MỤC LỤC
Lời cam đoan
ii
Lời cảm ơn
iii
Mục lục
iv
Danh mục các từ viết tắt và kí hiệu
vi
Danh mục bảng
vii
Danh mục hình
viii
MỞ ĐẦU
1
1. Tính cấp thiết của đề tài
1.2.3. Nghiên cứu một số biện pháp phòng trừ bọ trĩ
1.3. Những nghiên cứu tại Việt Nam
11
14
1.3.1. Những nghiên cứu về thành phần bọ trĩ
14
1.3.2. Những nghiên cứu về biện pháp phòng trừ bọ trĩ
16
Chương 2. NỘI DUNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
18
2.1. Đối tượng, vật liệu và dụng cụ nghiên cứu
18
2.2. Thời gian và địa điểm nghiên cứu
19
2.3. Nội dung nghiên cứu
19
28
28
3.2. Đặc điểm phân loại của các loài bọ trĩ trên một số loại rau gia vị tại
Thường Tín, Hà Nội
29
3.2.1. Loài Scirtothrips dorsalis Hood, họ Thripidae, bộ Thysanoptera
29
3.2.2. Loài Haplothrips sp., họ Phlaeothripidae, bộ Thysanoptera
31
3.2.3. Loài Thrips hawaiiensis Morgan, họ Thripidae, bộ Thysanoptera
32
3.2.4. Loài Frankliniella intonsa Trybom, họ Thripidae, bộ Thysanoptera
34
3.2.5. Loài Frankliniella occidentalis Pergande, họ Thripidae, bộ Thysanoptera
35
3.2.6. Loài Megalulothrips sp., họ Thripidae, bộ Thysanoptera
Nội năm 2014-2015
3.4.3. Diễn biến mật độ bọ trĩ trên cây rau tía tô tại Thường Tín, Hà
Nội năm 2014-2015
51
3.5. Thử nghiệm một số biện pháp phòng trừ bọ trĩ trên cây tía tô
53
3.5.1. Phương pháp quây nilon quanh ruộng
53
3.5.2. Khảo sát hiệu lực của một số loại thuốc trừ bọ trĩ ngoài đồng ruộng
54
KẾT LUẬN VÀ ĐỀ NGHỊ
57
1. Kết luận
57
2. Đề nghị
57
Nhắc lại
NXB
Nhà xuất bản
TS
Tiến sĩ
TT
Trưởng thành
vi
DANH MỤC BẢNG
STT
Tên bảng
Trang
2.1
Tên thuốc BVTV trừ bọ trĩ và nồng độ, liều lượng sử dụng
26
45
3.6
Thành phần loài bọ trĩ trên ngải cứu tại Thường Tín- Hà Nội năm 2014
45
3.7
Thành phần loài bọ trĩ trên rau lá mơ tại Thường Tín- Hà Nội năm 2014
46
3.8
Thành phần loài bọ trĩ trên rau răm tại Thường Tín- Hà Nội năm 2014
46
3.9
Thành phần loài bọ trĩ trên cây sả tại Thường Tín- Hà Nội năm 2014
47
3.10
Thành phần loài bọ trĩ trên cây hành tại Thường Tín - Hà Nội
năm 2014.
52
Diễn biến mật độ bọ trĩ hại hại tía tô ở 2 công thức được quây
nilon và công thức đối chứng không quây nilon tại Thường Tín,
3.16
Hà Nội
53
Hiệu lực (%) của thuốc BVTV trừ bọ trĩ trên cây rau tía tô
54
vii
DANH MỤC HÌNH
STT
Tên hình
Trang
2.1
Dụng cụ thu mẫu
21
2.7
Thu mẫu trên cây tía tô
21
2.8
Thu mẫu trên hành
21
2.9
Một số mẫu thu được
21
2.10
Thu mẫu Kinh giới
22
2.11
Mẫu vật thu được.
30
3.2
Đặc điểm hình thái của loài Haplothrips sp.
31
3.3
Đặc điểm hình thái loài Thrips hawaiiensis Morgan.
33
3.4
Đặc điểm hình thái của Frankliniella intonsa Trybom
34
3.5
Đặc điểm hình thái của Frankliniella occidentalis Pergande
36
3.6
Đặc điểm hình thái loài Megalulothrips sp.
1. Tính cấp thiết của đề tài
Rau là cây thực phẩm quan trọng về mặt dinh dưỡng, nó rất cần thiết và
cung cấp nhiều loại vitamin cho sự sống của con người, đặc biệt rau gia vị là loại
rau không thể thiếu cho mỗi bữa ăn của gia đình Việt cũng như trên thế giới, giúp
cho món ăn có hương vị đặc trưng toát ra từ tinh dầu của mỗi loại rau mang lại
cảm giác ngon miệng, là vị thuốc hữu ích đối với sức khỏe chúng ta. Bên cạnh đó
rau gia vị có vai trò điều hòa tính hàn nhiệt của thực phẩm. Ngoài ra, rau còn có
tác dụng kích thích các giác quan của con người, làm tiết dịch tiêu hóa nhiều hơn,
thức ăn tiêu hóa nhanh, các chất dinh dưỡng được hấp thụ nhiều (Tạ Thu Cúc và
cs, 2000). Chính vì vậy mà nhu cầu về rau gia vị đang ngày càng được tăng cao.
Bên cạnh phục vụ nhu cầu trong nước thì rau gia vị còn là một mặt hàng
xuất khẩu đầy tiềm năng bởi rau gia vị rất phong phú, đa dạng và giúp cho món
ăn thêm sắc màu, tạo hương vị độc đáo riêng, phù hợp với các món ăn của nhiều
quốc gia trên thế giới.
Để đáp ứng nhu cầu ngày càng tăng của người tiêu dùng, hiện nay người
nông dân đã gia tăng sản lượng bằng cách mở rộng diện tích và thâm canh nhằm
tăng năng suất qua việc sử dụng khối lượng lớn thuốc bảo vệ thực vật, phân bón
(đặc biệt là lạm dụng phân đạm), chất kích thích sinh trưởng… điều đó làm nảy
sinh ra nhiều vấn đề như dư lượng thuốc BVTV, dư lượng nitrat trong rau…Song
song với việc thâm canh tăng năng suất thì tình hình dịch hại trên nhóm rau màu
này cũng ngày càng trở nên phổ biến tới mức khó kiểm soát, đặc biệt khi đối
tượng gây hại là các loại côn trùng nhỏ thì việc phát hiện sớm để phòng trừ là rất
khó khăn trong đó có các loài bọ trĩ.
Trong những đối tượng kiểm dịch thực vật thì bọ trĩ thuộc đối tượng kiểm
dịch nhóm I. Những năm gần đây, bọ trĩ trở thành loài sâu gây thiệt hại nghiêm
trọng trên nhiều loại cây trồng khác nhau từ giai đoạn cây giống đến khi thu
hoạch. Điều đáng nói bọ trĩ phát triển quanh năm, kể cả mùa đông nhưng phát
triển mạnh và có mật độ cao khi nhiệt độ ấm và trời khô lạnh, hơn nữa một số
1
tại Thường tín, Hà Nội.
2
- Điều tra diễn biến mật độ của bọ trĩ trên một số loại rau gia vị chủ yếu tại
Thường Tín, Hà Nội.
- Thử nghiệm một số biện pháp phòng trừ bọ trĩ trên cây rau tía tô.
3. Ý nghĩa khoa học và thực tiễn của đề tài
3.1. Ý nghĩa khoa học
Kết quả điều tra nghiên cứu góp phần bổ sung thành phần, diễn biến mật
độ bọ trĩ hại rau gia vị và kết quả thử nghiệm một số biện pháp phòng trừ bọ trĩ ở
vùng nghiên cứu. Đây là những dẫn liệu khoa học giúp người sản xuất nhận biết
bọ trĩ hại rau và biện pháp phòng trừ trên đồng ruộng.
3.2. Ý nghĩa thực tiễn
Trên cơ sở kết quả điều tra nghiên cứu và thử nghiệm một số biện pháp
phòng trừ để từ đó đề xuất biện pháp phòng trừ bọ trĩ hại rau gia vị theo hướng
tổng hợp (IPM) có hiệu quả kinh tế và giảm sử dụng thuốc góp phần quản lý
kiểm dịch thực vật trên sản phẩm rau gia vị.
3
Chương 1. TỔNG QUAN TÀI LIỆU
1.1. Cơ sở khoa học của việc nghiên cứu
Bọ trĩ là loài đa thực, chúng hại trên nhiều cây trồng, ở nhiều nước khác
nhau, tuy cơ thể nhỏ bé nhưng bọ trĩ có khả năng phát tán, dũa hút dịch của lá, nụ
hoa và quả non gây thành những dịch hại làm ảnh hưởng nghiêm trọng đến năng
suất, phẩm chất cây trồng.
Bên cạnh sự gây hại trực tiếp trên cây trồng, bọ trĩ còn tạo ra các vết
thương làm tăng khả năng nhiễm bệnh của cây, đặc biệt chúng là môi giới truyền
Terebrantia có 290 loài thuộc 74 chi trong họ Thripidae, 18 loài thuộc 3 chi trong
họ Aeolothripidae, 2 loài thuộc 1 chi trong họ Melanthripidae và 3 loài thuộc 1
chi trong họ Merothripidae. Bộ phụ Tubulifera có 253 loài thuộc 76 chi đều
thuộc họ Phalaeothripidae và có 2 loài mới được ghi nhận ở Trung Quốc là
Aeolothrips collaris và Odontothrips meliloti.
Tại Thổ Nhĩ Kỳ, trong một cuộc khảo sát trên cây cam, quýt tại Adana,
Mersin, Hà Tây và tỉnh Osmaniye trong khu vực Đông Địa Trung Hải của Thổ
Nhĩ Kỳ vào năm 2003 và 2004 đã xác định được 8 loài bọ trĩ gây hại trên các
mẫu hoa thu thập được. Trong đó có 5 loài thuộc họ Thripidae, 2 loài thuộc họ
Phlaeothripida và một loài thuộc họ Aeolothripida. Các loài bọ trĩ bao gồm:
Frankliniella occidentalis (Pergande), Thrips meridionalis (Priesner), Thrips
major (Uzel), Thrips tabaci (Lindeman), Pezothrips kellyanus (Bagnall),
Haplothrips reuteri (Karny), H. distinguendus (Uzel) và Melanthrips sp. (Nas et
al., 2007).
Pobozniak and Sobolewska (2011) cho biết ở Ba Lan, trong cuộc điều tra
thành phần bọ trĩ trên các loại cây thảo mộc ở Vườn thảo mộc – Khoa Nông học
– Trường Nông nghiệp Cracow từ năm 2004 đến năm 2006 và ở Vườn thực vật
Cracow từ năm 2006 đến năm 2008 đã thu thập được 16058 cá thể trưởng thành
bọ trĩ Thysanoptera thuộc trên 37 loài thảo mộc khác nhau. Các loài chiếm ưu thế
gồm có Thrips fuscipennis, Thrips flavus, Frankliniella intonsa, Thrips
albopilosus và Thrips major. Một số loài bọ trĩ phá hại cây trồng một cách
nghiêm trọng, một trong số đó là Thrips tabaci, loài này được phát hiện gây hại
trên 27 loài cây thảo mộc.
Theo Chen and Chang (1987), đã tìm thấy 156 loài bọ trĩ ở Đài Loan trong
5
đó có 70 loài gây hại trên cây trồng. Riêng trên cây rau Wang (1989) cho rằng có
27 loài bọ trĩ. Các loài có ý nghĩa quan trọng là Thrips palmi Karny,
Frankliniella intosa Trybom, Thrips tabaci Linderman, Megalurothrips usitatus
thế giới, đồng thời là vectơ truyền bệnh virus và vi khuẩn cho cây. Bọ trĩ bay
kém nhưng có thể dễ dàng lây lan khoảng cách xa bằng cách bay theo gió hoặc di
chuyển trên thực vật bị nhiễm khuẩn. Loài bọ trĩ mới có thể gây ra mối đe dọa
nghiêm trọng và khó xác định.
Bọ trĩ dùng miệng xuyên qua tế bào thực vật và hút dịch bên trong làm tế
bào thực vật bị phá vỡ, dẫn đến biến dạng lá, hoa hoặc các đốm bạc nhỏ li ti trên
lá dần mở rộng. Nếu bọ trĩ tiếp tục ăn trên bề mặt lá hoặc cánh hoa thì sẽ xuất
hiện những vết sẹo nhỏ hay các đốm bạc. Nếu bọ trĩ ăn trong nụ đang phát triển
các tế bào sẽ không phát triển được như ở lá có thể bị rụng nếu bị nhiễm nặng. Ở
một số cây đang sinh trưởng nơi mà trứng bọ trĩ đã được đưa vào trong cây sẽ tạo
thành một điểm chết hoặc bị đổi màu, một vài loài bọ trĩ cũng được biết đến như
là vector của virus cho thực vật nhất định.
Cho đến nay đã có rất nhiều công trình công bố thiệt hại do bọ trĩ gây ra
trên thế giới như Philippin, Indonesia, Malaysia, Thái Lan, Đài Loan, Ấn Độ.
Chúng gây hại nhiều loại cây trồng như dưa hấu, khoai tây, đậu đỗ, bầu bí, hành
tỏi, ớt, lúa, ngô,… Ở Đông Nam Á: Năm 1925, trong quá trình thu mẫu trên cây
thuốc lá ở Sumatra-Indonesia Karny đã phát hiện ra loài bọ trĩ Thrips palmi, vào
thời điểm này chúng được xem là một loài mới, sau đó vào năm 1929
Dammerman cũng đã chỉ ra rằng Thrips Palmi là loài bọ trĩ phổ biến nhất trên
đảo Java và Sumatra ở Indonesia. Loài gây hại chính trên rau ở Indonesia là
Thrips tabaci Linderman, Thrips palmi Karny và Thrips parvispinus Karny. Bọ
trĩ cũng như nhiều loài sâu bệnh hại nguy hiểm khác được coi là yếu tố quan
trọng ảnh hưởng đến sản xuất rau ở Indonesia. Theo thống kê ở miền đồng bằng
của miền trung Java, bọ trĩ (Thrips tabaci Lindeman) đã gây hại đáng kể trên cây
hành non đặc biệt vào mùa khô. Chúng gây hại trên các bộ phận của cây trồng
như nõn, lá, hoa và quả non.
Bọ trĩ xuất hiện nhiều ở thực vật, đặc biệt là trong hoa. Chúng phá hủy
thực vật bằng nhiều cách, chẳng hạn như tạo u sưng, làm phồng lá lên và sống ở
bên trong. Bọ trĩ là một trong những loài gây hại nghiêm trọng cho cây trồng,
làm hư hại các loại rau quả làm thiệt hại kinh tế tại Thái Lan. Chúng còn được
Ở Philippines, trong những năm gần đây bọ trĩ đã trở thành sâu hại nguy hiểm
gây hại đáng kể đối với một số loại cây trồng ở quy mô trung bình hoặc lớn, tuy nhiên
người nông dân chưa hiểu và phát hiện được chúng do thời gian xuất hiện và biến
8
động số lượng của chúng thay đổi theo mùa vụ và vùng sinh thái. Nhiều nghiên cứu
cho rằng, những loài bọ trĩ phổ biến nhất trên rau là Thrips palmi Karny mà trước đây
người ta cho là loài bọ trĩ Thrips tabaci Lindeman. Cho đến tận cuối năm 1970, bọ trĩ
Thrips palmi Karny được xác định là gây hại nghiêm trọng trên dưa hấu, dưa chuột,
dưa bở, cà chua, cà và khoai tây. Một số trường hợp bọ trĩ hại nặng làm cho cây rau
chết hàng loạt. Người ta còn phát hiện bọ trĩ hại đáng kể trên tỏi nhưng chưa xác định
tên loài. Ở một số vùng trồng rau mật độ quần thể bọ trĩ Megalurothrips usitaus
Bagnall lên khá cao và gây hại trên cà chua, khoai tây (Talekar, 1991).
Công bố của Mammen and Naier (1997) chỉ rõ bọ trĩ Thrips palmi được
phát hiện sớm ở Philippines vào năm 1997, vào thời điểm đó chúng phá hại hầu
như 80% các ruộng dưa hấu ở miền Trung Luzon và Laguna. Việc trồng cà tím
với quy mô lớn để lấy hạt giống xuất khẩu bị Thrips palmi phá hại rất nặng. Để
phòng chống chúng nông dân sử dụng thuốc hóa học 4 ngày 1 lần nhưng không
đạt hiệu quả như mong muốn.
Năm 1989-1990 một nghiên cứu về Thrips parvispinus trên ớt được tiến
hành ở các vùng đất thấp. Kết quả sơ bộ cho thấy loài này có thể gây ra thiệt hại
năng suất 22,8% (Sastrosiswojo, 1991).
Trong khu vực Brebes (Indonesia), ớt được trồng ở cả hai mùa: mùa khô
(tháng 4 - tháng 10) và mùa mưa (tháng 11- tháng 3). Kết quả nghiên cứu cho
thấy ở hai thời điểm trồng khác nhau thì bọ trĩ gây hại nặng trong mùa khô hơn là
mùa mưa. Có thể giải thích rằng bởi vì mùa mưa làm rửa trôi bọ trĩ và tỷ lệ tử
vong cao hơn do trong điều kiện ẩm ướt làm gia tăng hoạt động của nấm gây
bệnh cho côn trùng (Vos et al., 1991). Lewis (1973), cho rằng bọ trĩ dễ bị tổn
thương với độ ẩm đất quá cao hoặc thấp.
Frankliniella sp. Hại trên cây họ đậu (Sastrosiswojo, 1991). Thrips (=
Isoneurothrips ) parvispinus (Karny) là một dịch hại nghiêm trọng của ớt ở
Indonesia. Chúng gây hại ở lá phía dưới sau đó lây lan lên các lá trên trong giai
đoạn sinh trưởng của cây. Nhiều đốm màu bạc xuất hiện gần các gân lá, sau đó
thường nối với nhau, dẫn đến gân lá có màu trắng lốm đốm. Các vết bạc để lại
sẹo và làm biến dạng lá, hoa và quả; sự đổi màu cộng với phân của chúng và sự
phát triển của nấm mốc nên lúc này thường dễ phát hiện. Tuy nhiên, tầm quan
trọng về kinh tế của chúng là khó đánh giá, đặc biệt là nếu kết hợp với sự tấn
công của virus (Taleka, 1991).
10
Tại Ấn Độ, Scirtothrips dorsalis gây hại nghiêm trọng trên lạc làm thất thu
năng suất trung bình 29,3%, ngoài ra còn gây hại trên bông, chè, cà phê (Talekar,
1991)
Bệnh chết chồi do virus lan truyền rộng rãi ở nhiều quốc gia trồng lạc trên
thế giới mà cho đến nay người ta đã biết là do bọ trĩ truyền bệnh. Ghanekar et al.
(1978) cho biết, loài bọ trĩ Scirtothrips dorsalis là vectơ truyền bệnh. Tới những
năm sau đó thì Palmer et al. (1989) đã phát hiện ra loài Thrips palmi là đối tượng
chính truyền bệnh chết chồi lạc. Điều này Syed et al. (1996) đã kiểm chứng trên
các loài bọ trĩ: Scitorthrip dorsalis, Frankliniella schultzei, Frankliniella intonsa
và Thrips palmi. Bọ trĩ được xem là dịch hại nguy hiểm bởi sự có mặt và gây hại
của chúng buộc người dân phải phun thuốc hóa học mà lẽ ra không cần thiết phải
phòng trừ. Hậu quả của nó làm bùng phát dịch hại khác do mất cân bằng sinh học
(Ranga Rao and Shanower, 1998).
Trong vùng đồng bằng miền Trung Java, cây hẹ thường bị phá hủy do sự
phá hoại nặng nề của Thrips tabaci (Lindeman), đặc biệt là trong mùa khô. Bọ trĩ
thường kiếm ăn ở mặt dưới của lá. Chúng hút các dịch bên trong của mô tế bào
thực vật, kết quả là không gian không khí phát triển trong các mô này và lá trở
nên méo mó. Lá bị hư hỏng thường xuyên tạo thành những đốm bạc nhỏ li ti (dẫn
Theo Kueppe (2004), việc bố trí thời vụ hợp lý giúp ngăn cản sự di
chuyển của bọ trĩ từ cây ký chủ phụ sang cây trồng chính và có thể hạn chế sự
phát triển mạnh của chúng.
Trong thực tế bọ trĩ không phải là vấn đề đáng lo ngại trong mùa mưa. Bởi
vì, mưa giúp rửa trôi một lượng đáng kể bọ trĩ cũng như côn trùng nhỏ trên cây,
mật độ bọ trĩ thường đạt cao nhất vào cuối mùa khô (Rueda and Shelton, 1995).
Bọ trĩ khi di chuyển khoảng cách xa phải nhờ gió vì vậy những ruộng gieo
sau nên bố trí phía đầu gió so với các ruộng đã gieo để hạn chế sự lây lan của bọ
trĩ vào ruộng mới trồng (Rueda and Shelton, 1995).
Việc tiêu hủy cỏ dại trên đồng ruộng cũng có thể làm giảm mật độ bọ trĩ vì
đây là những chỗ qua đông và tái xâm nhiễm của bọ trĩ (Kuepper, 2004).
Bọ trĩ có tính dễ bị hấp dẫn bởi màu sắc, những nghiên cứu ở Loiuisiana
đã chỉ ra rằng loại màng phủ được tráng nhôm có tính phản quang có khả năng
làm giảm mật độ bọ trĩ từ 33% đến 68% (Quarles and William, 1990).
12
1.2.3.4. Biện pháp canh tác học
Việc tiến hành quản lý cây trồng theo IPM giúp tăng cường sự sinh trưởng
của cây, giảm sự tấn công của dịch hại bọ trĩ và đôi khi có thể hạn chế sử dụng
các biện pháp hóa học. Các biện pháp có lợi có thể áp dụng lâu dài như: luân
canh cây trồng, canh tác, tưới tiêu, thời gian gieo trồng và thu hoạch, khoảng
cách cây và xen canh thích hợp.
Biện pháp luân canh có hiệu quả giúp hạn chế các loài sống trong đất hoặc
trên tàn dư cây trồng
Theo Weber et al. (1998), xen canh có tác dụng làm giảm tác hại của bệnh
và các côn trùng gây hại trên nhiều loại rau. Việc trồng xen với cây ngũ cốc
(không phải là ký chủ của bọ trĩ) có thể giảm sự gây hại của bọ trĩ trên cây trồng
chính. Ở Anh, khi xen canh giữa hành và cà rốt, mức độ nhiễm bọ trĩ Thrips
trĩ chiếm ưu thế cao trong quần thể sinh vật từ đó dẫn đến sự bùng nổ về số
lượng, gây hại nghiêm trọng và đã trở thành sâu hại chủ yếu trên đồng ruộng.
Trong những năm qua đã có nhiều công trình nghiên cứu về bọ trĩ được
tiến hành trên các loại cây trồng khác nhau: Lạc, dưa hấu, xoài, khoai tây, hoa
cúc, cam quýt, đậu trạch, lúa, bông, ớt, dưa chuột, nho… đã ghi nhận được khá
nhiều loài với mật độ gây hại khác nhau.
1.3.1. Những nghiên cứu về thành phần bọ trĩ
Theo kết quả nghiên cứu của Nguyễn Đức Thắng (2011), thành phần bọ trĩ
hại cây lạc trong năm 2008 - 2010 tại Nghệ An gồm 9 loài: Frankliniella intonsa
Trybom, Frankliniella schultzei Trybom, Megalurothrips sjostedti Trybom,
Megalurothrips usitatus Bagnall, Scirtothrips dorsalis Hood, Thrips palmi
Karny, Thrips tabaci Lindeman, Thrips hawaiiensis Morgan và Haplothrips
gowdeyi Franklin.
Trên đậu rau tại vùng Gia Lâm, Hà Nội, Yorn Try (2003), đã xác định được
4 loài bọ trĩ gây hại: Frankliniella sp., Caliothrips sp., Scirtothrips dorsalis Hood
và Thrips palmi Karny. Trong đó, Thrips palmi Karny gây hại chủ yếu trên lá,
ngọn cây còn Frankliniella sp. Bắt đầu có mặt khi cây bước vào giai đoạn ra hoa.
Còn trên dưa chuột tại vùng Gia Lâm, Hà Nội, Yorn Try (2008), đã xác
định được 7 loài bọ trĩ gây hại là: Thrips palmi Karny, Thrips parvispinus Karny,
Thrips flavus Schrank, Frankliniella occidentalis Pergande, Frankliniella intonsa
(Trybom), Thrips tabaci Lindeman, Haplothrips kurjummovi Karny. Trong đó
14
Thrips palmi là loài gây hại chủ yếu xuất hiện quanh năm với mức độ phổ biến
cao nhất, tấn công lên lá, chồi và hoa.
Nguyễn Văn Hùng (2013) cũng cho biết thành phần bọ trĩ hại dưa chuột
tại huyện Kim Bảng, Hà Nam vụ Xuân năm 2013 gồm 4 loài: Thrips palmi
Karny, Thrips flavus Schrank, Thrips tabaci Linederman và Frankliniella
occidentalis pergande trong đó Thrips palmi Karny là loài gây hại chủ yếu xuất
đoạn cây con và về sau mật độ của chúng giảm dần.
Theo Hà Thanh Hương và cs. (2008) cho biết kết quả điều tra thành phần
bọ trĩ hại xoài ở miền Bắc và miền Trung Việt Nam gồm 4 loài: Haplothrips
leucanthemi Schrank, Scirtothrips dorsalis Hood, Thrips coloratus Schmutz và
Thrips hawaiiensis Morgan.
Nghiên cứu về bọ trĩ hại cây trồng tại Ninh Bình, Hà Thanh Hương và cs.
(2008) cho biết thành phần bọ trĩ gồm 9 loài: Frankliniella occidentalis Pergande,
Frankliniella intonsa Trybom, Megalurothrips mucunae Priesner, Megalurothrips
usitatus Bagnall, Microcephalothrips abdominalis Crawford, Thrips hawaiiensis Morgan,
Thrips palmi Karny, Thrips tabaci Linderman và Haplothrips gowdeyi Franklin.
Theo Nguyễn Thị Thanh Nga (2010) cho biết thành phần bọ trĩ hại hoa
hồng, hoa dừa cạn tại Lăng Bác Hồ gồm: Thrips palmi Karny, Frankliniella
intonsa Trybom, Thrips tabaci Linderman, và Scirtothrips dorsalis Hood
Theo Vũ Ngọc Anh và Hà Thanh Hương (2013), thành phần bọ trĩ trên
rau gia vị tại một số địa điểm ở Hà Nội gồm: Thrips hawaiiensis Morgan,
Haplothrips gowdeyi Franklin, Scirtothrips dorsalis Hood, Frankliniella intonsa
Trybom, Haplothrips sp.
1.3.2. Những nghiên cứu về biện pháp phòng trừ bọ trĩ
1.3.2.1. Biện Pháp hóa học
Trong thực tế, sử dụng thuốc hóa học vẫn là biện pháp chủ yếu được
nghiên cứu và sử dụng trong phòng trừ bọ trĩ trên nhiều loại cây trồng.
Theo Trần Thị Tuyết (2005), khi thử nghiệm một số thuốc: Tập kỳ 1,8EC,
Arrivo 10EC, Actara 25WG và Spinosad với Thrips palmi trên lá bí xanh, đã cho
rằng Actara có hiệu lực phòng trừ nổi trội so với các loại thuốc kia. Thuốc
Spinosad cũng có hiệu lực phòng trừ bọ trĩ tương đương Actara mặc dù thuốc
không có tác dụng nhanh nhưng hiệu lực kéo dài.
Theo Hà Quang Hùng và cs. (2005), các thuốc như Tập Kỳ 1,8EC, Sumicidin
20EC, Decis, Diazinon, Nicotin đều có thể phòng trừ bọ trĩ đạt kết quả tốt.
16
so với ruộng không quây nilon. Dùng bẫy dính màu vàng ngay từ giai đoạn cây
con có thể làm giảm mật độ bọ trĩ 20 %, tỷ lệ hại 16,9%
17
Chương 2. NỘI DUNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
2.1. Đối tượng, vật liệu và dụng cụ nghiên cứu
- Đối tượng nghiên cứu: Các loài bọ trĩ hại chủ yếu trên các loại rau gia vị
tại Thường Tín, Hà Nội.
- Vật liệu nghiên cứu gồm 10 loại rau gia vị là: húng quế, húng Láng, tía
tô, kinh giới, ngải cứu, lá mơ, rau răm, hành, sả, mùi tàu.
Nhóm rau theo nhu cầu
Tên rau
Tên rau
sử dụng
(Việt Nam)
(Khoa học)
Nhóm rau ăn thân, lá
Nhóm rau ăn lá
Rau răm
Persicaria odorata
Eryngium foetidum
Tía tô
Perilla frutescens
- Dụng cụ nghiên cứu:
+ Khay nhựa mầu trắng đục để thu thập mẫu
+ Lọ đựng, bảo quản mẫu bọ trĩ (ống eppendorf).
+ Túi nilon có mép dán kín
+ Bút lông, bút chì, giấy ghi địa điểm thu mẫu, sổ ghi chép
+ Kính lúp soi nổi và kính hiển vi huỳnh quang quan sát các đặc điểm
hình thái của bọ trĩ trưởng thành
+ Lam phẳng, lam lõm, lamen để làm mẫu tiêu bản bọ trĩ, giấy thấm,
panh, kéo, kim lên tiêu bản, cốc đong, nồi, bếp điện, tủ lạnh
+ Cồn 70°, dung dịch NaOH 5%, Glycerine, nước cất
18
+ Thuốc bảo vệ thực vật, bình bơm, nilon…
Hình 2.1. Dụng cụ
Hình 2.2. Kính lúp soi
Hình 2.3. Một số dụng cụ,
thu mẫu
và sử dụng thuốc bảo vệ thực vật.
2.4. Phương pháp nghiên cứu
2.4.1. Phương pháp điều tra ngoài đồng ruộng
2.4.1.1. Phương pháp điều tra thu thập thành phần bọ trĩ
Điều tra thu thập thành phần bọ trĩ được tiến hành theo Quy chuẩn kỹ
thuật quốc gia về phương pháp điều tra phát hiện dịch hại cây trồng - QCVN 0138: 2010/BNNPTNT và phương pháp thu thập bọ trĩ ngoài đồng của Mound
(2007).
- Thời gian điều tra lấy mẫu: định kỳ 7 ngày/lần, điều tra liên tục theo các
giai đoạn sinh trưởng và phát triển của cây rau gia vị có liên quan đến sự xuất
hiện và gây hại của bọ trĩ. Số lượng mẫu càng nhiều càng tốt. Tiến hành thu mẫu
bổ sung trên ruộng rau gia vị quanh điểm nghiên cứu.
Trên khu ruộng điều tra thu thập bọ trĩ, chọn 10 điểm ngẫu nhiên nằm trên
đường chéo của khu vực điều tra. Điểm điều tra phải cách bờ ít nhất 2 m, điều tra
10 cây, 10 búp/điểm.
• Thu thập mẫu vật bọ trĩ :
Tùy thuộc vào từng loại cây, giai đoạn sinh trưởng phát triển khác nhau
của mỗi loại cây mà chúng tôi tiến hành thu mẫu bằng cách khác nhau:
Thu thập bọ trĩ đang có mặt trên bộ phận của cây trồng bằng dùng khay
nhựa trắng để hứng và vỗ cho bọ trĩ rơi vào khay. Đây là biện pháp rất hiệu quả
vì phiến bàn chân trước của bọ trĩ dính vào mặt phẳng nhẵn của khay nên chúng
khó di chuyển và bay. Mẫu thu được ngâm vào cồn 700.
Riêng đối với Hành để tìm bọ trĩ phải tách lá ra để lộ ra lá non đang mọc lên ở
giữa cây và là nơi bảo vệ tuyệt vời cho bọ trĩ trước ảnh hưởng của thời tiết và thuốc
trừ sâu. Bọ trĩ trưởng thành cũng có thể tìm thấy trên lá già đặc biệt là lá đã gập hơn
trở thành một khu vực có mái che. Sau đó dùng bút lông chuyển mẫu vật vào ống
eppendorf có chứa cồn 700, ngoài lọ ghi ngày thu mẫu, địa điểm thu mẫu, cây trồng
20