức 97.1 điểm vào tháng 10/ 2008, và có tác động mạnh tới các mặt hàng thực
phẩm và đồ uống không thiết yếu. Mặc dù vậy, người tiêu dùng Việt Nam vẫn được
đánh giá là một trong những nhóm lạc quan nhất trên thế giới khi cho rằng
Việt Nam có thể thoát khỏi tình trạng suy giảm kinh tế hiện tại trước thời điểm cuối
năm 2009. Điều này tạo nên những cơ sở cho sự phát triển các ngành sản xuất phục
vụ tiêu dùng ở Việt Nam, trong đó có ngành sản xuất bia.
Cuối quý II 2009, các nhà sản xuất bia trong nước đã đề cập đến khả năng
gấp đôi lượng hàng cung cấp cho thị trường so với cùng kỳ năm 2008 đồng thời
tăng giá bán lẻ do xét thấy thị trường đang có nhu cầu mạnh đối với các sản phẩm
bia nội địa và liên doanh. Vào tháng 6/ 2009, đơn vị sản xuất bia lớn thứ 2 của Việt
Nam là Tổng Công ty Bia - Rượu – Nước giải khát Hà Nội (Habeco) cho biết, họ đã
tăng công suất sản xuất hàng ngày từ 160,000 lít lên 180,000 lít với sản lượng đạt
tới 200,000 lít vào một số ngày có mức tiêu thụ cao điểm.
Mức tiêu thụ bia bình quân đầu người của Việt Nam năm 2009 là 18 lít/ năm,
bằng 1/2 so với Hàn Quốc và bằng 1/6-1/7 so với Ireland, Đức, Séc, đạt 28 lít/ năm
năm 2010 và hứa sẽ tăng mạnh trong những năm tiếp theo vì uống bia đang trở
7
thành một thói quen phổ biến do thu nhập ngày càng tăng và giới trẻ đang có xu
hướng thích không khí tiệc tùng. Điều này là nhờ triển vọng nền kinh tế Đất nước
đang nhanh chóng thoát dần khỏi khủng hoảng, mức thu nhập của người dân tăng
lên cộng với sự thay đổi tập quán uống (chuyển từ uống rượu tự nấu sang uống bia)
của người dân ở nhiều vùng nông thôn…). Đồng thời theo kết quả tổng điều tra dân
số năm 2009, dân số Việt Nam tiếp tục tăng bình quân mỗi năm khoảng 90 vạn.
Điều này cũng góp phần khiến ngành công nghiệp bia của Việt Nam tăng quy mô
Hình 1.2: Lượng bia tiêu thụ ở Việt Nam trong những năm qua và dự
kiến tới năm 2015 (Nguồn: Bộ Công thương)
9
1.2. Nhu cầu tiêu dùng và thói quen lựa chọn sản phẩm
Sản phẩm nói chung
Mỗi con người đều có một nhu cầu tiêu dùng khác nhau đối với những loại
sản phẩm khác nhau. Có những loại sản phẩm người tiêu dùng có nhu cầu rất cao
gọi là sản phẩm thiết yếu như: thực phẩm, đồ dùng…Những sản phẩm này không
thể thiếu trong cuộc sống hàng ngày. Cũng có những loại sản phẩm không cần thiết
trong cuộc sống hàng ngày được gọi là mặt hàng xa xỉ như: mỹ phẩm, đồ trang
sức…Tuy nhiên với bất cứ mặt hàng nào người tiêu dùng cũng mong muốn sản
phẩm có chất lượng tốt nhất. Đặt biệt là thực phẩm, khi xã hội ngày càng phát triển,
mức sống của con người được nâng cao, theo đó nhu cầu của người tiêu dùng Việt
Nam cũng ngày một thay đổi. Thay vì “ăn no” như trước kia người tiêu dùng hiện
nay hướng đến “ăn ngon, an toàn”, đặt tiêu chí sức khỏe lên hàng đầu trong việc lựa
chọn thực phẩm.
Theo kết quả nghiên cứu của công ty nghiên cứu thị trường Định Hướng
(FTA) về xu hướng tiêu dùng của người tiêu dùng tại ba thành phố lớn TP Hồ Chí
Minh, TP Đà Nẵng, TP Hà Nội cho thấy 71% người tiêu dùng tin tưởng vào hàng
Việt Nam chất lượng cao, 84% người tiêu dùng quan tâm đến an toàn vệ sinh thực
phẩm. Từ đó cho thấy nhu cầu cũng như thói quen của người tiêu dùng khi lựa chọn
sản phẩm có bước chuyển đổi lớn sang hướng chất lượng và an toàn.
1.3.1. Yếu tố văn hóa, dân tộc, địa phương
Văn hoá là một hệ thống những giá trị, niềm tin, truyền thống và các chuẩn
mực hành vi được hình thành, phát triển, thừa kế qua nhiều thế hệ. Văn hóa được
hấp thụ ngay trong cuộc sống gia đình, sau đó là trong trường học và trong xã hội.
Văn hóa của từng địa phương là yếu tố đầu tiên tác động mạnh mẽ đến quyết
định của người tiêu dùng, đó chính là văn hóa tiêu dùng. Sự trải dài về địa lý và sự
đa dạng, phong phú về văn hóa, lịch sử đã hình thành nên một Việt Nam có nhiều
vùng miền khác nhau với thói quen tiêu dùng rất đặc trưng. Nghiên cứu của FTA
trong tháng 5/ 2009 cho thấy , người tiêu dùng Hà Nội là những người cẩn trọng và
khắt khe nhất trong việc lựa chọn sản phẩm. Trong khi đa phần người tiêu dùng ở
các thành phố khác thường dựa vào sự tin tưởng và trải nghiệm đầu tiên với sản
phẩm thì người tiêu dùng Hà Nội có thể thay đổi suy nghĩ vài lần trước khi ra quyết
định. Người tiêu dùng miền Nam có thói quen sử dụng những sản phẩm mới thì
11
ngược lại người tiêu dùng miền Bắc có thói quen sử dụng những sản phẩm truyền
thống, ưa chuộng hàng hiệu, thương hiệu nổi tiếng. Đặc biệt thói quen tiêu dùng
thực phẩm ở các miền có sự khác nhau rõ rệch. Ví dụ: người miền Bắc có cách ăn
uống khác người miền Nam, người miền Bắc không thích ăn ngọt, họ thích ăn mặn
trong khi người miền Nam lại thích ăn ngọt, ăn nhạt, không thích ăn mặn. Từ đó cho
thấy văn hóa vùng miền là yếu tố quan trọng quyết định đến thị hiếu tiêu dùng sản phẩm.
1.3.2. Yếu tố thu nhập, trình độ học vấn và độ tuổi
Tình hình kinh tế là điều kiện tiên quyết để người tiêu dùng có thể mua được
một sản phẩm. Khi ngân sách tiêu dùng càng cao thì tỷ lệ phân bố cho tiêu dùng các
mặt hàng xa xỉ càng tăng lên, tỷ lệ chi tiêu cho các mặt hàng thiết yếu càng giảm
lựa chọn và sử dụng sản phẩm. Hiện nay, khi nền kinh tế đang trong thời kỳ lạm
phát thì người tiêu dùng có xu hướng lựa chọn và sử dụng những sản phẩm hợp với
túi tiền mình có và cần thiết.
- Quảng cáo và tiếp thị là một phần không thể thiếu trong các hoạt động mua
bán và trao đổi hàng hóa. Quảng cáo và tiếp thị sẽ làm thay đổi tư duy và ảnh hưởng
sâu sắc đến văn hóa của mọi tầng lớp trong xã hội. Từ đó nó tác động đến sự thay
đổi trong lựa chọn sản phẩm và thị hiếu của người tiêu dùng. Ngoài ra, quảng cáo
và tiếp thị là công cụ rất hữu hiệu để đưa những thông tin và đặc tính của sản phẩm
đến với người tiêu dùng, giúp người tiêu dùng có những thông tin đầy đủ và hấp
dẫn trước khi ra quyết định mua sản phẩm. Tuy nhiên, nếu chương trình quảng cáo
và tiếp thị không phù hợp sẽ đem lại thiệt hại về tài chính cho các doanh nghiệp và
sự đào thải chính dòng sản phẩm đó. Một ví dụ điển hình là sau khi thành công của
nước tăng lực Number One, Tập đoàn Tân Hiệp Phát đã đầu tư vào 200 triệu USD
để sản xuất bia tươi đóng chai Laser. Đây được xem là sản phẩm bia tươi đóng chai
lần đầu tiên có mặt tại Việt Nam, với giá bán cao hơn nhãn hiệu bia Tiger và ngang
ngửa với nhãn hiệu bia Heineken. Mặc dù Tân Hiệp Phát đã thực hiện một chiến
lược quảng bá rầm rộ với chi phí lên tới 3 triệu USD. Tuy nhiên, chỉ sau một năm
gia nhập vào thị trường bia Việt Nam, Tân Hiệp Phát đã phải dừng sản xuất. Sự thất
bại này là do Tân Hiệp Phát đã thực hiện chương trình quảng bá không phù hợp,
không nhất quán, không giúp người tiêu dùng hiểu rằng “nhãn hiệu bia Laser là một
sản phẩm bia tươi cao cấp chứ không như loại bia tươi bán ở các quán bình dân và
vỉa hè”. Đồng thời, nhãn hiệu Laser không thể xâm nhập được vào kênh phân phối
13
Horeca (kênh dành cho các loại bia cao cấp) cho nên bị đào thải ra khỏi thị trường bia
14
và các thông tin khác ảnh hưởng đến nhận thức của người tiêu dùng. Đánh giá cảm
quan tiến hành cô lập các tính chất cảm quan của thực phẩm và cung cấp những
thông tin hữu ích, quan trọng cho các nhà phát triển sản phẩm, các nhà khoa học
thực phẩm và các nhà quản lý về đặc tính cảm quan của sản phẩm.
Đánh giá cảm quan được định nghĩa là một phương pháp khoa học dùng để
gợi lên, đo đạc, phân tích và giải thích các cảm nhận của con người đối với sản
phẩm thông qua các giác quan là thị giác, khứu giác, thính giác và vị giác ( Stone và
Sidel, 1993).
Đánh giá cảm quan cũng là một môn khoa học đo lường, giống như các quy
trình thí nghiệm phân tích khác, đánh giá cảm quan liên quan đến tính đúng đắn, độ
chính xác, độ nhạy cảm quan và tránh kết quả tích cực giả (Meiselman, 1993).
Trong phân tích cảm quan, các giác quan của con người được sử dụng như
một công cụ đo. Chúng nhận nhiệm vụ thu nhận thông tin như màu sắc, mùi, vị qua
phân tích, xử lý bằng các phương pháp toán thống kê và đưa ra kết quả dưới dạng
các giá trị ước lượng, so sánh và mô tả.
1.4.1.2. Sự khác biệt giữa phương pháp đánh giá cảm quan cổ điển và
hiện đại
Trong đánh giá cảm quan truyền thống thì quá trình sản xuất ra những sản
phẩm có chất lượng tốt thường phụ thuộc vào độ nhạy bén về giác quan của một
chuyên gia chịu trách nhiệm chính trong quá trình sản xuất hoặc đưa ra những quyết
định thay đổi công nghệ để đảm bảo sản phẩm đạt được những thuộc tính mong muốn.
Ngày nay, đánh giá cảm quan hiện đại đã thay thế người đóng vai trò như các
trọng tài chất lượng, những quyền lực cá nhân bằng một hội đồng những người
tham gia vào các phép thử cụ thể dưới dạng các thí nghiệm được hoạch định trước.
Sự thay đổi này xuất hiện do nhiều nguyên nhân. Nguyên nhân thứ nhất, người ta
nhận thấy rằng các đánh giá do một hội đồng đưa ra nhìn chung là đáng tin cậy hơn
Mô tả
Các sản phẩm
khác nhau như thế
nào trên từng tính
chất cảm quan cụ
thể.
Phân tích
Được tuyển chọn dựa
trên độ nhạy cảm giác và
động cơ, được huấn
luyện cơ bản hoặc đào
tạo kĩ lưỡng.
Thị hiếu
Sản phẩm được ưa
thích nhiều hay ít.
Hưng phấn
Được tuyển chọn dựa
trên thói quen tiêu dùng
sản phẩm, không qua
huấn luyện.
Phép thử thị hiếu là phép thử đánh giá phản ứng cá nhân (ưa thích hoặc chấp
nhận) của người tiêu dùng về sản phẩm, ý tưởng sản phẩm hay các đặc tính của sản
1617
các nhà sản xuất có thể đưa ra cho doanh nghiệp mình một định hướng đi mới đối
với dòng sản phẩm mới.
1.4.3. Ưu và nhược điểm của phép thử cảm quan trong nghiên cứu thị
hiếu tiêu dùng so với một số phương pháp khác
1.4.3.1. Ưu điểm
Người tiêu dùng trong phép thử thị hiếu tại thực địa làm việc theo cách tổng
thể nhiều hơn, họ nhìn sản phẩm như một nguyên mẫu. Mặc dù ở một khía cạnh cụ
thể nào đó của sản phẩm thu hút sự chú ý của họ (đặc biệt là những đặc tính xấu của
sản phẩm), các phản ứng của họ đối với sản phẩm là tức thì và thể hiện dưới dạng
thích hay không thích. Những đánh giá của người tiêu dùng không cần suy nghĩ hay
mổ xẻ sản phẩm dưới dạng một khía cạnh cụ thể nào đó. Người tham gia trong phép
thử thị hiếu là người tiêu dùng đã sử dụng qua sản phẩm và không qua huấn luyện [1].
Thật không khôn ngoan nếu yêu cầu các thành viên trong hội đồng đã qua
huấn luyện đánh giá về sở thích đối với một sản phẩm hay cho biết họ thích hay
không thích một sản phẩm nào đó. Cũng như bạn không thể hỏi một cái máy sắc kí
hay một máy đo pH rằng nó có thích một sản phẩm hay không, vậy thì tại sao lại
hỏi các thành viên trong hội đồng phân tích của bạn những câu hỏi như vậy
(O’Mahony, 1979). Nhưng nhóm phép thử thị hiếu tiêu dùng sẽ làm được điều này.
Người tiêu dùng sẽ là người giải đáp những câu hỏi thích, hay không thích sản
phẩm, họ thích những đặc điểm nào và mong muốn nó như thế nào?
Trong các phép thử phân tích ở phòng thí nghiệm, chúng ta phải từ bỏ một
phần khả năng khái quát hóa các kết quả thực tế do sử dụng các điều kiện nhân tạo
và một nhóm người thử đặc biệt. Trong phép thử thị hiếu, người tiêu dùng tỏ ra thực
tế hơn trong biểu lộ ấn tượng về sản phẩm, họ có thể đánh giá thực phẩm dưới các
điều kiện tự nhiên, các tính chất cảm quan và sự yêu thích được xác định độc lập
thích của chính người tiêu dùng, và là cơ sở cho các nghiên cứu thị trường và tiếp
thị tốn kém sau này. Từ những đặc điểm và ưu điểm nổi bật trên, ta thấy việc sử
dụng phép thử cảm quan (phép thử thị hiếu tiêu dùng tại thực địa) trong nghiên cứu
thị hiếu tiêu dùng là rất quan trọng cần được áp dụng và nghiên cứu.
1.4.3.2. Nhược điểm
Phép thử thị hiếu đòi hỏi một cỡ mẫu lớn do sở thích của các cá nhân có độ
dao động lớn, sai lệch trong quá trình lấy mẫu lớn, độ tin cậy thấp. Và để bù lại