MỤC LỤC
Lời cam đoan
i
Lời cảm ơn
ii
Mục lục
iii
Danh mục chữ viết tắt
vi
Danh mục bảng
vii
Danh mục hình
viii
Danh mục ảnh
x
MỞ ĐẦU
3
1.3 Một số giống chó nuôi ở Việt Nam
4
1.3.1 Các giống chó địa phương
4
1.3.2 Một số giống chó nhập ngoại
5
1.4 Một số đặc điểm sinh lý loài chó
o
8
1.4.1 Thân nhiệt ( C)
8
1.4.2 Tần số hô hấp (số lần thở/phút)
9
1.4.3 Tần số tim (lần/phút)
10
16
Học viện Nông nghiệp Việt Nam – Luận văn Thạc sỹ Khoa học Nông nghiệp
Page iii
1.5.8 Điều trị
17
1.5.9 Phòng bệnh
18
CHƯƠNG II ĐỐI TƯỢNG, ĐỊA ĐIỂM, NỘI DUNG NGUYÊN LIỆU
VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
19
2.1 Đối tượng nghiên cứu
19
2.2 Địa điểm nghiên cứu
19
2.3 Thời gian nghiên cứu
Parvovirus.
2.4.6 Xác định một số chỉ tiêu sinh hóa máu trên chó mắc bệnh do
19
Parvovirus.
2.4.7 Xác định các tổn thương biến đổi đại thể và vi thể ở một số cơ
quan của chó mắc bệnh do Parvovirus.
2.4.8 Thử nghiệm một số phác đồ điều trị bệnh do Parvovirus trên chó
2.5 Phương pháp nghiên cứu
20
20
20
2.5.1 Phương pháp khám lâm sàng
20
2.5.2 Phương pháp xác định bệnh bằng test CPV
21
2.5.3 Khảo sát tỷ lệ chó mắc bệnh do Parvovirus
25
2.5.4 Phương pháp lấy máu để kiểm tra các chỉ tiêu
25
3.3 Tỷ lệ mắc bệnh do Parvovirus theo nhóm giống chó
37
3.4 Tỷ lệ chó mắc bệnh do Parvovirus theo lứa tuổi
40
3.5 Tỷ lệ chó mắc bệnh do Parvovirus theo mùa
42
3.6 Tỷ lệ mắc bệnh giữa chó đã được tiêm phòng và chó chưa được tiêm
phòng
44
3.7 Triệu chứng lâm sàng của chó mắc bệnh do Parvovirus
46
3.8 Các chỉ tiêu lâm sàng của chó mắc bệnh do Parvovirus
48
3.8.1 Thân nhiệt
49
3.11.1 Tổn thương đại thể
67
3.11.2 Tổn thương vi thể
74
3.12 Thử nghiệm một số phác đồ điều trị bệnh do Parvovirus
77
KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ
81
1
Kết luận
81
2
Kiến nghị
82
TÀI LIỆU THAM KHẢO
Sức kháng tối đa
SKTT
Sức kháng tối thiểu
Học viện Nông nghiệp Việt Nam – Luận văn Thạc sỹ Khoa học Nông nghiệp
Page vi
DANH MỤC BẢNG
Số bảng
Tên bảng
Trang
Kết quả phân loại bệnh của chó được điều trị tại phòng khám
32
3.1b Thực trạng mắc các bệnh thường gặp của chó tại phòng khám
33
3.2
Tỷ lệ chó có triệu chứng nôn mửa, tiêu chảy ra máu
3.7
Các triệu chứng điển hình ở chó mắc bệnh do Parvovirus
47
3.8
Các chỉ tiêu lâm sàng ở chó mắc bệnh do Parvovirus
48
3.9a
Số lượng hồng cầu, hàm lượng huyết sắc tố, tỷ khối hồng cầu ở chó
mắc bệnh do Parvovirus
51
3.9b Thể tích trung bình của hồng cầu, lượng huyết sắc tố bình quân của
hồng cầu, nồng độ huyết sắc tố trung bình của hồng cầu ở chó mắc
bệnh do Parvovirus.
55
3.9c
Sức kháng hồng cầu ở chó mắc bệnh do Pavovirus
Page vii
DANH MỤC HÌNH
Số biểu
1.1
Tên hình
Trang
Sinh bệnh học của bệnh viêm ruột truyền nhiễm do Parvovirus trên
chó (Trần Thanh Phong, 1996)
14
2.1
Cấu tạo thiết bị xét nghiệm Test CPV
21
2.2
Các bước tiến hành và kết quả xét nghiệm bằng test CPV
22
2.1
Để yên cho dung dịch bệnh phẩm lan đều
24
2.7
Đọc kết quả Tets thử sau 5 – 10 phút
25
3.1a
Tỷ lệ mắc các nhóm bệnh của chó tại phòng khám
32
3.1b
Biểu đồ tỷ lệ khỏi các nhóm bệnh của chó tại phòng khám
32
3.2
Tỷ lệ chó có triệu chứng nôn mửa, tiêu chảy ra máu (được phân
loại theo các loại bệnh mắc)
36
3.3
3.8a
Số lượng hồng cầu ở chó mắc bệnh do Parvovirus (Tera/L)
52
3.8b
Hàm lượng huyết sắc tố ở chó mắc bệnh do Parvovirus và chó
3.8c
khỏe (g/dL)
52
Tỷ khối hồng cầu ở chó mắc bệnh do Parvovirus và chó khỏe (%)
53
Học viện Nông nghiệp Việt Nam – Luận văn Thạc sỹ Khoa học Nông nghiệp
Page viii
3.8d
Thể tích trung bình của hồng cầu ở chó mắc bệnh do Parvovirus và
chó khỏe (fL)
61
Số lượng tiểu cầu, thể tích khối tiểu cầu, thể tích trung bình tiểu cầu
ở chó khỏe và chó mắc bệnh do Parvovirus
3.11a
62
Chỉ số GOT, GPT, Creatinine và độ dự trữ kiềm ở chó mắc bệnh
do Parvovirus và chó khỏe
3.11b
3.12
64
Chỉ số Ure, hàm lượng đường huyết ở chó khỏe và chó mắc bệnh
do Parvovirus
64
Tỷ lệ điều trị khỏi bệnh do Parvovirus điều trị theo 2 phác đồ
79
Học viện Nông nghiệp Việt Nam – Luận văn Thạc sỹ Khoa học Nông nghiệp
Page ix
70
3.5
Tụ huyết, xuất huyết phổi
71
3.6
Lách bị hoại tử, teo nhỏ, màu sắc không đồng nhất
71
3.7
Gan sưng, sung huyết, túi mật căng
72
3.8
Hạch lâm ba sưng, xuất huyết
72
3.9
Dạ dày đầy hơi, sung huyết
thành nên được nuôi dưỡng và sử dụng vào nhiều mục đích khác nhau: làm cảnh,
trông nhà, chăn gia súc, kéo xe và bảo vệ an ninh, quốc phòng ... Ở các nước
phương Tây chó là động vật cưng trong nhà và được coi là những người bạn.
Ở nước ta trong những năm gần đây, khi đời sống con người ngày càng
được nâng cao, xu hướng nuôi chó ngày càng phát triển. Cùng với sự gia tăng về
số lượng và chủng loại, chó được nuôi cũng rất đa dạng chó đã trở thành một
trong những loài động vật cảnh phổ biến. Nuôi chó không chỉ với mục đích giản
đơn là trông nhà mà chó đã trở thành khuyển cảnh được nhiều người yêu thích.
Chó mắc nhiều bệnh truyền nhiễm nguy hiểm, lây lan nhanh và có tỷ lệ
chết cao. Trong đó bệnh viêm ruột truyền nhiễm do Parvovirus đã và đang gây ra
những tổn thất lớn cho người chăn nuôi.
Qua thực tế lâm sàng tại các phòng khám và điều trị chó, mèo ở thành phố
Hà Nội cho thấy bệnh do Parvovirus là một bệnh truyền nhiễm rất nguy hiểm,
gây chết hàng loạt trên chó con. Chó lớn không chết nhiều nhưng lại là nguồn
tàng trữ virus. Bệnh xảy ra nhiều trên chó non từ 6 – 20 tuần tuổi với hai thể
bệnh hay gặp: thể tim và thể tiêu hóa, bệnh tiến triển nhanh gây tỷ lệ chết cao.
Cho tới nay, ở nước ta đã có một số công trình nghiên cứu về bệnh do
Parvovirus trên chó nhưng vẫn ít công trình nào nghiên cứu sâu về các biến
đổi bệnh lý của bệnh này. Vì vậy, để góp phần cho công tác chẩn đoán bệnh
nhanh, chính xác thì việc tiếp tục nghiên cứu sâu về các biến đổi bệnh lý của
bệnh do Parvovirus trên chó vẫn là vấn đề cấp thiết hiện nay.
Xuất phát từ thực tiễn trên, chúng tôi tiến hành nghiên cứu đề tài:
“Nghiên cứu một số đặc điểm bệnh lý chủ yếu của chó mắc bệnh do
Parvovirus tại thành phố Hà Nội”.
Học viện Nông nghiệp Việt Nam – Luận văn Thạc sỹ Khoa học Nông nghiệp
Page 1
2. Mục đích
(Canidae), bộ ăn thịt (Carnivora), lớp động vật có vú (Mammilia) (Phạm Sỹ
Lăng và Phan Địch Lân, 1992).
1.2. Một số giống chó chính trên thế giới
Từ hàng trăm năm về trước, các nhà nhân giống đã cho phối chó đực và chó
cái có những đặc điểm, chất lượng tốt để tạo ra chó con có đặc điểm giống bố mẹ
chúng. Những con chó dùng để phát triển những đặc điểm này gọi là chó giống.
Hiện nay có khoảng 150 giống chó, chia thành 7 nhóm: chó thông minh, chó làm
việc, chó thể thao, chó săn, chó chăn giữ gia súc, chó cảnh (Đỗ Hiệp, 1994).
- Những chú chó thông minh có bộ lông cứng và mỏng. Những con chó
này được nhân giống để săn bắt cáo và thỏ.
- Chó làm việc có thân hình rất khỏe mạnh và rất nghe lời. Giống chó này
được nhân giống để kéo xe trượt tuyết đại diện gồm: chó Boxer, Dorberman
pinscher, Rottwailer.
- Chó thể thao như Pointers và Golden Retrieverf chúng được nhân giống
để tha những con vịt và những chim hoang dã mà thợ săn bắt được.
- Giống chó săn có khứu giác rất tốt, chúng giúp thợ săn lần ra được dấu
vết của thỏ và những loài động vật nhỏ bé khác.
Học viện Nông nghiệp Việt Nam – Luận văn Thạc sỹ Khoa học Nông nghiệp
Page 3
- Giống chó chăn giữ gia súc được nhân giống để trông giữ những vật
nuôi trong các nông trại.
- Giống chó cảnh có thân hình đẹp và nhỏ nhắn, chúng được nhân
giống để làm người bạn đối với con người, đại diện của nhóm chó này gồm:
giống chó Chihuahua, Japanese, Pekingese, Boston Terrie (Đỗ Hiệp, 1994;
Lê Văn Thọ, 1997).
1.3. Một số giống chó nuôi ở Việt Nam
1.3.1. Các giống chó địa phương
tiên tại Berlin (1899) là giống chó Berger lông ngắn và tại Hanover (1882) là
giống chó Berger lông dài. Có giả thuyết cho rằng Berger Đức là giống chó được
tạo ra từ sự tạp giao tự nhiên giữa giống chó chăn cừ và chó nhà. Hiện nay, giống
này được phân bố ở khắp nơi trên thế giới, nhưng tập chung chủ yếu ở châu Âu.
Giống chó này rất thông minh, linh hoạt, dũng cảm, điềm tĩnh, biết vâng lời thân
thiện với đồng loại cũng như với con người. Nhờ những đặc tính tuyệ vời này mà
chó Berger được dùng cho nhiều lĩnh vực như: tìm kiếm, cứu hộ, trinh sát, bảo vệ
(Nguyễn Văn Thanh và cs., 2012)
Giống này được nhập vào nước ta từ những năm 1960. Ngoại hình có tầm
vóc tương đối lớn so với các giống chó ở nước ta, dài 110 - 112 cm; cao 56 - 65
cm đối với chó đực và 62 - 66 cm đối với chó cái; trọng lượng 28 - 37 kg. Bộ
lông ngắn, mềm, màu đen sẫm ở thân và mõm; đầu, ngực và bốn chân có màu
vàng sẫm. Đầu hình nêm; mũi phân thùy; tai dỏng hướng về phía trước, mắt đen;
răng to, khớp răng cắn khít. Chó đực có thể phối giống khi 24 tháng. Chó cái có
thể sinh sản khi 18 - 20 tháng. Mỗi năm chó cái đẻ 2 lứa, mỗi lứa 4 - 8 con
(Phạm Sỹ Lăng và Phan Địch Lân, 1992; Phạm Sỹ Lăng và cs., 2006).
- Giống chó Rottweiler
Chó Rottweiler bắt nguồn từ con Mastiff của Ý. Nó được tạo giống ở thị
trấn Rottwell. Chó Rottweiler có cơ thể mạnh mẽ và rất vạm vỡ, đầu hình cầu
khoảng cách giữa hai vai rất rộng, mặt dài gần bằng sọ, mặt hơi gãy, mõm phát
triển. Mắt màu nâu đen với dáng vẻ trung thành. Tai hình tam giác và cụp về phía
trước. Lưng phẳng, cổ và lưng tạo thành một đường thẳng, cấu trúc cơ thể có
dạng hình vuông, chân trước khá cao trung bình 69,5 cm. Bộ lông ngắn cứng và
rậm rạp. Màu lông đen với một ít đốm vàng ở gần hai mắt, trên má, mõm ngực
và chân (Phạm Sỹ Lăng và Phan Địch Lân, 1992).
Chó Rottweiler có thân hình to lớn và mạnh mẽ. Con đực cao 61 – 69 cm,
nặng 43 – 59 kg, con cái cao 56 – 63 cm, nặng 38 – 52 kg. Giống chó này rất
Học viện Nông nghiệp Việt Nam – Luận văn Thạc sỹ Khoa học Nông nghiệp
Page 5
Chó Fox có khả năng săn bắt những loài thú nhỏ. Vì vậy, nếu được huấn
luyện tốt thì nó có thể trở thành giống chó săn thực thụ. Chó Fox giữ nhà rất giỏi,
Học viện Nông nghiệp Việt Nam – Luận văn Thạc sỹ Khoa học Nông nghiệp
Page 6
tiếng sủa lớn và dai, dám lăn xả vào kẻ thù mà cắn xé. Đối với chủ nuôi, Fox rất
trung tín, mến chủ, gặp là mừng rỡ quấn quýt bên chân rất dễ thương (Danh mục
các giống chó).
- Giống chó Bắc Kinh (Pekingese)
Giống chó Bắc Kinh tương đối nhỏ, trọng lượng trung bình ở chó cái là
2,66 kg, ở chó đực là 3,58 kg, đầu rộng, khoảng cách giữa hai mắt lớn, mũi ngắn tẹt,
trên mõm có nhiều nếp nhăn, mặt gẫy, mắt tròn lồi đen tuyền và long lanh. Tai hình
quả tim cụp xuống hai bên, cổ ngắn và dầy, có một cái bờm nhiều lông dài và thẳng.
Bắc Kinh có bộ lông màu nuy pha nhiều lông mầu sẫm ở mặt lưng, hông và đuôi,
đuôi gập dọc theo sống lưng kiểu đuôi sóc (Đỗ Hiệp, 1994; Dibartola, 1985).
- Giống chó Boxer
Có nguồn gốc tại Đức, được phát hiện năm 1850, chó Boxer được miêu tả
như một con chó đẹp trong cái xấu vì chó có bộ mặt xấu xí nhưng lại rất ngoan
và trung thành. Đầu cân đối với cơ thể, trán không có nếp nhăn, mặt hơi ngắn
hơn sọ, hàm dưới uốn cong lên và hở xa với hàm trên. Tai mọc ở phần cao của
đầu, mũi lớn đen, chân cao khỏe, vai cao 58 cm. Đuôi mọc ở phần cao, thường
được cắt ngắn, màu sắc vàng hoặc vện (Đỗ Hiệp, 1994).
Boxer là giống chó vui vẻ, thích chơi đùa, tình cảm, tò mò và rất hiếu
động. Nó rất thông minh, có tính ham học cái mới và học khá nhanh nhưng cũng
có thể khá bướng bỉnh. Đây là giống chó thích hợp cho các cuộc thi tài. Luôn ở
trạng thái vận động, chúng rất quyến luyến và gắn bó với gia chủ (Phạm Sỹ Lăng
và Phan Địch Lân, 1992).
- Giống chó Dobermann
1.4. Một số đặc điểm sinh lý loài chó
1.4.1. Thân nhiệt (oC)
Nhiệt độ của cơ thể là chỉ số tương đối của hai quá trình sinh nhiệt và thải
nhiệt. Sự hằng định tương đối của thân nhiệt gia súc là nhờ có trung tâm điều tiết
nhiệt nằm ở hành não (Cù Xuân Dần và cs., 1997).
Ở trạng thái sinh lý bình thường, thân nhiệt của chó là 37,5 – 39oC. Trong
tình trạng bệnh lý thân nhiệt có sự thay đổi tùy vào tính chất và mức độ bệnh.
Nhiệt độ của cơ thể chó còn thay đổi bởi các yếu tố: tuổi tác (con non có thân
nhiệt cao hơn con trưởng thành), giới tính (con cái có thân nhiệt cao hơn con
đực) (Hồ Văn Nam và cs., 1997).
Sự vận động cũng ảnh hưởng đến thân nhiệt của chó, khi vận động nhiều
thân nhiệt của chó thường cao hơn bình thường. Thân nhiệt của chó vào lúc sáng
sớm thường thấp hơn buổi chiều và chênh lệch từ 0,2 - 0,5oC.
Học viện Nông nghiệp Việt Nam – Luận văn Thạc sỹ Khoa học Nông nghiệp
Page 8
- Ý nghĩa chẩn đoán: thông qua việc kiểm tra nhiệt độ chó, ta có thể
xác định được con vật có bị sốt hay không. Nếu tăng 1 – 2 oC con vật sốt vừa,
tăng 2 – 3oC sốt rất nặng. Qua đó, sơ bộ xác định được nguyên nhân gây
bệnh, tính chất, mức độ tiên lượng của bệnh, đánh giá được hiệu quả điều trị
tốt - xấu (Hồ Văn Nam và cs., 1997).
1.4.2. Tần số hô hấp (số lần thở/phút)
Tần số hô hấp là số lần thở trong 1 phút. Để tính tần số hô hấp của chó ta
thường đếm số lần hô hấp trong 2 - 3 phút sau đó lấy bình quân. Quan sát hõm
hông, thành ngực, thành bụng thoi thóp, xương cánh mũi hoạt động khi con vật
thở để tính tần số hô hấp. Tần số hô hấp phụ thuộc vào cường độ trao đổi chất,
tuổi, tầm vóc, trạng thái dinh dưỡng, trạng thái làm việc, trạng thái sinh lý, thời
tiết, khí hậu và tình trạng bệnh lý (Trần Cừ và Cù Xuân Dần, 1975).
thì mỏm tim hoặc thân tim chạm vào thành ngực, vì vậy mà ta có thể dùng tay, áp
tai hoặc dùng tai nghe áp vào thành ngực vùng tim để nghe được tiếng tim. Khi
tim co bóp sẽ đẩy một lượng máu vào động mạch làm mạch quản mở rộng, thành
mạch quản căng cứng. Sau đó nhờ vào tính đàn hồi, mạch quản tự co bóp lại cho
đến thời kỳ co tiếp theo tạo nên hiện tượng động mạch đập. Dựa vào tính chất
này ta có thể tính được nhịp độ mạch sẽ tương đương với mạch tim đập. Mỗi loài
gia súc khác nhau thì tần số tim cũng khác nhau. Sự khác nhau này cũng biểu
hiện ở từng lứa tuổi trong một loài động vật, tính biệt, thời điểm. Nhịp độ mạch
đập tương ứng với nhịp tim. Tuy vậy, tần số tim của động vật chỉ dao động trong
một phạm vi nhất định (Cù Xuân Dần và cs., 1977; Nguyễn Xuân Tịnh và cs.,
1996). Ở trạng thái sinh lý bình thường:
• Chó con: 200 - 220 lần/phút.
• Chó trưởng thành: 70 - 120 lần/phút.
• Chó già: 70 - 80 lần/phút (Hoàng Tiếu và cs, 1995).
Ở chó vị trí tim đập động là khoảng sườn 3 – 4 phía bên trái. Tần số tim
thể hiện tần số trao đổi chất, trạng thái sinh lý, bệnh lý của tim cũng như của cơ
thể. Tần số tim phụ thuộc vào tầm vóc của vật nuôi, độ béo gầy, lứa tuổi, giống
loài. Ở trạng thái sinh lý bình thường, có hai cơ chế điều hòa tim mạch bằng thần
kinh và thể dịch. Chó con có tần số tim đập lớn hơn chó già, chó hoạt động nhiều
thì tần số tim mạch đập tăng lên. Khi cơ thể bị một số bệnh về máu (thiếu máu,
mất máu, suy tim, viêm cơ tim, viêm bao tim) cũng làm tăng tần số tim (Nguyễn
Tài Lương, 1982).
Học viện Nông nghiệp Việt Nam – Luận văn Thạc sỹ Khoa học Nông nghiệp
Page 10
1.5. Bệnh do Parvovirus trên chó
Là bệnh truyền nhiễm do Parvovirus gây ra với đặc điểm tiêu chảy phân
Page 11
Parvovirus đề kháng mạnh với môi trường bên ngoài. Trong phân thì virus
có thể tồn tại hơn 6 tháng ở nhiệt độ phòng. Nó đề kháng với tác động của ether,
chloroforme, acide và nhiệt độ (56oC trong 30 phút) (Taylor et al., 2002).
* Đặc tính nuôi cấy của virus:
Virus chỉ nhân lên trong nhân tế bào và gây bệnh tích tế bào (Cyto
Pathogen Effect - CPE) trên tế bào tim chó con còn bú hay trên tế bào ruột, tế
bào lymphocyte của chó trong thời kỳ cai sữa. Những tế bào trong thời kỳ gián
phân thích hợp nhất.
* Đặc tính kháng nguyên: sự nhân lên của Parvovirus ở chó làm xuất hiện
kháng thể gây ức chế phản ứng ngưng kết hồng cầu và phản ứng trung hòa huyết
thanh. Kháng thể ức chế phản ứng ngưng kết hồng cầu xuất hiện vào ngày thứ
hai hoặc ngày thứ 3 sau khi nhiễm. Phản ứng này được sử dụng trong chẩn đoán
huyết thanh học. Phản ứng trung hòa huyết thanh rất khó thực hiện trong phòng
thí nghiệm (Nguyễn Như Pho, 2003).
* Khả năng miễn dịch:
Sau khi nhiễm bệnh, chó có miễn dịch kéo dài trong 3 năm, hiệu giá
kháng thể trung hòa hay ngăn trở ngưng kết hồng cầu trên những chó này sẽ lên
rất cao. Những chó con sinh ra trong khoảng thời gian này cảm nhiễm lúc 9 - 12
tuần. Sau 2 - 3 năm thì hiệu giá kháng thể sẽ giảm thấp, chó con sinh ra có thể
cảm nhiễm Parvovirus sớm hơn vào lúc 5 - 6 tuần tuổi.
Miễn dịch thụ động ở chó con có được do kháng thể mẹ truyền cho.
Kháng thể này tồn tại khoảng 9 ngày và thường được bài thải vào khoảng tuần
thứ 10 hay 11 sau khi sinh.
Ở chó con còn bú có một thời kỳ nhạy cảm với sự xâm nhiễm virus nhưng
lượng kháng thể còn sót lại đủ để trung hòa virus vaccine đưa vào. Ở “thời kỳ
khủng hoảng này”, chó con không thể được tiêm chủng hiệu quả trong khi nó thụ
cảm hoàn toàn với sự xâm nhiễm tự nhiên.
huyết vào ngày thứ hai và ngày thứ năm, từ đó tạo phản ứng miễn dịch và
kháng thể có thể xuất hiện vào ngày thứ năm và thứ sáu. Trong thời gian này
virus có thể được thải ra ngoài qua phân vào ngày thứ tư, tối đa là vào ngày thứ
năm, sau đó giảm dần và chấm dứt vào ngày thứ chín. Trong quá trình gây
nhiễm trùng huyết, virus đồng thời nhân lên ở tế bào lympho và tế bào tủy
xương dẫn đến giảm thiểu số lượng bạch cầu, hậu quả là làm suy giảm miễn
dịch. Virus nhân lên trong tế bào ruột dẫn đến hoại tử biểu mô ruột, bào mòn
nhung mao ruột, gây viêm ruột, giảm hấp thu và tiêu chảy rồi chết.
Học viện Nông nghiệp Việt Nam – Luận văn Thạc sỹ Khoa học Nông nghiệp
Page 13
Ở những chó con không có kháng thể mẹ truyền, virus thường gây bệnh
tích trên cơ tim và gây ra bệnh ở dạng tim mạch.
Chỉ cần đưa một lượng nhỏ Parvovirus bằng 100 liều gây nhiễm mô nuôi
cấy DICT (Dose Infectieuse en Culture de Tissus) đủ gây nhiễm cho chó. Điều
này cho thấy tác hại về mặt dịch tễ học do có lượng quá lớn virus trong phân (1
tỷ DICT/g phân) chó mắc bệnh (Nguyễn Như Pho, 2003; Taylor et al., 2002).
Qua đường miệng
Virus vào máu
Hạch bạch huyết và lách
Tủy xương
Ruột
Hoại tử những tế bào sinh lympho
Tỷ lệ tử vong cao trên chó từ 6 - 10 tuần tuổi. Chó đã qua 5 ngày mắc
bệnh thì thường có kết quả điều trị khả quan.
b. Dạng tim mạch
Dạng này rất hiếm gặp, có thể xảy ra trên những chó có kháng thể mẹ truyền
hoặc không có kháng thể mẹ truyền. Dạng này thường thấy trên chó 2 tháng tuổi. Chó
nhiễm bệnh thường chết đột ngột do suy hô hấp trong thời gian ngắn vì phổi bị phù. Do
những biến đổi về bệnh tích ở van tim và cơ tim, từ đó xuất hiện những tạp âm ở tim
hay những biến đổi về điện tim đồ (Nguyễn Như Pho, 2003).
c. Dạng thầm lặng
Những nghiên cứu huyết thanh học cho thấy một số chó mẫn cảm với
bệnh nhưng không biểu hiện triệu chứng.
1.5.6. Tổn thương
a. Tổn thương đại thể
Niêm mạc ruột: Sung huyết, xuất huyết, lớp nhung mao ruột bị bào mòn,
nhất là ở không tràng.
Lách có màu sắc và hình dạng không đồng nhất.
Dạ dày: niêm mạc xuất huyết một phần hay toàn bộ.
Gan có thể sưng, túi mật căng.
Hạch bạch huyết: phù thũng, xuất huyết.
Thể tim: phù thũng phổi, viêm cơ tim (Nguyễn Như Pho, 2003).
b. Tổn thương vi thể
Ruột: Hoại tử biểu mô tuyến Lieberkuhn, toàn bộ nhung mao ruột bị bào mòn.
Cơ quan lympho: Hoại tử và tiêu hủy những tế bào lympho trong mảng
payer, trong trung tâm mầm, trong hạch bạch huyết màng treo ruột và những hạt
bạch huyết ở lách (Nguyễn Như Pho, 2003).
Dạng tim: viêm cơ tim khởi phát, phân tán nặng nề.
Học viện Nông nghiệp Việt Nam – Luận văn Thạc sỹ Khoa học Nông nghiệp
Page 15
- Chẩn đoán mô học: làm tiêu bản, quan sát lông nhung ruột.
Học viện Nông nghiệp Việt Nam – Luận văn Thạc sỹ Khoa học Nông nghiệp
Page 16
- Chẩn đoán huyết thanh học: dùng phản ứng HI (dễ thực hiện, cho kết
quả tương đối chính xác). Kháng thể xuất hiện trong máu khi bắt đầu tiêu chảy
nhưng với hiệu giá thấp. Trên thực tế người ta thường dùng test ELISA để chẩn
đoán (Nguyễn Như Pho, 2003).
- Chẩn đoán bằng test CPV (Canine Parvovirus One - step Test Kit): phát
hiện kháng nguyên Parvovirus trong các mẫu phân. Thời gian cho kết quả chỉ từ
5 - 10 phút.
Tóm lại, ta có thể tìm virus trong phân của chó bị bệnh, ở thú bệnh bị chết
ta tiến hành chẩn đoán mô học (ruột và cơ quan lympho).
1.5.8. Điều trị
Nguyên tắc của việc điều trị là chống nôn, chống mất nước, ngăn ngừa sự
bội nhiễm của vi khuẩn.
Sử dụng kết hợp các biện pháp sau:
- Truyền dịch nhằm bù đắp lại lượng nước mất do nôn mửa, tiêu chảy và tùy
theo biểu hiện lâm sàng (nếp gấp ở da, hốc mắt trũng sâu) và sinh học (hematocrite,
proteine...). Việc bù đắp lượng nước phải có tính hệ thống và thường truyền qua
đường tĩnh mạch hoặc đường dưới da. Dung dịch này gồm nước sinh lý mặn để
điều chỉnh lượng nước ngoại tế bào mất đi và nước sinh lý ngọt, acid amin thiết
yếu để cung cấp năng lượng và protein. Việc bù đắp nước phải đầy đủ, ít nhất là 40
- 60 ml nước/kg thể trọng dùng trong 4 ngày. Các nhà khoa học khuyến cáo dùng
dung dịch Ringer hay dung dịch gồm nước sinh lý mặn (1/3) và nước sinh lý ngọt
(2/3) có thêm vào 20meq KCl/lít dung dịch (Lê Thanh Hải, 1990; Tô Dung và
Xuân Giao, 2006).
- Chống nôn: Sử dụng Primperan.