Nghiên cứu một số đặc điểm sinh học, sinh sản của loài ong Apis cerana nuôi tại Thái Nguyên - Pdf 25

BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
ĐẠI HỌC THÁI NGUYÊN PHÙNG ĐỨC HOÀN NGHIÊN CỨU MỘT SỐ ĐẶC ĐIỂM SINH HỌC,
SINH SẢN CỦA LOÀI ONG APIS CERANA
NUÔI TẠI THÁI NGUYÊN

LUẬN ÁN TIẾN SĨ NÔNG NGHIỆP


1. PGS.TS. Nguyễn Duy Hoan
2. TS. Phùng Hữu Chính

THÁI NGUYÊN - 2015

i
LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu của riêng tôi. Các số liệu, kết
quả nêu trong luận án là trung thực và chƣa từng đƣợc sử dụng để bảo vệ bất cứ một
học vị nào. Các kết quả nghiên cứu có sự phối hợp với ngƣời khác đã đƣợc đồng ý
bằng văn bản. Các thông tin, tài liệu trích dẫn trong luận án này đều đã đƣợc chỉ rõ
nguồn gốc và mọi sự giúp đỡ đã đƣợc cảm ơn đầy đủ.
Những kết luận khoa học của luận án chƣa từng đƣợc ai công bố.
Thái Nguyên, ngày 10 tháng 01 năm 2015
Tác giả luận án Phùng Đức Hoàn
ii
LỜI CẢM ƠN
Để hoàn thành luận án này, trong thời gian qua bên cạnh sự nỗ lực cố gắng

MỤC LỤC
LỜI CAM ĐOAN i
LỜI CẢM ƠN ii
MỤC LỤC iii
DANH MỤC CÁC TỪ, CỤM TỪ VIẾT TẮT vi
DANH MỤC CÁC BẢNG vii
DANH MỤC CÁC BIỂU ĐỒ ix
DANH MỤC CÁC ĐỒ THỊ ix
DANH MỤC CÁC HÌNH x
MỞ ĐẦU 1
1. Tính cấp thiết của đề tài 1
2. Mục đích của đề tài 2
3. Ý nghĩa khoa học và ý nghĩa thực tiễn của đề tài 2
4. Những đóng góp mới của luận án 3
Chƣơng 1. TỔNG QUAN TÀI LIỆU 4
1.1. Cơ sở khoa học của đề tài 4
1.1.1. Một số hiểu biết về giống ong mật 4
1.1.2. Đặc điểm giải phẫu và cấu tạo lỗ tổ ong mật 11
1.1.3. Một số đặc điểm sinh học, sinh sản của các cấp ong 13
1.2. Tình hình nghiên cứu trong và ngoài nƣớc 29
1.2.1. Tình hình nghiên cứu trong nƣớc 29
1.2.2. Tình hình nghiên cứu ngoài nƣớc 32
1.3. Điều kiện tự nhiên, tình hình sản xuất nông nghiệp và nuôi ong tại Thái Nguyên 35
Chƣơng 2. NỘI DUNG VÀ PHƢƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 38
2.1. Đối tƣợng, địa điểm, thời gian nghiên cứu 38
2.2. Nội dung nghiên cứu 38
2.3. Phƣơng pháp nghiên cứu 38 iv

v
3.3.9. Số lƣợng trứng đẻ ra của ong chúa qua các tháng đẻ 88
3.4. Một số đặc điểm sinh học, sinh sản của ong đực 90
3.4.1. Số lƣợng ong đực theo mùa vụ 90
3.4.2. Số lƣợng ong đực theo quy mô đàn 92
3.4.3. Ảnh hƣởng của lƣợng mật, phấn dự trữ và quy mô đàn đến sự hình
thành ong đực 94
3.4.4. Số lƣợng tinh trùng của ong đực 96
3.4.5. Mối quan hệ giữa khối lƣợng với số lƣợng tinh trùng của ong đực 97
3.5. Một số đặc điểm sinh học, sinh sản của ong thợ 100
3.5.1. Số lƣợng ống trứng và kích thƣớc buồng trứng của ong thợ 100
3.5.2. Thời gian ong thợ đẻ trứng sau khi tách chúa 101
3.6. Tuổi thọ của 3 loại hình ong 102
KẾT LUẬN VÀ ĐỀ NGHỊ 105
1. Kết luận 105
2. Đề nghị 106
DANH MỤC CÁC CÔNG TRÌNH LIÊN QUAN ĐẾN LUẬN ÁN 107
TÀI LIỆU THAM KHẢO 108
PHỤ LỤC
vi
DANH MỤC CÁC TỪ, CỤM TỪ VIẾT TẮT

ADN
Deoxyribo Nucleic Axít
A. cerana
Apis cerana
A. cerana cerana

Polymerase Chain Reaction
µl
Micro liter =10
-6
lít
TP
Thành phố
vii
DANH MỤC CÁC BẢNG

Bảng 1. Một số cây trồng và thời gian nở hoa tại Thái Nguyên 37
Bảng 2. Địa điểm và số lƣợng mẫu ong thợ thu trên đàn ong A. cerana và A. dorsata
để phân tích hình thái và ADN ty thể 39
Bảng 3.1.a. Thể tích, kích thƣớc lỗ tổ của 3 loại hình ong 59
Bảng 3.1.b. So sánh kích thƣớc và thể tích các loại lỗ tổ 60
Bảng 3.2. Khối lƣợng của 3 loại hình ong 61
Bảng 3.3. Mối quan hệ giữa nguồn gốc ra đời, mùa vụ với số lƣợng ống trứng
của ong chúa 65
Bảng 3.4. Mối quan hệ giữa khối lƣợng ong chúa đẻ với số lƣợng ống trứng 67
Bảng 3.5. Thể tích và kích thƣớc túi dự trữ tinh 69
Bảng 3.6. Mối quan hệ giữa nguồn gốc ra đời của ong chúa và mùa vụ với số
lƣợng tinh trùng trong túi chứa tinh 70
Bảng 3.7. Mối quan hệ giữa khối lƣợng ong chúa với số lƣợng tinh trùng trong
túi chứa tinh 72


ix
DANH MỤC CÁC BIỂU ĐỒ

Biểu đồ 3.1. Kích thƣớc và thể tích các loại lỗ tổ của 3 loại hình ong 61
Biểu đồ 3.2. Khối lƣợng của 3 loại hình ong 64
Biểu đồ 3.3. Mối quan hệ giữa nguồn gốc ra đời, mùa vụ với số lƣợng ống
trứng của ong chúa 66
Biểu đồ 3.4. Số lƣợng mũ chúa chia đàn tự nhiên đƣợc xây theo quy mô đàn 79
Biểu đồ 3.5. Số lần giao phối của ong chúa 82
Biểu đồ 3.7. Tuổi thọ của 3 loại hình ong 104

DANH MỤC CÁC ĐỒ THỊ
Đồ thị 3.1. Tƣơng quan giữa khối lƣợng ong chúa với số lƣợng ống trứng 68
Đồ thị 3.2. Tƣơng quan giữa khối lƣợng ong chúa với số lƣợng tinh trùng
trong túi chứa tinh 73
Đồ thị 3.3. Mối quan hệ giữa tuổi ong chúa với số lƣợng tinh trùng trong túi
chứa tinh của ong chúa 74
Đồ thị 3.4. Tỷ lệ chia đàn tự nhiên theo quy mô đàn và mùa vụ 77
Đồ thị 3.5. Mối quan hệ giữa tuổi ong chúa với số lƣợng trứng đẻ ra 85
Đồ thị 3.6. Tƣơng quan giữa khối lƣợng ong chúa với số lƣợng trứng đẻ ra 87
Đồ thị 3.7. Khả năng đẻ trứng của ong chúa theo tháng đẻ 90
Đồ thị 3.8. Số lƣợng ong đực theo mùa vụ 91
Đồ thị 3.9. Số lƣợng ong đực theo quy mô đàn 94

Hình 3.4. Ong đực và ong thợ trên bánh tổ nhộng 90
1

MỞ ĐẦU
1. Tính cấp thiết của đề tài
Nƣớc ta nằm trong khu vực có khí hậu nhiệt đới, thảm thực vật rất phong
phú và đa dạng, hoa nở quanh năm, đây là điều kiện tốt để phát triển nghề nuôi
ong lấy mật. Chính vì vậy, nghề nuôi ong đã có từ rất lâu đời, các giống ong đƣợc
nuôi chủ yếu là giống ong nội (Loài Apis cerana), hiện nay đƣợc nuôi nhiều ở
các tỉnh miền Bắc và từ những năm 60 của thế kỷ 20 chúng ta đã nhập thêm giống
ong Ý (Apis mellifera), giống ong này chủ yếu đƣợc nuôi ở các tỉnh phía Nam
(Phùng Hữu Chính, 2012 [4]).
Ong mật cung cấp cho con ngƣời nhiều sản phẩm quý nhƣ: phấn hoa, sữa ong
chúa, sáp ong, nọc ong đây là những sản phẩm sinh học rất độc đáo, có giá trị dinh
dƣỡng cao dùng để bồi bổ sức khoẻ, sử dụng trong y học và nhiều ngành công nghiệp
khác. Nuôi ong có nhiều lợi thế vì mọi ngƣời ai cũng có thể nuôi đƣợc, con ong
không đòi hỏi vốn lớn vì chúng tự kiếm đƣợc thức ăn và ngƣời nuôi ong có thể tận
dụng đƣợc các vật liệu sẵn có để làm thùng ong, đồng thời có thể sử dụng đƣợc thời
gian và công lao động nhàn rỗi ở mọi gia đình. Ong mật ít bệnh hơn các giống vật
nuôi khác, kỹ thuật tạo giống nhân đàn đơn giản và điều quan trọng nữa là ong làm
tăng sự đa dạng sinh học của cây rừng, góp phần bảo vệ thiên nhiên, môi trƣờng. Bên
cạnh đó, còn có một lợi ích mà ít ngƣời nhận thấy đƣợc, đó là dùng ong để thụ phấn
cho cây trồng, đây là một biện pháp thâm canh tăng năng suất đạt hiệu quả cao. Theo
tính toán của các nhà khoa học trên thế giới, giá trị thụ phấn do ong đem lại cho các
cây trồng nông nghiệp đặc biệt là các loại cây ăn quả gấp từ 70 đến 140 lần giá trị của
toàn bộ các sản phẩm ngành ong (Roubik, 1995 [134]; Free, 1998 [74]; Phùng Hữu
Chính và cs, 1999 [8]; Pechhacker et al., 2001 [123]; Sivaram, 2004 [145]; Nguyễn
Duy Hoan và cs, 2008 [14]; Partap, 2011 [121]).
Ngành nuôi ong trên thế giới hiện nay đã đạt đƣợc những tiến bộ đáng kể về
cả công tác giống, kỹ thuật chăm sóc nuôi dƣỡng, kỹ thuật khai thác và chế biến các

Bắc Việt Nam.
3.2. Ý nghĩa thực tiễn
Việc nghiên cứu các đặc điểm sinh học sinh sản của ong Apis cerana sẽ làm
cơ sở cho việc chọn lọc giống, nhân đàn và quản lý nâng cao năng suất, chất lƣợng
và hiệu quả kinh tế của nghề nuôi ong, nhằm bổ sung một cách đầy đủ và hoàn thiện
quy trình, kỹ thuật nuôi ong trong nhân dân.
3

4. Những đóng góp mới của luận án
Luận án sẽ là một công trình nghiên cứu sâu, có tính hệ thống về các đặc điểm
sinh học sinh sản của loài ong Apis cerana nuôi ở miền Bắc Việt Nam làm cơ sở cho
việc chọn lọc, nhân giống ong. Các kết quả của đề tài đƣợc công bố và sẽ là tài liệu
tham khảo cho các nhà nghiên cứu, giảng dạy trong ngành nông nghiệp, trong lĩnh
vực sinh học, là căn cứ thực tiễn góp phần hoàn thiện quy trình kỹ thuật nuôi ong nội
trong nƣớc.

4

Chƣơng 1
TỔNG QUAN TÀI LIỆU
1.1. Cơ sở khoa học của đề tài

mà tập trung chủ yếu là các tỉnh miền Bắc và miền Trung, đóng vai trò quan trọng
về kinh tế, xã hội, môi trƣờng. Hiện nay cả nƣớc ta có khoảng hơn 300 nghìn đàn
5

ong nội đang đƣợc nuôi và khai thác mật. Rất nhiều dự án phát triển ong nội đã
tạo việc làm và tăng thu nhập cho ngƣời nghèo ở các tỉnh miền núi và trung du
(Phùng Hữu Chính, 2012 [4]).
1.1.1.2. Sự đa dạng về thành phần loài của ong Apis
Sự đa dạng thành phần loài ong tập trung chủ yếu ở vùng nhiệt đới. Tuy
nhiên, đến nay vẫn chƣa biết chính xác là có bao nhiêu loài ong đang tồn tại ở
vùng nhiệt đới, mà ngƣời ta chỉ ƣớc tính có khoảng 20.000 loài thông qua các mẫu
đang đƣợc lƣu giữ trong các Viện bảo tàng trên khắp thế giới (Roubik, 1989)
[135]. Nhiều nhà khoa học đã phân chia ong mật thành 2 nhóm: Ong mật có ngòi
đốt và ong mật không ngòi đốt (Michener, 2000) [104] (Trong đó có khoảng 9 loài
ong mật có ngòi đốt (Oldroyd et al., 2004) [113] và khoảng 400 loài ong mật
không có ngòi đốt (Sakagami et al., 1987) [140]. Trong 9 loài trên có tới 8 loài
phân bố ở châu Á, còn một loài chỉ phân bố ở châu Âu và châu Phi (Oldroyd et al.,
2004) [113]).
Trƣớc đây nhà phân loại học Maa, 1953 [100] chia ong mật ra làm 3 chi phụ:
Ong mật nhỏ xíu (ong ruồi): Micrapis Ashmead 1904; ong khổng lồ (ong khoái,
ong gác kèo): Megapis Ashmead 1904; Ong Apis làm tổ trong hang hốc cây (gồm
cả ong châu Âu Apis mellifera và ong châu Á Apis cerana): Apis Linnaeus. 1758.
Ong mật thuộc bộ cánh màng (Hymenoptera) và thuộc họ Apidae. Trong họ
đó có phân họ Apinae và chỉ có một tộc (tribe) gồm 4 loài là: Apis mellifera
Linnaeus, Apis cerana Fabricius, Apis dorsata Fabricius và Apis florea Fabricius
(Ruttner, 1988 [138]); còn Maa, (1953) [100]) lại chia thành 34 loài.
Châu Á là vùng phong phú nhất trên thế giới về thành phần loài ong mật
mà tâm điểm là Đông Nam Á (Partap et al., 2000) [122]. Tính đến nay thành phần loài
ong mật đã lên đến 9 loài ở Châu Á: Apis laboriosa Smith 1871, A. dorsata Fabricius
1793, Apis cerana Fabricius 1793, A.nuluensis Tingek, Koeniger và Koeniger 1996,

- Loài (Apis cerana).
Ong nội Apis cerana Fabricius 1793 là một trong 9 loài ong mật có ngòi đốt
của thế giới (Sheppard et al., 2000) [145] và đến nay xác định đƣợc có tới 33 phân
loài trong đó có 9 phân loài đã đƣợc đặt tên (Hepburn et al., 2001 [80]; Kuang et al.,
1996 [91]; Peng et al, 1989 [124]).
1.1.1.3. Các loài ong mật ở Việt Nam
* Ong ngoại A. mellifera
Ong ngoại đƣợc ngƣời Pháp mang vào Việt Nam cùng với cuộc viễn chinh
xâm lƣợc nƣớc ta (Rialan, 1887) [130], nhƣng vào đầu những năm 1960, 200 đàn
ong gốc Ý đƣợc nhập từ Hồng Kông, Đài Loan vào nƣớc ta (Dung P. X. et al.,
7

2000) [72], từ đó nghề nuôi ong thƣơng mại bằng ong ngoại bắt đầu phát triển.
Cũng theo các tác giả này qua hơn 4 thập kỷ chúng đã tỏ ra thích nghi tốt với điều
kiện nguồn hoa và khí hậu của một số vùng Việt Nam, đặc biệt là vùng Nam Bộ và
Tây Nguyên - nơi có nguồn hoa tập trung nhƣ cao su, cà phê, bông trắng (Phạm
Thanh Bình và cs, 1994 [1].
Hiện nay, số đàn ong Ý ƣớc tính trong cả nƣớc vào khoảng 1.200.000 đàn và
đạt sản lƣợng hàng năm khoảng 17.000 - 28.000 tấn mật, chiếm 80-85% tổng sản
lƣợng mật của cả nƣớc và chiếm 100% lƣợng mật xuất khẩu (Phùng Hữu Chính,
2012) [4]. Các sản phẩm của ong ngoại rất đa dạng, ngoài mật, sáp ong còn có
những sản phẩm khác nhƣ phấn hoa, sữa ong chúa và keo ong. Nuôi ong ngoại có
ƣu điểm là dễ áp dụng và đầu tƣ các thiết bị công nghiệp của nghề nuôi ong. Ngƣời
nuôi ong có thể quản lý đƣợc từ 200-500 đàn, do ong ngoại có tính tụ đàn cao, ít
bốc bay, chia đàn và tính dự trữ mật trong đàn lớn khi có nguồn mật hoa bên ngoài
dồi dào. Với các đặc tính ƣu việt trên, nuôi ong ngoại đang trở thành nghề sản xuất
hàng hoá có hiệu quả kinh tế cao ở Miền Nam nƣớc ta (giá trị sản lƣợng/ chi phí sản
xuất = 1,11 (Phạm Thanh Bình và cs, 1994) [1].
* Ong hoang dã:
- Ong khoái (Ong gác kèo) Apis dorsata Fabricius: Loài ong này còn có tên
gọi là ong khổng lồ, vì chúng có kích thƣớc lớn nhất trong các giống ong mật, ong
thợ dài 18mm, ong đực 16mm, ong chúa chỉ dài hơn ong thợ một chút, bụng ong
thợ có màu nâu vàng và chiều dài vòi hút là 6,68mm. Ong khoái có đặc tính xây
một bánh tổ ở ngoài không khí trên cành cây hoặc dƣới các vách đá. Kích thƣớc
bánh tổ khá lớn, phía trên bánh tổ là nơi dự trữ mật, tiếp theo là nơi chứa phấn, ấu
9

trùng và nhộng. Ong A. dorsata thu hoạch mật rất chăm chỉ, dự trữ bình quân là
5kg/đàn cá biệt là 45-50kg/đàn (Phùng Hữu Chính, 2012) [4]).

Hình 1.3. Ong khoái (Apis dorsata)
(Nguồn:
Ở nƣớc ta, ong khoái phân bố ở các tỉnh miền núi phía Bắc, các tỉnh miền
Trung, Tây Nguyên và đặc biệt chúng có nhiều ở các tỉnh Phía Nam, nơi có rừng
Tràm ngập nƣớc. Việc khai thác mật ong khoái là rất khó vì chúng quá hung dữ,
ngƣời ta dùng khói, lửa để đuổi ong hoặc tiêu diệt cả đàn ong để lấy mật. Ngƣời dân
ở các tỉnh nói trên có một hình thức khai thác rất độc đáo, có một không hai trên thế
giới, đó là gác kèo cho ong về làm tổ để khai thác mật, bình quân mỗi ngƣời gác từ
50-60 kèo, thu đƣợc 250kg mật/năm (Phạm Hồng Thái, 1994 [25]; Phùng Hữu
Chính, 2012 [4]).
- Ong đá Apis laboriosa Smith: Loài ong đá này đến nay mới chỉ phát hiện
thấy có tại Mộc Châu, Sơn La, Than Uyên - Lai Châu, Lào Cai, Yên Bái (Phùng
Hữu Chính, 2012 [4]) và Hòa Bình. Chúng làm một bánh tổ trên vách đá với năng
suất mật từ 7-10kg/đàn. Đồng bào H
,
Mông khai thác chủ yếu là để lấy sáp phục vụ
cho việc tạo họa tiết trên vải may mặc (Lê Quang Trung, 1999 [36]).
- Ong ruồi đỏ (Apis florea Fabricius) và ong ruồi đen (Apis andreniformis Smith)

ấu trùng thành cầu nằm thẳng đứng, còn hai loài còn lại sắp xếp lỗ tổ ấu trùng theo
từng đám vô hình. Các khoang chứa mật hình trái xoan, trụ dài 20 - 25mm, trụ ngắn
10 - 18mm. Ong chuẩn bị đầy thức ăn trong lỗ tổ rồi đẻ trứng và vít nắp. Ấu trùng
phát triển trong lỗ tổ, tới khi trƣởng thành chui ra (Phạm Hồng Thái và cs, 1997)
[29]. Quá trình sinh sản ong thợ, ong đực và ong chúa đƣợc theo dõi trên 10 đàn
ong Trigona ventralis trong năm 1999 - 2000, cho thấy số lƣợng ong đực đƣợc sinh
ra tƣơng đƣơng với lƣợng thức ăn dự trữ và số lƣợng ong thợ trong đàn. Khác với
sinh sản của ong đực, ong chúa đƣợc tạo ra trong đàn với số lƣợng rất nhỏ (Chinh
T. X., 2004) [55].
1.1.2. Đặc điểm giải phẫu và cấu tạo lỗ tổ ong mật
1.1.2.1. Đặc điểm giải phẫu cơ thể ong
Theo tác giả Hoàng Đức Nhuận và cs (1980) [17] thì cơ thể ong mật chia làm
3 phần rõ rệt: đầu, ngực và phần bụng, các phần này đƣợc nối với nhau bằng các
khớp động. Ong có 1 đôi râu, 3 đôi chân và 2 đôi cánh. Bên ngoài có lớp vỏ kitin
gồm nhiều tấm nối với nhau tạo lên bộ xƣơng ngoài.
Trong một tổ có 3 loại hình ong: Ong chúa kích thƣớc lớn nhất, cánh ngắn,
bụng dài, có màu nâu đen; ong thợ có màu nâu nhạt hoặc vàng, có một khoanh
vàng; ong đực có màu đen, cánh dài, bụng ngắn.
Phần đầu ong: có cấu tạo hình hộp đƣợc tách biệt với phần ngực. Phía trƣớc
hình tam giác có mắt kép to màu đen, giữa đôi mắt kép là 1 đôi râu (anten), đây là
một cơ quan cảm giác rất nhậy bén, ong dùng râu để phân biệt mùi vị trong, ngoài
tổ và xác định dao động sóng trong không gian, râu ong đực có 13 đốt, ong thợ có
12 đốt. Phần phụ miệng của ong xếp xung quanh miệng thích ứng với chức năng
nghiền - hút. Các phần phụ miệng có xu hƣớng kéo dài thành vòi để luồn sâu vào
hoa hút mật.
Phần ngực của ong gồm 3 đốt: đốt trƣớc, đốt giữa và đốt sau, ở trên cánh có
các gân dọc và gân ngang đƣợc phủ một lớp lông mịn, bờ trƣớc của cánh sau có
móc để móc vào bờ sau của cánh trƣớc để tạo mặt bằng cho 2 cánh khi bay. Mỗi
đốt ngực có một đôi chân, mỗi chân gồm các đốt: đốt háng, đốt chuyển, đùi, ống,
bàn chân, cuối đốt bàn chân có 2 vuốt nhọn và 1 tấm đệm ở giữa. Mỗi một đôi

này chỉ xuất hiện khi đàn ong chia đàn hoặc thay thế chúa tự nhiên và mất chúa, mũ
chúa tự nhiên đƣợc xây ở phía dƣới và 2 bên mép cạnh bánh tổ, số lƣợng 1 - 10 mũ
và có hƣớng vuông góc với mặt đất. Lỗ tổ đặc biệt này có hình búp măng, đƣờng
kính trung bình là 7,2 - 8mm.
Trong mùa sinh sản thì có tới 3/4 số lỗ tổ dùng để nuôi dƣỡng ấu trùng, 1/4
số lỗ tổ để chứa thức ăn, lỗ tổ ong thợ vít nắp phẳng còn lỗ vít nắp ong đực lồi lên
thành hình nón và có một lỗ thủng nhỏ ở chính giữa chỏm nhọn. Việc nghiên cứu
cấu tạo tổ có ý nghĩa rất quan trọng trong việc tạo ra các thùng nuôi phù hợp với
từng vùng, từng loại ong.
13

1.1.3. Một số đặc điểm sinh học, sinh sản của các cấp ong
Nghiên cứu về đặc điểm sinh học, sinh sản của ong mật là lĩnh vực rộng lớn đã
và đang đƣợc tiến hành công phu, tỉ mỷ. Từ nhiều năm trƣớc đây Snodgrass, (1956)
[148] đã xuất bản cuốn sách “Giải phẫu và sinh lý ong mật” Chauvin., (1978) [3] đã
cho ra đời cuốn sách “Sinh học ong mật”.
Ong mật là loài côn trùng sống thành xã hội. Mỗi đàn ong hay tổ ong là một
đơn vị sinh học đƣợc hiểu theo nhiều cách. Theo Michenner (1974) [105] đàn ong
chỉ gồm ong trƣởng thành, nhƣng theo Butler (1975) [51] đàn ong còn bao gồm cả
cầu nhộng và cầu thức ăn. Crane (1995) [64] đã tổng kết rằng một đàn ong A.
cerana phát triển bình thƣờng có một ong chúa, có từ vài nghìn đến hàng vạn con
ong thợ và có từ vài chục đến vài trăm ong đực.
1.1.3.1. Cơ sở vật chất di truyền của ong mật
Ong chúa và ong thợ đều có bộ nhiễm sẳc thể lƣỡng bội (2n = 32) và đều
đƣợc phát triển từ trứng đã đƣợc thụ tinh nên mang đặc điểm của cả bố lẫn mẹ.
Ong thợ khác ong chúa là cơ quan sinh sản của ong thợ phát triển không
hoàn chỉnh nên ong thợ không có khả năng giao phối với ong đực. Trong đàn ong,
những ong thợ có cùng mẹ là ong chúa nhƣng khác bố do ong chúa giao phối với
các ong đực khác nhau vì vậy quan hệ giữa các ong thợ rất phức tạp. Theo Page et
al., (1982 b) [117] ong thợ có 3 mối quan hệ.


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status