MỤC LỤC
Lời cam đoan
ii
Lời cảm ơn
iii
Mục lục
iv
Danh mục chữ viết tắt
vii
Danh mục bảng
viii
Danh mục sơ đồ
ix
Danh mục hình
x
PHẦN I MỞ ĐẦU
4
1.3.2 Phạm vi nghiên cứu
4
PHẦN II CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN
5
2.1
5
Cơ sở lý luận
2.1.1 Chuỗi giá trị và một số khái niệm liên quan
5
2.1.2 Tầm quan trọng của phân tích chuỗi giá trị
10
2.1.3 Chuỗi giá trị thủy sản
11
2.1.4 Nội dung phân tích chuỗi giá trị thủy sản
31
2.2.4 Thực tiễn trong nước về chuỗi giá trị cá cơm và kinh nghiệm nâng cao
chuỗi giá trị cá cơm
33
PHẦN III PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
3.1
35
Đặc điểm địa bàn nghiên cứu
35
3.1.1 Đặc điểm tự nhiên và điều kiện khí hậu
35
3.1.2 Điều kiện kinh tế xã hội
37
3.1.3 Đặc điểm nguồn lợi thủy sản
37
3.2
Khái quát hiện trạng khai thác, chế biến và tiêu thụ cá cơm ở Huyện đảo
Phú Quốc
46
4.1.1 Khái quát hiện trạng khai thác cá cơm ở Huyện đảo Phú Quốc
46
4.1.2 Khái quát hiện trạng chế biến cá cơm ở Huyện đảo Phú Quốc
49
Thực trạng chuỗi giá trị cá cơm ở Huyện đảo Phú Quốc
52
4.2
4.2.1 Tổng quan về chuỗi giá trị cá cơm ở Huyện đảo Phú Quốc
52
4.2.2 Chuỗi giá trị cá cơm sản xuất nước mắm truyền thống Phú Quốc
60
4.2.3 Chuỗi giá trị cá cơm sấy khô
Page v
4.4.3 Cơ hội
85
4.4.4 Thách thức
86
4.5
Định hướng và giải pháp nâng cao chuỗi giá trị cá cơm ở Huyện đảo Phú Quốc. 87
4.5.1 Định hướng phát triển chuỗi giá trị cá cơm ở Huyện đảo Phú Quốc
87
4.5.2 Giải pháp nâng cao chuỗi giá trị cá cơm ở Huyện đảo Phú Quốc
88
PHẦN V KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ
104
5.1
Kết luận
CSXH
: Chính sách xã hội DN Doanh nghiệp
DNCB
: Doanh nghiệp chế biến
EU
: Liên minh Châu Âu (European Union)
GTTS
: Giá trị thủy sản
GTGT
: Giá trị gia tăng
HĐND
: Hội đồng nhân dân
HTX
: Hợp tác xã
KHCN
UNIDO
: Tổ chức phát triển công nghiệp của Liên Hợp Quốc
Học viện Nông nghiệp Việt Nam – Luận văn Thạc sỹ Khoa học Kinh tế
Page vii
DANH MỤC BẢNG
Số bảng
3.1
3.2
3.3
3.4
3.5
3.6
4.1
4.2
4.3
4.4
4.5
4.7
4.8
4.9
4.10
4.11
4.12
4.13
Giá bán, chi phí, giá trị gia tăng, chi phí tăng thêm và lợi nhuận
trong chuỗi giá trị nước mắm cá cơm truyền thống kênh 1
Giá bán, chi phí, giá trị gia tăng, chi phí tăng thêm và lợi nhuận
trong chuỗi giá trị nước mắm cá cơm truyền thống kênh 2
Chi phí và lợi nhuận biên của các tác nhân trong chuỗi cá cơm sấy
khô/tẩm gia vị
Giá bán, chi phí, giá trị gia tăng, chi phí tăng thêm và lợi nhuận
trong chuỗi giá trị cá cơm sấy khô
Sản lượng và số lượng tầu đánh bắt cá cơm
Tình hình giá mua cá cơm tại Phú Quốc
Tỷ lệ nhu cầu hỗ trợ của các tác nhân trong chuỗi
Trình độ ngư dân tham gia chuỗi giá trị cá cơm (n =85)
Tỷ lệ các tác nhân đánh giá công nghệ đang sử dụng
Tỷ lệ các tác nhân vay vốn từ các nguồn tín dụng
Khó khăn của các tác nhân trong tiếp cận nguồn vốn của các tổ
chức chính thức
Khung phân tích SWOT
Học viện Nông nghiệp Việt Nam – Luận văn Thạc sỹ Khoa học Kinh tế
37
41
42
43
44
45
50
53
55
55
Hiện trạng chế biến cá cơm khai thác ở Huyện đảo Phú Quốc
50
4.2
Tổng quát về chuỗi cung ứng sản phẩm Cá Cơm
52
4.3
Chuỗi giá trị nước mắm cá cơm truyền thống Phú Quốc
61
4.4
Chuỗi giá trị cá cơm sấy khô
69
4.5
Mô hình đề nghị của chuỗi giá trị cá cơm
94
Học viện Nông nghiệp Việt Nam – Luận văn Thạc sỹ Khoa học Kinh tế
48
4.3
Biểu đồ số lượng tàu vây cá cơm theo nhóm công suất trên địa bàn
4.4
5
huyện đảo Phú Quốc năm 2013
48
Quy trình khai thác cá cơm lưới vây cá cơm
49
Học viện Nông nghiệp Việt Nam – Luận văn Thạc sỹ Khoa học Kinh tế
Page x
PHẦN I
MỞ ĐẦU
1.1. Tính cấp thiết của đề tài
Ngành thủy sản Việt Nam phát triển nhờ vào lợi thế có bờ biển dài khoảng
3.260 km và vùng biển rộng hơn 1 triệu km² chứa nhiều nguồn lợi thủy sản
phong phú đa dạng (FAO, 2005). Nguồn lợi chính là cá biển đã phát hiện hơn
2.000 loài khác nhau, trong đó trên 100 loài có giá trị kinh tế cao với tổng trữ
phòng và phát triển kinh tế xã hội. Là điểm tiền tiêu cực kỳ trọng yếu về an ninh
quốc phòng của vùng biển phía Tây Nam của tổ quốc.
Với ngư trường rộng lớn có nguồn hải sản phong phú, đặc biệt là cá cơm
để sản xuất nước mắm Phú Quốc nổi tiếng. Phát triển đánh cá nổi gắn liền với
công nghiệp chế biến nước mắm đặc sản Phú Quốc, chế biến mực cao cấp tại
Dương Đông và An Thới. Điều này được phản ánh qua số lượng lớn lao động
tham gia đánh bắt, chế biến, dịch vụ... cũng như nguồn doanh thu có được từ sản
lượng đánh bắt, các sản phẩm chế biến từ cá cơm ở khu vực này. Theo truyền
thống, ở nước ta, cá cơm được dùng để chế biến nước mắm, nổi tiếng nhất là
nước mắm cá cơm Phú Quốc, theo sở thủy sản Kiên Giang trước đây (2006), chỉ
khoảng 5% sản lượng cá cơm được dùng để chế biến nước mắm nhưng hàng năm
Phú Quốc thu về khoảng 450,000 USD từ xuất khẩu nước mắm cá cơm.
Theo báo cáo của Huyện hội chế biến nước mắm Phú Quốc, do không
cạnh tranh mua được nguyên liệu cá cơm nên hiện nay, có khoảng 60% số thùng
của các nhà thùng nước mắm Phú Quốc bỏ thùng trống, treo thùng; 10 doanh
nghiệp sản xuất nước mắm không trụ lại được buộc phải giải thể, bỏ nghề và hiện
chỉ còn khoảng 70 cơ sở hoạt động cầm chừng. Nghề khai thác cá cơm bắt đầu
xuất hiện những dấu hiệu cho thấy sự phát triển không bền vững như sản lượng
khai thác có xu hướng giảm dần, thị trường đầu ra cho các sản phẩm chế biến từ
cá cơm không ổn định, nhà thùng và một số cơ sở chế biến thiếu vốn, thiếu mặt
bằng và thông tin thị trường để mở rộng và phát triển sản xuất. Để bảo vệ ngành
sản xuất nước mắm truyền thống Phú Quốc cũng như các sản phẩm được chế
biến từ cá cơm cần quảng bá các sản phẩm giá trị gia tăng, triển khai nghiên cứu,
mô tả chuỗi giá trị cá cơm,từ đó đưa ra các giải pháp để nâng cao chuỗi giá trị.
Bên cạnh đó việc tổ chức và liên kết giữa các chủ thể tham gia chuỗi giá trị cá
cơm không chặt chẽ, phương pháp đánh bắt khai thác và chế biến không hiệu quả
nên ngành sản xuất và xuất khẩu cá cơm của Việt Nam gặp rất nhiều khó khăn, bị
cạnh tranh gay gắt từ các đối thủ trực tiếp như Thái Lan.
Học viện Nông nghiệp Việt Nam – Luận văn Thạc sỹ Khoa học Kinh tế
chuỗi GTTS. Và đây cũng là một vấn đề mới, mang tính thời sự cao đối với Phú
Quốc nói chung và ngành thủy sản nói riêng đòi hỏi phải nghiên cứu để làm rõ.
Học viện Nông nghiệp Việt Nam – Luận văn Thạc sỹ Khoa học Kinh tế
Page 3
Kết quả nghiên cứu góp phần hỗ trợ các nhà quản lý, các nhà hoạch định
chính sách xây dựng và đề xuất các giải pháp quản lý hiệu quả, nhằm góp phần
bảo vệ bền vững nguồn lợi cá cơm và quảng bá thương hiệu các sản phẩm được chế
biến từ cá cơm khai thác ở Huyện đảo Phú Quốc trong điều kiện hội nhập kinh tế
quốc tế. Xuất phát từ thực tiễn trên, tôi đã tiến hành chọn và nghiên cứu đề tài:
"Nghiên cứu chuỗi giá trị cá cơm ở huyện đảo Phú Quốc, tỉnh Kiên Giang”.
1.2 Mục tiêu nghiên cứu
1.2.1 Mục tiêu chung
Mô tả hiện trạng chuỗi giá trị cá cơm khai thác hiện tại ở Huyện đảo Phú
Quốc, đánh giá và tìm ra những tác nhân ảnh hưởng đến chuỗi giá trị trong khai
thác, thu mua, chế biến, tiêu thụ sản phẩm từ cá cơm ở Huyện đảo Phú Quốc,
tỉnh Kiên Giang. Từ đó đề xuất các giải pháp quản lý, phân phối hợp lý giá trị
của cá cơm.
1.2.2 Mục tiêu cụ thể
- Hệ thống hóa các vấn đề lý luận và thực tiễn về chuỗi giá trị.
- Đánh giá thực trạng chuỗi giá trị cá cơm ở Huyện đảo Phú Quốc, tỉnh
Kiên Giang.
- Phân tích các yếu tố ảnh hưởng đến chuỗi giá trị cá cơm ở Huyện đảo
Phú Quốc, tỉnh Kiên Giang.
- Đề xuất một số giải pháp để nâng cấp chuỗi giá trị cá cơm ở Huyện đảo
Phú Quốc, tỉnh Kiên Giang.
1.3 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
cải tiến cũng như phát hiện các nguồn lực tạo nên năng lực cạnh tranh cho doanh
nghiệp. Porter (1985) lập luận rằng nếu bản thân mỗi hoạt động có khả năng tạo ra
giá trị và sự liên kết chặt chẽ giữa các hoạt động được vận hành một cách hiệu quả
sẽ tạo nên một nguồn lực mạnh của lợi thế cạnh tranh.
Hình 2.1. Sơ đồ về chuỗi giá trị của doanh nghiệp
Nguồn: Porter, 2008
Học viện Nông nghiệp Việt Nam – Luận văn Thạc sỹ Khoa học Kinh tế
Page 5
Để doanh nghiệp tạo ra những giá trị lớn hơn dành cho khách hàng đầu
tiên cần tiến hành tốt 4 hoạt động chính vì đây là những hoạt động đóng vai trò
chính trong việc tạo ra giá trị cho khách hàng (hình 1.1). Các hoạt động chính
bao gồm 5 loại hoạt động: i) Đưa nguyên vật liệu vào kinh doanh; ii) Vận hành,
sản xuất- kinh doanh; iii) Vận chuyển ra bên ngoài; iv) Marketing và bán hàng;
v) Cung cấp các dịch vụ liên quan. Đó là một chuỗi công việc liên quan trực tiếp
đến quá trình sản xuất sản phẩm và dịch vụ của doanh nghiệp, từ việc đưa các
yếu tố đầu vào về DN, chế biến chúng, sản xuất các thành phẩm, bán hàng và các
hoạt động để phục vụ khách hàng. Mục tiêu của các hoạt động này là cung cấp
cho khách hàng một mức độ giá trị vượt quá chi phí của các hoạt động và thu
được một mức lợi nhuận. Lợi nhuận của doanh nghiệp lớn hay nhỏ phụ thuộc vào
hiệu quả của việc thực hiện các hoạt động này. Vì vậy nếu các hoạt động này
được quản lý tốt với chi phí thấp, giảm giá thành, tăng năng suất, nâng cao chất
lượng sản phẩm sẽ giúp doanh nghiệp thỏa mãn nhu cầu khách hàng tốt hơn, có
cơ hội để tạo ra giá trị vượt trội và tạo ra lợi thế cạnh tranh. Một lợi thế cạnh
tranh có thể đạt được bằng cách tham gia vào chuỗi giá trị để cung cấp chi phí
thấp hơn hoặc tốt hơn sự khác biệt.
Bên cạnh đó, DN cũng cần đầu tư cho những hoạt động hỗ trợ bao gồm:
khi phân phối tới người tiêu dùng cuối cùng và vứt bỏ sau khi đã sử dụng. Tiếp
đó, một chuỗi giá trị tồn tại khi tất cả những người tham gia trong chuỗi hoạt
động để tạo ra tối đa giá trị trong toàn chuỗi.
Một chuỗi giá trị cho bất kỳ sản phẩm hoặc dịch vụ sẽ bao gồm các hoạt
động từ nghiên cứu và phát triển, qua nguồn cung cấp nguyên liệu và sản xuất,
đến người tiêu dùng cuối cùng và hơn thế nữa vứt bỏ và tái chế. Tất cả những hoạt
động này tạo thành một chuỗi kết nối người sản xuất với người tiêu dùng và mỗi
hoạt động lại bổ sung giá trị cho thành phẩm cuối cùng. Xem chuỗi giá trị như là
một trình tự liên tiếp của các quá trình dịch chuyển từ việc cung cấp các đầu vào
cụ thể sản xuất, chế biến và marketing một sản phẩm cho đến khi tiêu thụ.
Như vậy, theo các quan điểm trên chúng ta có thể nhìn chuỗi giá trị ở góc
độ rộng hơn, chi tiết hóa các hoạt động và các khâu, chuỗi giá trị là một phức hợp
những hoạt động do nhiều người tham gia khác nhau thực hiện (người sản xuất,
người chế biến, thương nhân, người cung cấp dịch vụ,...) để biến một nguyên liệu
thô thành thành phẩm được bán lẻ (Ngân hàng phát triển châu Á, 2007). Mức độ
chi tiết càng cao, càng cho thấy rõ nhiều bên tham gia, nhiều DN tham gia và
mức độ liên quan đến chuỗi giá trị khác nhau. Đồng thời còn cho thấy các hoạt
Học viện Nông nghiệp Việt Nam – Luận văn Thạc sỹ Khoa học Kinh tế
Page 7
động trong chuỗi không phải do một DN duy nhất tiến hành mà nó xem xét cả
các mối liên kết ngược xuôi giữa các tác nhân tham gia chuỗi cho đến khi nguyên
liệu thô được sản xuất và được kết nối với người tiêu dùng cuối cùng.
Ngoài ra khái niệm chuỗi giá trị còn bao hàm cả các vấn đề về tổ chức,
điều phối, chiến lược và quan hệ quyền lực giữa các bên tham gia khác nhau
trong chuỗi.
Tóm lại, có thể khái quát, chuỗi giá trị là tập hợp một chuỗi các hoạt động
để chuyển hóa nguồn lực đầu vào thành các sản phẩm đầu ra và tại mỗi hoạt
nhằm thực hiện các chức năng thu mua nguyên liệu, chuyển đổi nguyên liệu
thành phẩm, phân phối chúng cho khách hàng (Ganeshan et al., 1995).
Theo các định nghĩa này thì một chuỗi cung ứng về cơ bản có ba phần
chính là cung cấp, sản xuất và phân phối. Cung cấp tập trung vào cách thức, nơi
mà từ khi nguyên liệu được mua và cung cấp cho sản xuất. Sản xuất là quá trình
chuyển đổi các nguyên liệu đến thành phẩm. Phân phối là các sản phẩm này đã
hoàn thành đưa đến khách hàng cuối cùng thông qua một mạng lưới các nhà phân
phối, nhà kho và nhà bán lẻ.
Tóm lại, một chuỗi cung ứng là một hệ thống các hoạt động được khâu nối
với nhau bởi các dòng vật chất, dòng thông tin và dòng tiền đi qua các tổ chức.
- Chuỗi cung ứng và chuỗi giá trị
Theo các quan điểm trên, chúng ta có thể hiểu thuật ngữ chuỗi cung ứng
giống như chuỗi giá trị. Bởi vì, thứ nhất, chuỗi cung ứng và chuỗi giá trị đều có
những đặc điểm chung cơ bản như đối tượng tham gia chuỗi, quá trình vận
chuyển và lưu giữ các sản phẩm, quá trình tạo giá trị, quá trình trao đổi thông tin,
quá trình chi trả. Những thành phần này sẽ tác động qua lại với nhau để kết nối
tài nguyên và sản phẩm đến người tiêu dùng cuối cùng. Thứ hai, mục đích cuối
cùng và quan trọng nhất của chuỗi cung ứng và chuỗi giá trị là quá trình tạo giá
trị thông qua các giai đoạn khác nhau của quá trình sản xuất, phân phối.
Như vậy, chuỗi giá trị hay chuỗi cung ứng đều được dùng để miêu tả cho
một chuỗi các hoạt động có quan hệ chặt chẽ, với nhiều tác nhân tham gia từ nhà
cung ứng nguyên liệu, nhà sản xuất, nhà phân phối và người tiêu dùng. Và một
chuỗi giá trị, hay một chuỗi cung ứng sẽ bao gồm tất cả các giai đoạn để thoả
mãn nhu cầu của khách hàng.
Một chuỗi cung ứng, chuỗi giá trị hợp nhất nối liền từ người cung cấp đến
người tiêu dùng thông qua một loạt các đơn vị liên quan như người chế biến,
người bán buôn, người bán lẻ nhằm quản trị ba dòng là: sản phẩm dịch vụ (hàng
Học viện Nông nghiệp Việt Nam – Luận văn Thạc sỹ Khoa học Kinh tế
Page 9
Phân tích chuỗi giá trị được sử dụng để xem xét khả năng nâng cấp
chuỗi, bao gồm việc nâng cấp sản phẩm liên quan đến chất lượng, sự đa dạng
Học viện Nông nghiệp Việt Nam – Luận văn Thạc sỹ Khoa học Kinh tế
Page 10
hóa mẫu mã, chủng loại, nhằm gia tăng vị thế cạnh tranh lâu dài cho chuỗi. Khả
năng cải tiến chuỗi giá trị dựa vào nhiều yếu tố như sự phân phối lợi ích trong
chuỗi, phương cách giao dịch và trao đổi thông tin, rào cản gia nhập ngành, cơ
chế quản lý của Nhà nước, những rào cản và tiêu chuẩn trong thương mại, các
yếu tố liên quan đến văn hóa và tập quán kinh doanh...
Phân tích chuỗi giá trị cho thấy vai trò đặc biệt quan trọng của việc thiết
lập cấu trúc mối quan hệ giữa các bên có liên quan, cơ chế phối hợp và vận
hành trong chuỗi giá trị. Điều này là quan trọng cho việc hình thành chính sách
quản lý để nâng cao vị thế cạnh tranh của chuỗi, khắc phục các điểm yếu và
tạo nhiều giá trị gia tăng cho ngành (Kaplinsky và Morris, 2001).
Với vai trò ưu việt trong cạnh tranh trên toàn cầu từ việc phân tích chuỗi
giá trị, nhiều nghiên cứu đã được thực hiện ở các quốc gia cho nhiều ngành như:
ngành công nghiệp xe hơi (Humphrey và Memedovic, 2003), ngành sản xuất
xe đạp (Galvin và Morkel, 2001), ngành công nghệ điện tử (Sturgeon, 2002),
ngành trang sức (Gereffi và Memodovic, 2003). Tác giả VDCWG (Value
Chain Dynamics Working Group) ở Trường Đại học Cambridge đã thực hiện nhiều
nghiên cứu cho một số ngành ở Mỹ như: ngành công nghiệp truyền thông, ngành
dịch vụ điện thoại di động, kỹ thuật số... Phân tích chuỗi giá trị cũng được ứng dụng
nhiều cho nhiều sản phẩm trong lĩnh vực nông nghiệp như: chuỗi giá trị rau sạch
(Dolan và Humphrey, 2000, 2004), sản phẩm thịt heo (Lowe và Gereffi, 2008), sản
phẩm thịt bò (Lowe và Gereffi, 2009), cà phê và ca cao (Gilbert, 2008).
2.1.3 Chuỗi giá trị thủy sản
2.1.3.1 Khái niệm chuỗi giá trị thủy sản
Hình 2.2. Chuỗi giá trị thủy sản tiêu biểu
Như vậy, một chuỗi GTTS tiêu biểu có năm bước. Tuy nhiên cũng có thể
có nhiều hoặc ít hơn tùy thuộc vào việc chi tiết hóa các hoạt động và các khâu
của chuỗi.
2.1.3.2 Đặc trưng của chuỗi giá trị thủy sản
Chuỗi cung ứng là một góc nhìn của chuỗi giá trị cho nên chuỗi giá trị
cũng là một hệ thống các hoạt động vật chất và các quyết định thực hiện liên tục
gắn với dòng vật chất và dòng thông tin đi qua các tác nhân (Vorstet al., 2001).
Theo Lambert and Cooper (2000) một chuỗi giá trị có bốn đặc trưng cơ bản: thứ
nhất, chuỗi giá trị bao gồm nhiều công đoạn (bước) phối hợp bên trong các bộ
phận, phối hợp giữa các bộ phận (tổ chức) và phối hợp dọc. Thứ hai, một chuỗi
bao gồm nhiều DN độc lập nhau, do vậy cần thiết phải có mối quan hệ về mặt tổ
chức. Thứ ba, một chuỗi giá trị bao gồm dòng vật chất và dòng thông tin có định
hướng, các hoạt động điều hành và quản lý. Thứ tư, các thành viên của chuỗi nỗ
lực để đáp ứng mục tiêu là mang lại giá trị cao cho khách hàng thông qua việc sử
dụng tối ưu nguồn lực của mình.
Nếu xem chuỗi GTTS là một chuỗi giá trị nông sản, thì theo Bijman
(2002), chuỗi GTTS là một chuỗi bao gồm các tác nhân cung cấp đầu vào, sản
xuất và phân phối thủy sản. Chuỗi này chứa đựng đồng thời dòng vật chất và
dòng thông tin. Chuỗi GTTS nói chung khác với chuỗi giá trị của các ngành khác
Học viện Nông nghiệp Việt Nam – Luận văn Thạc sỹ Khoa học Kinh tế
Page 12
ở các điểm (1) bản chất của quá trình sản xuất thường dựa vào quá trình sinh học,
do vậy làm tăng tính biến động và rủi ro; (2) bản chất của sản phẩm có những đặc
trưng tiêu biểu như dễ hư hỏng và khối lượng lớn, nên yêu cầu chuỗi khác nhau
Page 13
(2000), phối hợp dọc là một quá trình phối hợp các giao dịch thị trường giữa nhà
cung cấp và khách hàng. Phối hợp dọc trong kinh doanh thủy sản và ngành thực
phẩm bao gồm một số hoặc nhiều giao dịch trao đổi các yếu tố đầu vào từ nhà
cung cấp giống hoặc vốn tới người nông dân, hoặc trao đổi nguyên liệu giữa
nông dân và người chế biến hoặc sản phẩm tươi sống giữa nhà bán buôn với
người bán lẻ hoặc giữa người bán lẻ và người tiêu dùng.
Một số ngành (ví dụ như ngành gia cầm) đã phát triển liên kết dọc chặt
chẽ vài năm trở lại đây, trong khi những ngành khác xem khái niệm này còn
tương đối mới (Hobbs and Young, 2000). Sự thay đổi căn bản là chuyển dịch từ
sản xuất định hướng sang thị trường định hướng trong chiến lược của người sản
xuất. Sự thay đổi này dẫn đến làm tăng sự trao đổi thông tin giữa các tác nhân.
Một trong những thay đổi khác liên quan đến đổi mới sản phẩm, đây là một sự
thay đổi rất quan trọng trong chuỗi thủy sản-thực phẩm. Tất cả sự thay đổi đó
dẫn đến kết quả làm tăng cầu của người tiêu dùng về chất lượng sản phẩm cao
hơn và chủng loại sản phẩm cũng nhiều hơn. Hơn nữa, các vấn đề như ATTP và
điều kiện sản xuất cũng là những vấn đề được nhiều người tiêu dùng quan tâm
hiện nay. Những thay đổi về sở thích của người tiêu dùng, cũng làm thay đổi quá
trình chế biến và bán lẻ thủy sản-thực phẩm. Các nhà chế biến và nhà bán lẻ cũng
mở rộng lớn hơn và có tính quốc tế hóa hơn.
2.1.4 Nội dung phân tích chuỗi giá trị thủy sản
Phân tích chuỗi giá trị thủy sản là quá trình phân tích, đánh giá sản phẩm
thủy sản từ nhiều cấp độ, nhiều khía cạnh để thấy được bức tranh về dòng chảy
sản phẩm, dòng thông tin, dòng tiền, các tác nhân liên quan tới sản phẩm, quan
hệ của các tác nhân với nhau và giá trị tăng thêm tại mỗi mắt xích. Từ đó có thể
khám phá và xác định một cách đầy đủ những hạn chế và khó khăn cản trở trong
sản xuất, chế biến và tiêu thụ sản phẩm, vị trí cạnh tranh của các tác nhân tham
gia vào chuỗi. Chính vì vậy, phân tích chuỗi giá trị thủy sản bao gồm những nội
cùng bằng các chỉ tiêu về thời gian, sản phẩm và chi phí. Để đánh giá kết quả
thực hiện của chuỗigiá trị thủy sản cần đánh giá được 4 lĩnh vực: Kết quả và hiệu
quả: Là phải đánh giá toàn bộ giá trị gia tăng được sản sinh ra bởi chuỗi giá trị
thủy sản và tỷ trọng của các giai đoạn khác nhau; xác định việc phân phối lợi ích
của các tác nhân tham gia trong chuỗi; Xác định ai có lợi ích từ sự tham gia trong
chuỗi; Tác nhân nào có thể có lợi từ các hỗ trợ của các tổ chức. Tính linh hoạt:
Là tiêu chí đo lường sự thỏa mãn của khách hàng và khả năng đáp ứng yêu cầu
về số lượng, chủngloạisản phẩm cũng như sự năng động trong phân phối. Khả
năng đáp ứng: Là tiêu chí đo lường khả năng chuỗi giá trị đáp ứng những mong
đợicủa khách hàng. Bất kể khách hàng nào mà đang được phục vụ, chuỗi giá trị
Học viện Nông nghiệp Việt Nam – Luận văn Thạc sỹ Khoa học Kinh tế
Page 15
phải đáp ứng được các mong đợi của khách hàng đó. Chất lượng sản phẩm: Chỉ
tiêu chất lượng của sản phẩm trong lý thuyết thường chia thành thuộc tính chất
lượng bên trong và bên ngoài. Tổng hợp tất cả các yếu tố bên trong và bên ngoài
xác định hành vi mua bán (Jongen 2000).
Thứ tư:
Nâng cấp chuỗi giá trị thủy sản. Nâng cấp là chỉ con đường để phát triển
chuỗi giá trị (Gereffi and Korzenniewicz, 1994). Nâng cấp sản phẩm là việc đổi
mới, đa dạng hóa hay cải tiến sản phẩm cuối cùng, nâng cấp quy trình là cải tiến
công nghệ sản xuất, tiêu thụ và hậu cần, nâng cấp chức năng là việc chuyển các
chức năng của chuỗi giá trị từ một người vận hành này sang một người vận hành
khác. Cải thiện hay nâng cấp chuỗi giá trị thủy sản, khác với việc đổi mới công
nghệ như trong sản xuất. Việc cải thiện và nâng cấp là nhằm tạo ra lợi ích và hạn chế
rào cản gia nhập thị trường đối với sản phẩm của chuỗi. Các dạng nâng cấp bao
gồm: nâng cấp theo quy trình; nâng cấp theo sản phẩm; nâng cấp chức năng; nâng
cấp chuỗi. Từ đây có thể đưa ra được giải pháp để phát triển chuỗi.
hưởng đến hoạt động của các tác nhân cũng như toàn bộ quá trình hoạt động của
chuỗi. Sự phù hợp của chính sách sẽ góp phần nâng cao năng lực của chuỗi.
Chính vì vậy, cần có một thể chế, chính sách tốt để hỗ trợ cho các chuỗi GTTS
nói chung và các tác nhân tham gia nói riêng giảm bớt thua thiệt, tăng năng lực
sản xuất, kinh doanh.
Tuy nhiên, thể chế chính sách sẽ tạo những thuận lợi cho một số tác nhân
này nhưng tạo ra những bất lợi cho tác nhân khác. Nếu biết vận dụng tốt thì các
tác nhân sẽ nâng cao được hiệu quả sử dụng vốn đầu tư, tiết kiệm thời gian, giảm
chi phí đầu tư sản xuất, kinh doanh. Tác nhân phải biết nắm bắt kịp thời những
thay đổi của các chính sách để có những điều chỉnh nhằm thích nghi với điều
kiện mới.
Ngoài ra, các chương trình đào tạo, nghiên cứu, chuyển giao tiến bộ kỹ
thuật,.. của tỉnh, sở ban ngành, trung tâm nghiên cứu, của các công ty và các tổ
chức cũng hỗ trợ tích cực đến sự phát triển của chuỗi.
+ Ảnh hưởng của phát triển sản xuất hàng hóa và toàn cầu hóa
Toàn cầu hóa dẫn đến sự tăng trưởng nhanh chóng của thương mại thế
giới, quốc tế hóa các hoạt động sản xuất và kinh doanh của các tập đoàn đa
quốc gia và sự sụt giảm chi phí thông tin và liên lạc. Trong thế giới hiện đại
ngày nay, cách sống thay đổi rất nhiều, bao gồm cả cách thức ăn uống, nhất là
đối với tầng lớp trung lưu thành thị, do sự lan tỏa cách sống hiện đại thông qua
Học viện Nông nghiệp Việt Nam – Luận văn Thạc sỹ Khoa học Kinh tế
Page 17
truyền thông và du hành. Sự thay đổi cách thức ăn uống có các đặc trưng là đa
dạng, thuận tiện và phá vỡ truyền thống. Ngoài ra, người tiêu dùng ở các đô
thị có xu hướng sử dụng nhiều hơn thức ăn phi truyền thống nhờ vào khả năng
tiếp cận tốt hơn đến các hệ thống siêu thị hoặc cửa hàng bán lẻ và các chiến dịch
tiếp thị.