BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
BỘ NÔNG NGHIỆP VÀ PTNT
HỌC VIỆN NÔNG NGHIỆP VIỆT NAM
-------
-------
PHẠM THỊ MAI PHƯƠNG
NGHIÊN CỨU TÁC DỤNG KHÁNG KHUẨN
IN VITRO CỦA DỊCH CHIẾT TỎI TRONG MỘT SỐ
DUNG MÔI HỮU CƠ. ỨNG DỤNG TRONG
CHĂN NUÔI GIA CẦM
LUẬN VĂN THẠC SĨ
HÀ NỘI - 2015
BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
BỘ NÔNG NGHIỆP VÀ PTNT
HỌC VIỆN NÔNG NGHIỆP VIỆT NAM
-------
-------
PHẠM THỊ MAI PHƯƠNG
NGHIÊN CỨU TÁC DỤNG KHÁNG KHUẨN
IN VITRO CỦA DỊCH CHIẾT TỎI TRONG MỘT SỐ
DUNG MÔI HỮU CƠ. ỨNG DỤNG TRONG
Trong suốt quá trình thực hiện đề tài và hoàn thành bản luận văn, tôi luôn
nhận được sự giúp đỡ của nhiều tổ chức và cá nhân. Nhân dịp này, tôi xin cảm ơn
Ban Giám đốc Học viện Nông nghiệp Việt Nam, Bộ môn Nội - Chẩn - Dược - Độc
chất khoa Thú y, Bộ môn Công nghệ sinh học thực vật khoa Công nghệ sinh học đã
tạo điều kiện cho tôi được theo học chương trình đào tạo sau đại học tại trường.
Tôi xin chân thành cảm ơn gia đình ông Phạm Văn Thuận chủ gia trại đã tạo
mọi điều kiện thuận lợi trong suốt quá trình thực nghiệm tại cơ sở để tôi thực hiện
và hoàn thành đề tài.
Đặc biệt, tôi xin bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc đến PGS.TS. Bùi Thị Tho và
T.S. Nguyễn Thanh Hải - Học viện Nông nghiệp Việt Nam đã trực tiếp hướng dẫn
khoa học, giúp đỡ tôi trong quá trình thực hiện đề tài và hoàn thành luận văn.
Tôi xin gửi lời cảm ơn sâu sắc nhất tới gia đình, các bạn đồng nghiệp, bạn bè
đã đồng hành, đóng góp công sức, động viên, giúp đỡ tôi hoàn thành luận văn.
Hà Nội, ngày 9 tháng 11 năm 2015
Tác giả luận văn
Phạm Thị Mai Phương
iii
MỤC LỤC
Lời cam đoan
ii
Lời cảm ơn
iii
2
Chương 1 TỔNG QUAN TÀI LIỆU
4
1.1 Những hiểu biết chung về dược liệu
4
1.1.1 Cơ sở khoa học trong nghiên cứu dược liệu học
4
1.1.2 Vai trò và hướng nghiên cứu của dược liệu trên thế giới
5
1.1.3 Vai trò và hướng nghiên cứu của dược liệu ở Việt Nam.
6
1.1.4 Một số thành tựu trong nghiên cứu ứng dụng thảo dược.
6
1.2 Tỏi và các dạng chế phẩm của nó
10
20
1.3.2 Đặc điểm về hình thái, nuôi cấy, đặc tính sinh hóa
21
1.3.3 Đặc điểm kháng nguyên và độc tố
22
1.3.4 Cơ chế gây ngộ độc của E. coli
22
iv
1.3.5 Những hiểu biết về khả năng kháng kháng sinh của vi khuẩn E. coli
1.4 Một số hiểu biết về bệnh E. coli trên vịt
24
25
1.4.1 Nguyên nhân
25
1.4.2 Triệu chứng
2.1.2 Dụng cụ - hóa chất – môi trường
28
2.2 Nội dung nghiên cứu
29
2.2.1 Sử dụng dịch chiết tỏi trong 7 dung môi hữu cơ được chiết xuất
bằng phương pháp ngâm lạnh rồi cô quay chân không.
2.2.2 Ứng dụng tỏi trong chăn nuôi vịt thương phẩm.
2.3 Phương pháp nghiên cứu
29
29
29
2.3.1 Tách chiết dịch chiết tỏi theo phương pháp ngâm lạnh rồi cô quay
29
chân không
2.3.2 Phương pháp xác định mật độ vi khuẩn
30
2.3.3 Phương pháp khảo sát hoạt tính của dịch chiết tỏi trên các chủng
vi khuẩn
31
2.5.1 Thời gian nghiên cứu
36
2.5.2 Địa điểm nghiên cứu
36
2.6 Phương pháp xử lý số liệu
36
Chương 3 KẾT QUẢ VÀ THẢO LUẬN
37
3.1 Tác dụng kháng khuẩn của dịch chiết tỏi trong phòng thí nghiệm chiết
xuất bằng phương pháp ngâm lạnh rồi cô quay chân không trên E. coli
gây bệnh và E. coli kháng thuốc.
37
3.1.1 Kết quả kiểm tra đặc tính cảm quan của các dịch chiết tỏi thu được
trước khi cô quay để đuổi hết dung môi.
37
3.1.2 Kết quả tác dụng kháng khuẩn của các dịch chiết tỏi trong phòng thí
2
Đề nghị
60
TÀI LIỆU THAM KHẢO
61
vi
DANH MỤC CÁC TỪ VIẾT TẮT
Các chữ được viết tắt
Ký hiệu
Ampicillin
Am
Escherichia coli
E. coli
Kanamycin
Ka
Tên bảng
Trang
1.1
Thành phần của tỏi - H.KOCH, L.LAWSWSON (2000)
1.2
Những thay đổi về thành phần trong thời gian lưu trữ chất chiết tỏi
12
(mg/g chất chiết khô)
19
1.3
Thành phần allicin trong tỏi theo thời gian
19
2.1
Tỷ lệ dung môi và tỏi khi chiết
30
CV – Super M
46
3.5
Kết quả mổ khám bệnh tích vịt chết trong các lô theo dõi
48
3.6
Ảnh hưởng của tỏi bổ sung vào thức ăn đến khả năng tăng trọng
của vịt CV- Super M
3.7
50
Ảnh hưởng của tỏi bổ sung vào thức ăn đến tốc độ sinh trưởng
tuyệt đối của vịt CV - Super M (g/con/ngày)
3.8
Ảnh hưởng của tỏi bổ sung vào thức ăn đến tốc độ sinh trưởng
tương đối của vịt CV - Super M (%)
3.9
54
1.2
Vi khuẩn E. coli dưới kính hiển vi điện tử
21
1.3
Cấu tạo vi khuẩn E. coli
21
3.1
Mầu sắc của dịch chiết tỏi trong 7 loại dung môi khác nhau
38
3.2
Hoạt tính kháng khuẩn của 7 dịch chiết tỏi, kháng sinh kanamycin
với E. coli O44 gây bệnh
3.3
38
Hoạt tính kháng khuẩn của 7 dịch chiết tỏi, kháng sinh ampicillin
với E. coli O44 gây bệnh
Hoạt tính kháng khuẩn của 7 dịch chiết tỏi trên chủng vi khuẩn
E. coli pPSI top 10
44
3.9
Khối lượng cơ thể vịt qua các tuần tuổi ở lô đối chứng và lô thí nghiệm
51
3.10
Sinh trưởng tuyệt đối giữa lô đối chứng và lô thí nghiệm
53
3.11
Tốc độ sinh trưởng tương đối của lô thí nghiệm và đối chứng
54
ix
MỞ ĐẦU
1.1. Đặt vấn đề
Hiện nay chăn nuôi gia cầm nước ta đã và đang phát triển, lớn mạnh không
tồn dư trong các sản phẩm chăn nuôi. Vì vậy, dược liệu thảo mộc trở thành
nguồn thuốc quan trọng, góp phần vào việc phòng và chữa bệnh cho vật nuôi, với
mục đích sẽ cung cấp cho người tiêu dùng những sản phẩm sạch có nguồn gốc
động vật đảm bảo an toàn vệ sinh thực phẩm. Trong số các dược liệu quí phải kể
đến tỏi - cây thuốc có nhiều tác dụng tốt.
Xuất phát từ những thực tế trên, để tìm ra một giải pháp thay thế các
thuốc kháng sinh truyền thống bằng các kháng sinh có nguồn gốc thảo mộc,
chúng tôi đã tiến hành nghiên cứu đề tài: “Nghiên cứu tác dụng kháng khuẩn
in vitro của dịch chiết tỏi trong một số dung môi hữu cơ. Ứng dụng trong
chăn nuôi gia cầm”.
1.2. Mục đích của đề tài
Đánh giá tác dụng kháng khuẩn in vitro của dịch chiết tỏi trong một số
dung môi hữu cơ với E. coli gây bệnh tiêu chảy trên gia cầm và E. coli có gen
kháng thuốc kháng sinh
Thông qua các kết quả nghiên cứu trong phòng thí nghiệm chúng tôi thử
nghiệm sử dụng tỏi để phòng, trị bệnh do E. coli gây ra trên vịt.
1.3. Ý nghĩa khoa học và thực tiễn của đề tài
1.3.1. Ý nghĩa thực tiễn
Sự thành công của đề tài sẽ góp phần giảm thiểu tình trạng bệnh do E. coli
gây ra trên đàn vịt cũng như tình trạng kháng thuốc trong chăn nuôi hiện nay. Mở
ra một hướng chăn nuôi mới an toàn sinh học, giảm thiểu ô nhiễm môi trường và
sẽ cung cấp thực phẩm sạch, an toàn cho người tiêu dùng.
Ngoài ra khi dùng các chế phẩm có nguồn gốc thiên nhiên trong phòng và
trị bệnh nói chung, bệnh tiêu chảy nói riêng sẽ góp phần làm phong phú thêm
phác đồ điều trị bệnh do E. coli gây ra trên vật nuôi, hạn chế dùng kháng sinh tổng hợp,
giảm bớt nguy cơ gây hại cho con người, thân thiện với môi trường.
1.3.2. Ý nghĩa khoa học
Để phát triển nông nghiệp an toàn và bền vững, một trong những hướng đi đã
và đang được nhiều nhà khoa học trên thế giới, trong nước quan tâm đó là việc sử
2
truyền nhiễm; nội ngoại khoa; nội ngoại ký sinh trùng tuy có mang lại hiệu quả
cao nhưng cũng gây nhiều tác dụng phụ: đột biến gen, tăng nguy cơ gây ung thư,
gây ô nhiễm môi trường. Trong khi đó nguồn thuốc thảo mộc lại rất phong phú,
dễ kiếm, dễ sử dụng; ít hoặc không độc; giá thành rẻ; Đặc biệt không để lại tồn
dư trong sản phẩm động vật, đảm bảo vệ sinh an toàn thực phẩm; ít gây ảnh
hưởng hoặc không gây ảnh hưởng tới môi trường. Song song với những việc
trên, trong lĩnh vực chăn nuôi – thú y cần phải kết hợp với việc tìm ra dạng bào
chế, liều lượng thích hợp cho từng đối tượng vật nuôi để ứng dụng vào thực tiễn.
Tuy nhiên việc nghiên cứu tác dụng dược lý của vị thuốc không đơn giản và
nhanh chóng. Khó khăn này không chỉ đối với nước ta mà là tình hình chung của
4
nhiều nước có nền khoa học tiên tiến vì đối tượng nghiên cứu là cây, động vật
làm thuốc là những sinh vật còn chứa đựng nhiều bí ẩn chưa khám phá được (Đỗ
Tất Lợi, 1999). Do đó việc đi sâu tìm hiểu, nghiên cứu, khai thác, sử dụng thế
mạnh của thảo dược là hướng đi hết sức đúng đắn, cần thiết hiện nay và trong
tương lai.
1.1.2. Vai trò và hướng nghiên cứu của dược liệu trên thế giới
Thuốc phòng trị bệnh cho người và thú nuôi hầu hết được bào chế từ hai
nguồn: dược liệu và hóa chất. Riêng thảo dược theo thống kê của tổ chức Y tế thế
giới đạt tới 20.000 loài. Việc sử dụng thảo dược hiện không chỉ các nước Á Đông
mà các nước phương Tây cũng tiêu thụ một lượng khá lớn. Ở các nước có nền
công nghiệp phát triển có tới 1/4 số thuốc kê trong đơn đều chứa hoạt chất từ
thảo dược. Riêng ở Mỹ năm 1980 con số thuốc này đã có giá trị 8 tỷ USD. Trong
những năm gần đây xu hướng thế giới dùng thuốc thảo mộc tự nhiên (không tách
hoạt chất) ngày càng nhiều. Hiện có rất nhiều biệt dược, đông dược của Trung
Quốc được tiêu thụ mạnh ở các nước châu Âu. Hiện nay dược liệu có vai trò sau:
+ Dược liệu là nguồn cung cấp nguyên liệu cho việc bán tổng hợp một số
1.1.4. Một số thành tựu trong nghiên cứu ứng dụng thảo dược.
* Trong nhân y
Bên Y tế, việc nghiên cứu cây làm thuốc đã và đang được rất nhiều
trường, viện quan tâm. Do đó những tiến bộ trong công tác nghiên cứu và áp
dụng vào lâm sàng ngày càng phong phú với nhiều mục đích khác nhau. Sau đây
chúng tôi chỉ liệt kê các công trình mới trong phòng, trị các bệnh nguy hiểm: lao,
hủi, ung thư…
Lee I R, Song J.Y, 1992. Nghiên cứu tác dụng của dịch chiết toàn cây
quyền bá – Selaginella tamariscina Beauv trên tế bào ung thư dòng P388 và
MKN 45 invitro. Các tác giả đã cho biết các chất có trong dịch chiết cây bá
quyền có tác dụng làm giảm tế bào sống và làm tăng tế bào chết rất rõ so với lô
đối chứng của tế bào ung thư dòng tế bào P388, còn dòng tế bào MKN 45 chưa
rõ lắm.
Theo A.P.Alineida và cs, 2000. Nghiên cứu tác dụng ức chế sự phát triển
của tế bào lympho và làm giảm tính miễn dịch invivo của cây thuốc bỏng Kalanchoe pinnata.
Theo Phạm Kim Mãn và cs, 2001. Nghiên cứu thuốc panacrin chế từ dịch
6
chiết lá đu đủ, trinh nữ hoàng cung và bột tam thất trong điều trị ung thư.
Theo y học cổ truyền, hạt sầu đâu rừng Brucea javanica dùng làm thuốc
có tác dụng chữa lỵ, sốt rét, mụn cơm, chai chân, tay. Người ta đã phân lập được
hơn 50 hoạt chất thuộc nhóm quassinoid. Nhưng theo Bao - Ning Su và cs
(2002), khi nghiên cứu tác dụng của chất chiết từ hạt cây sầu đâu rừng tác giả đã
tìm thêm được một chất mới là yadanzio S có tác dụng biệt hóa trên tế bào tiền
tủy bao vây ung thư bạch cầu.
Từ cây Đại (Plumeria rubra Linn var. acutifolia Baill) chiết được chất
fulvoplumierin có tác dụng ức chế vi khuẩn lao ở nồng độ 1-5µg/ml (Vũ Xuân
Quang, 1993).
Tác dụng chống trứng làm tổ của alcaloid từ rễ cây nguyệt quì - Maraya
Phạm Khắc Hiếu và Bùi Thị Tho (1996) theo dõi tính kháng thuốc kháng
sinh và phytoncid của hai loại vi khuẩn E. coli và Salmonella đã cho biết: Các vi
khuẩn này kháng lại thuốc hóa học trị liệu (streptomycin, neomycin,
tetracyclin…) rất nhanh, đồng thời giữa chúng lại có hiện tượng kháng chéo.
Trong khi đó hiện nay chưa thấy E. coli và Salmonella kháng lại phytoncid của
tỏi, hẹ mặc dù cha ông ta đã sử dụng hai loại dược liệu này từ xa xưa và rất
thường xuyên.
Trong phòng thí nghiệm, thời gian để tạo được các chủng vi khuẩn liệu.
Khi tăng nồng độ phytoncid lên 5 lần nồng độ tạo kháng, toàn bộ vi khuẩn đã
kháng lại tỏi và hẹ đã bị tiêu diệt. Trong khi đó đối với các thuốc hóa học trị
liệu, mặc dù đã tăng nồng độ lên 120 lần (thậm chí cao hơn) so với nồng độ
tạo kháng mà vi khuẩn vẫn sống.
Theo Trần Quang Hùng (1995) trong thuốc lá và thuốc lào có chứa các
ancaloid - kiềm thực vật: Nicotin và Nornicotin, chế phẩm nicotin trừ được ngoại ký
sinh trùng thú y và côn trùng hại rau màu và cây công nghiệp. Nicotin nhanh chóng
phân giải trong môi trường nên không gây ô nhiễm môi trường.
Dịch chiết lá thuốc lào khô 0,4%, dịch chiết hạt na 8% trong môi trường
kiềm yếu; dịch chiết củ bách bộ trong môi trường acid yếu trị ve, ghẻ của chó và
bò có hiệu quả cao (Nguyễn Văn Tý, 2002).
Từ cây cà gai leo (Solanum hainanense Hanse) đã tinh chế được hoạt chất
Haina có tác dụng chống viêm (Nguyễn Văn Tý, 2002)
Theo Nguyễn Hữu Nhạ và Hoàng Quang Nghi 1978, dùng cây nghể răm
8
tươi giã nát, sát lên chỗ ghẻ của gia súc ngày 1 - 2 lần hoặc có thể nấu nước nghể
răm tắm cho gia súc chữa ghẻ.
Bùi Ngân Tâm, 2003. Từ cây chè (Thea cinensis) có hoạt chất như cafein,
men oxy hóa theaza ngoài tác dụng thông thường như giải cảm, giải độc, lợi tiểu,
người ta còn phát hiện một giá trị đặc biệt là làm tăng sức đề kháng của trẻ em
Loài người biết dùng củ tỏi là gia vị và làm thuốc từ thời kỳ đồ đá. Y
học dân gian cổ truyền của các dân tộc cũng có nhiều kinh nghiệm dùng tỏi
chữa bệnh. Các nhà khoa học cũng có hàng ngàn công trình nghiên cứu về tác
dụng chữa bệnh và các chế phẩm làm thuốc từ củ tỏi ta (hiện nay vẫn tiếp tục
nghiên cứu).
Hình 1.1. Tỏi thí nghiệm (minh họa)
Theo Vũ Xuân Quang (1993). Cây tỏi ta, tên khoa học Allium sativum
Linn, họ hành tỏi (Liliaceae). Cùng với tên tỏi có rất nhiều loại tỏi khác nhau như
tỏi voi, tỏi Trung Quốc, tỏi Pháp, tỏi gấu, tỏi ngọc v.v. Nhưng chỉ có củ tỏi ta là
được ưa chuộng dùng làm gia vị và làm thuốc, không chỉ ở Việt Nam mà trên
toàn thế giới. Vì tỏi ta củ nhỏ, thơm và có nhiều công dụng quý, tiếng Anh gọi tỏi
ta là Garlic để phân biệt với các loại tỏi khác gọi là Leek. Trong tỏi tươi có chất
alliin, nhờ tác dụng của men allinaza sẽ thủy phân thành allixin là chất kháng
sinh bay hơi. Năm 1948 còn phân lập được từ tỏi một chất gọi là allistalin, có
tính kháng sinh giống như allixin. Năm đó cũng phân lập được từ tỏi chất gacxin
10
màu vàng, không độc, có tác dụng với cả vi khuẩn Gram (-) và Gram (+) như:
Bacillus subtilis, Diplocococus pneumoniae, Escherichia coli, Salmonella typhi,
Shigella flexneri, Shigella dysenteriae, Shigella sonnei, Staphylococcus aureus
20gp, Streptococcus haemolytycus.
1.2.1. Phân bố và mô tả cây
Tỏi có nguồn gốc ở Sibêri, hiện nay đang được trồng khắp châu Âu, Á. Ở
Việt Nam, tỏi được trồng khắp mọi nơi và có nhiều vùng trồng tỏi nổi tiếng Lý
Sơn, Phan Rang, Bắc Giang, Hải Dương… Ngoài mục đích làm thuốc, làm gia vị
tỏi cũng là mặt hàng xuất khẩu lấy ngoại tệ. Tỏi là cây thân nhỏ, mọc từ thân củ
lên, cao 20-40cm. Thân giả mang nhiều lá dài hẹp. Giữa củ mọc nên cuống mang
Alliin là một acid amin, dưới tác dụng của men alliinaza (cũng có trong củ tỏi)
alliin bị thuỷ phân cho ra Allixin. Quá trình thuỷ phân alliin chỉ xảy ra khi gặp
men alliinaza trong môi trường nước. Điều này giải thích tại sao khi sử dụng tỏi
buộc phải nghiền hay giã nát rồi ngâm trong nước cất lạnh. Ngoài ra trong tỏi còn
có một số thành phần quan trọng khác sau:
Bảng 1.1. Thành phần của tỏi - H.KOCH, L.LAWSWSON (2000)
Thành phần
Số lượng (% khi tươi)
Nước
62-68
Carbohydrates
26-30
Protein
1,5-2,1
1-1,5
Amino acid thông thường
Amino acid cysteinessulfoxides
0,6-1,9
γ-glutamylcysteines
0,04-0,11
Toàn bộ các hợp chất hòa tan trong dầu
0,15 (để nguyên)-0,7 (cắt ra)
Toàn bộ các hợp chất hòa tan trong nước
97
12
1.2.3. Tác dụng dược lý
Theo Vũ Xuân Quang (1993), trong tỏi tươi có chất alliin, nhờ tác dụng
của men allinaza biến thành allixin là kháng sinh chủ yếu gây nên tác dụng đối
với vi khuẩn. Năm 1948 đã phân lập được từ tỏi một chất khác được đặt tên là
allistalin, chất này có tính chất giống như allixin. Ngoài ra còn phân lập được từ
tỏi gacxin là chất kháng khuẩn màu vàng, không độc, có tác dụng đến cả vi
khuẩn gram (-) và gram (+). Nước ép của tỏi tươi có tác dụng với nhiều loại vi
khuẩn gram (-) và gram (+) như sau:
Allixin có hoạt phổ kháng sinh rộng và mạnh, có tác dụng với nhiều loại
vi khuẩn lẫn virus và cả nguyên sinh động vật.
- Với vi khuẩn: có tác dụng diệt khuẩn rất mạnh với Staphylococcus,
Salmonella, Para Salmonella, vi trùng tả, lỵ, trực khuẩn bệch bạch hầu, vi khuẩn
gây thối…
Hầu hết các loại vi khuẩn gây bệnh cho người và gia súc ở giai đoạn dinh
dưỡng đều bị tỏi tiêu diệt. Tác dụng diệt khuẩn của Allixin rất mạnh. Trong ống
nghiệm Allixin pha loãng ở nồng độ 1/85000, 1/125000 đã đủ sức ức chế sự phát
triển của cầu trùng, Staphylococus, Salmonella,…Cùng trong điều kiện như vậy
ether, trong nước không ổn định, dễ bị kiềm phá hủy, trong môi trường axit nhẹ ít
bị ảnh hưởng. Khi pha chế thuốc để tiêm hay dung dịch nhỏ mũi tốt nhất nên pha
trong môi trường axit nhẹ.
+ Allixin dễ kích ứng da và niêm mạc. Ta có thể dùng tỏi hay cồn tỏi xoa
bóp ngoài da, điều trị các ổ viêm thời kỳ: sưng - nóng - đỏ - đau.
+ Allixin không bị PABA cạnh tranh, dùng tỏi điều trị các vết thương có mủ.
1.2.5. Ứng dụng trong phòng, trị bệnh cho vật nuôi
Tỏi có vị cay, mùi hắc, tính nồng nên có tác dụng thông khiếu, tiêu mụn
nhọt, trừ đờm, lợi tiểu, sát trùng. Lâm sàng dùng tỏi trị ho có đờm, cảm cúm, ung
nhọt, viêm phế quản mãn, ho gà, cúm và lỵ trực trùng. Nước ép tỏi pha loãng
1/160 còn có tác dụng với amip thực nghiệm (Enta - moeba inosh kovkii). Tỏi
còn dùng chữa tăng huyết áp, rắn rết cắn.
+ Chữa các chứng viêm đường tiêu hóa: Dạ dày và ruột do vi khuẩn và
Amip gây ra cả thể cấp và mãn tính, đều có kết quả tốt.
+ Chứng liệt dạ cỏ, chướng bụng đầy hơi, táo bón, của mọi động vật nuôi.
+ Chữa các bệnh về hô hấp: Viêm họng, viêm phế quản, viêm phổi do
14
Allixin được bài tiết qua đường hô hấp.
+ Chữa các ổ viêm, áp xe, chín mé, vết thương nhiễm trùng đều cho kết
quả tốt. Nếu so sánh với việc chữa bằng penicillin, tỏi chữa vết thương nhanh
lành hơn.
a, Một số nghiên cứu trên thế giới
Theo New Scientist 2001, các nhà nghiên cứu Thụy Sĩ đã thử nghiệm
dược tính của tỏi cho nhóm 128 con lợn con sau khi chúng được cai sữa. Sau 5
tuần thí nghiệm, kết quả cho thấy bột tỏi có một tác dụng tích cực lên sự tăng
trưởng, giảm tỷ lệ chết và tiêu chảy.
Nghiên cứu của A.B. Omojola, S.S. Fagbuaro and A.A. Ayeni 2009,
chứng minh bột tỏi bổ sung vào thức ăn có khả năng làm giảm cholesterol, cải