Phát triển chăn nuôi lợn thịt trên địa bàn huyện hữu lũng, tỉnh lạng sơn - Pdf 41

MỤC LỤC
Trang
Lời cam đoan

ii

Lời cảm ơn

iii

Mục lục

iv

Danh mục các từ viết tắt

vii

Danh mục các bảng

viii

Danh mục biểu đồ

ix

Danh mục hình

x

PHẦN I. ĐẶT VẤN ĐỀ


PHẦN II. CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN VỀ PHÁT TRIỂN CHĂN
4

NUÔI LỢN THỊT
2.1. Cơ sở lý luận về phát triển chăn nuôi lợn thịt

4

2.1.1. Khái niệm và đặc điểm ngành chăn nuôi lợn

4

2.1.2. Quan điểm về phát triển và phát triển chăn nuôi lợn thịt

7

2.1.3. Nội dung phát triển chăn nuôi lợn thịt

9

2.1.4. Các yếu tố ảnh hưởng đến phát triển chăn nuôi

13

2.1.5. Những chủ trương chính sách của Đảng và Nhà nước liên quan đến
phát triển chăn nuôi
2.2. Thực trạng phát triển chăn nuôi tại Việt Nam

20


3.2.2. Đặc điểm kinh tế xã hội

41

3.2.3. Thực trạng cơ sở hạ tầng

42

3.2.4. Thực trạng về văn hóa

44

3.3. Đánh giá chung về điều kiện kinh tế xã hội

45

3.3.1. Thuận lợi

47

3.3.2. Khó khăn

48

3.4. Phương pháp nghiên cứu

48

3.4.1. Phương pháp thu thập số liệu

54

4.2. Kết quả điều tra chăn nuôi lợn thịt huyện Hữu Lũng

60

4.2.1. Thông tin chung về các hộ điều tra

60

4.2.2. Nguồn lực của các hộ chăn nuôi lợn thịt

62

4.2.3. Ứng dụng tiến bộ kỹ thuật, công nghệ trong chăn nuôi lợn thịt của
các hộ điều tra

67

4.2.4. Công tác tiêu thụ lợn thịt các hộ điều tra

69

4.3. Đánh giá hiệu quả chăn nuôi

70

4.4. Đánh giá tồn tại trong phát triển chăn nuôi lợn thịt tại Hữu Lũng

76

5.1 Kết luận

89

5.2. Kiến nghị

92

TÀI LIỆU THAM KHẢO

93

PHỤ LỤC

94

Học viện Nông nghiệp Việt Nam – Luận văn Thạc sỹ Khoa học Kinh tế

Page vi


DANH MỤC CÁC TỪ VIẾT TẮT
Viết tắt

Viết đầy đủ

BQ

Bình quân


Đông Nam bộ

GO

Giá trị sản xuất

GTGT

Giá trị gia tăng

IC

Chi phí trung gian

MI

Thu nhập hỗn hợp

PTBV

Phát triển bền vững

PTCN

Phát triển chăn nuôi

Pr

Lợi nhuận


2.2

Sản lượng thịt lợn hơi phân theo vùng ở Việt Nam

25

2.3

Số trang trại phân theo lĩnh vực sản xuất và địa phương

26

2.4

Số lượng và cơ cấu hộ chăn nuôi lợn theo quy mô số con lợn

27

3.1

Tài nguyên đất huyện Hữu Lũng

38

3.2

Giá trị sản xuất nông nghiệp trên địa bàn huyện Hữu Lũng (2011 –
2013)

46


4.5

Thực trạng đất nông nghiệp các hộ điều tra

62

4..

Nguồn lao động nông nghiệp các hộ điều tra

63

4.7

Tình hình vốn chăn nuôi lợn thịt các hộ điều tra

65

4.8

Tình trạng trang thiết bị, chuồng trại chăn nuôi lợn thịt các hộ
điều tra

65

4.9

Thời gian và năng suất xuất chuồng lợn thịt các hộ điều tra



Trang

2.1

Quy mô đàn vật nuôi trong nước

23

2.2

Cơ cấu hộ nuôi lợn theo quy mô trong từng vùng kinh tế - xã

28

Học viện Nông nghiệp Việt Nam – Luận văn Thạc sỹ Khoa học Kinh tế

Page ix


DANH MỤC HÌNH
Số hình

Tên hình

Trang

3.1

Bản đồ hành chính huyện Hữu Lũng


Tỷ trọng các loại thức ăn cho lợn của các hộ điều tra

68

4.4

Kênh tiêu thụ lợn thịt các hộ điều tra (tỷ lệ%)

69

Học viện Nông nghiệp Việt Nam – Luận văn Thạc sỹ Khoa học Kinh tế

Page x


PHẦN I
ĐẶT VẤN ĐỀ
1.1. Tính cấp thiết của đề tài
Chăn nuôi là một trong hai ngành sản xuất chính của nông nghiệp, nó có
vai trò quan trọng trong đời sống kinh tế văn hóa xã hội nhưng trong thời gian
dài chăn nuôi ở Việt Nam phát triển chậm, phân tán, trình độ thấp và chiếm tỷ
trọng nhỏ trong cơ cấu kinh tế nông nghiệp. Từ năm 2000 đến nay, chăn nuôi cả
nước nói chung và nhiều địa phương nói riêng đã có biểu hiện khởi sắc và có vai
trò tích cực trong chuyển đổi cơ cấu kinh tế nông nghiệp. Giá trị sản xuất
(GTSX) ngành chăn nuôi tăng bình quân hàng năm trong giai đoạn 2001- 2005 đạt
khoảng 7.1% (gấp hơn 2 lần tốc độ phát triển ngành trồng trọt), sản phẩm chăn nuôi
đã tham gia xuất khẩu, đã có nhiều trang trại chăn nuôi quy mô lớn và công nghệ
khá hiện đại. Tuy nhiên, nhìn chung trình độ phát triển chăn nuôi của nước ta còn
thấp hơn so với trình độ của khu vực ASEAN và thấp hơn rất nhiều so với các nước

khai thác hết các tiềm năng, thế mạnh trong nông nghiệp. Chăn nuôi gia súc gia
cầm trên địa bàn chưa thực sự biến chuyển lớn, còn mang nặng tính tự cung tự
cấp, chưa hình thành vùng chăn nuôi thị trường có quy mô nổi bật, một số địa
phương chăn nuôi trâu, bò vẫn còn hình thức thả dông, các thành phần kinh tế
trang trại chăn nuôi cũng chưa phát triển. Chăn nuôi phụ thuộc lớn vào điều kiện
tự nhiên, thời tiết và chăn nuôi nhỏ lẻ mang tính tận dụng, nên tiềm ẩn nhiều
nguy cơ dịch bệnh. Trong những năm gần đây, dịch bệnh trong chăn nuôi gia súc
và gia cầm như Lở mồm long móng, Tai xanh, Cúm gia cầm H5N1 và H7N9 liên
tục xảy ra trên cả nước không những gây ra những thiệt hại đáng kể cho nghành
kinh tế nông nghiệp mà còn có những diễn biến phức tạp, lây lan và gây nguy hại
cho cả con người.
Xuất phát từ những lý do trên, với ý nghĩa nghiên cứu loại hình chăn nuôi
của tỉnh Lạng Sơn, nên tôi đã tiến hành nghiên cứu đề tài: “Phát triển chăn nuôi
lợn thịt trên địa bàn huyện Hữu Lũng, tỉnh Lạng Sơn".
1.2. Mục tiêu nghiên cứu
1.2.1. Mục tiêu tổng quát
Trên cơ sở nghiên cứu thực trạng và những yếu tố ảnh hưởng đến phát
triển chăn nuôi lợn thịt trên địa bàn huyện Hữu Lũng, tỉnh Lạng Sơn, đề xuất
định hướng các giải pháp thúc đẩy phát triển chăn nuôi lợn thịt một cách có hiệu
quả cho địa phương trong thời gian tới.

Học viện Nông nghiệp Việt Nam – Luận văn Thạc sỹ Khoa học Kinh tế

Page 2


1.2.2. Mục tiêu cụ thể
- Hệ thống hóa cơ sở lý luận và thực tiễn về phát triển chăn nuôi lợn thịt.
- Đánh giá được thực trạng chăn nuôi lợn thịt trên địa bàn huyện Hữu
Lũng, tỉnh Lạng Sơn

trong xã hội mà còn là nguồn thu nhập quan trọng của hàng triệu người hiện nay.
Sản phẩm từ chăn nuôi một mặt cung cấp thực phẩm, nguyên liệu phục vụ cho
đời sống sinh hoạt của con người, mặt khác là một ngành sản xuất với mục tiêu
lợi nhuận như mọi ngành sản xuất khác.
Chăn nuôi là ngành cổ xưa nhất của nhân loại, nó cung cấp cho con người
thực phẩm có dinh dưỡng cao, nguồn đạm động vật như thịt, sữa, các sản phẩm
từ sữa, trứng. Sản phẩm của nghành chăn nuôi cung cấp nguyên liệu cho nghành
công nghiệp chế biến, là một trong các nghành tạo ra chuỗi nghành hàng rất
phong phú như sản xuất hàng tiêu dùng (tơ tằm, lông cừu, da), cho nghành công
nghiệp thực phẩm (đồ hộp), dược phẩm và cho xuất khẩu. Ngành chăn nuôi còn
cung cấp sức kéo và phân bón cho ngành trồng trọt, tận dụng phụ phẩm của
ngành trồng trọt. Trồng trọt kết hợp chăn nuôi tạo nền nông nghiệp bền vững.
(Đỗ Kim Chung, 2009)
Trong chăn nuôi ở nhiều địa phương, lợn là loại vật nuôi phổ biến nhất do
nhu cầu thịt lợn trong tiêu dùng lớn, thời gian chăn nuôi tương đối ngắn và sức
tăng trưởng nhanh về sản lượng và giá trị. Đồng thời, ở nhiều vùng nông thôn,
các hộ chăn nuôi lợn có thể tận dụng được các nông sản thực phẩm trong nông
nghiệp. Chất thải trong chăn nuôi phục vụ trực tiếp cho các hoạt động trồng trọt.
- Đặc điểm kinh tế- kỹ thuật của ngành chăn nuôi lợn thịt
Trong nghành chăn nuôi nói chung thì chăn nuôi lợn là nghành kinh tế
quan trọng và nó có những đặc điểm riêng so với các loại vật nuôi khác. Chăn

Học viện Nông nghiệp Việt Nam – Luận văn Thạc sỹ Khoa học Kinh tế

Page 4


nuôi lợn ở nước ta hiện nay đang được chú trọng và ngày càng phát triển bởi nhu
cầu cung cấp về thịt ngày càng tăng. Sự phát triển của nền sản xuất kinh tế hàng
hóa càng tạo điều kiện thuận lợi thúc đẩy chăn nuôi lợn thịt ở hộ gia đình phát


tổng chi phí thức ăn cung cấp cho lợn, nó là thành phần cần thiết tham gia vào
cấu tạo mô cũng như tạo thịt, tiết sữa, bào thai. Chất khoáng và vitamin là những
thành phần dinh dưỡng chiếm tỷ lệ thấp nhưng cũng có vai trò đặc biệt quan
trọng trong quá trình phát triển của lợn được cung cấp bởi các loại thức ăn như
bột xương, bột sò, muối ăn...Hiệu quả kinh tế chăn nuoi lợn phụ thuộc trực tiếp
vào mức độ đảm bảo khẩu phần ăn cho lợn. Vì vậy, việc xây dựng khẩu phần ăn
đáp ứng nhu cầu của đàn lợn phù hợp với từng giai đoạn sinh trưởng sẽ mang lại
hiệu quả cao trong chăn nuôi. (Nông Thị Lan Anh, 2014)
Về hình thức chăn nuôi có thể là tập trung hoặc phân tán tuỳ đặc điểm và
điều kiện tự nhiên mỗi khu vực nuôi.
Chăn nuôi tự nhiên: Là phương thức chăn nuôi ra đời sớm nhất. Cơ sở của
phương thức chăn nuôi này là dựa vào nguồn thức ăn sẵn có trong tự nhiên.
Nguồn thức ăn chủ yếu là các phụ phẩm nông nghiệp, tận dụng thức ăn thừa
trong sinh hoạt. Dần phương thức này phát triển thành các hình thức nuôi thả
hoặc nuôi nhốt trong các gia đình ở nông thôn.
Chăn nuôi công nghiệp: Ra đời phục vụ cho nhu cầu thực phẩm ngày càng
tăng của con người. Đặc điểm của hình thức chăn nuôi này là nuôi số lượng lớn,
thức ăn hoàn toàn là công nghiệp, thời gian nuôi ngắn, mức tăng trọng nhanh.
Hệ thống chuồng trại chăn nuôi từ chỗ là tận dụng, tự dựng với quy mô
nhỏ đã chuyển dần theo hướng hiện đại, quy mô ngày càng lớn để đáp ứng tốt
hơn nhu cầu sinh trưởng và phát triển của con lợn. Chuồng trại phải thoáng mát
về mùa hè, ấm áp về mùa đông, tránh gió lùa; thích hợp với sinh lý, sinh trưởng
của lợn thịt, có tường ngăn vững chắc, nền chuồng không quá nhẵn, dễ cọ rửa, có
hệ thống máng ăn, vòi uống đầy đủ; có hệ thống làm mát bằng vòi phun nước
hoặc quạt thông gió về mùa hè, có đèn sưởi ấm mùa đông cho lợn mới sinh; số
lợn trong một ngăn chuồng và diện tích mỗi ô chuồng không nên vượt quá tiêu
chuẩn qui định.
Bên cạnh đó các công tác chăm sóc thú y cũng có một vai trò quan trọng
trong quá trình chăn nuôi lợn thịt. Bệnh của lợn có nhiều loại và do nhiều nguyên

luôn đúng theo quy luật trong các thế giới vô sinh, hữu sinh và loài người. Trong
xã hội loài người phát triển gắn liền với sự thay đổi hình thái kinh tế xã hội.”
Theo Raaman Weitz (1987) : “Phát triển là một quá trình thay đổi liên tục
làm tăng trưởng mức sống của con người và phân phối công bằng những thành
quả tăng trưởng trong xã hội”
Theo Lưu Đức Hải (2001): “Phát triển là một quá trình tăng trưởng bao gồm
nhiều yếu tố cấu thành khác nhau như kinh tế, chính trị, kỹ thuật, văn hóa...”

Học viện Nông nghiệp Việt Nam – Luận văn Thạc sỹ Khoa học Kinh tế

Page 7


Theo Nguyễn Ngọc Long và cộng sự (1991): “ Phát triển được hiểu là một
phạm trù triết học dùng để chỉ quá trình vận động tiến lên từ thấp đến cao, từ đơn
giản đến phức tạp, từ kém hoàn thiện đến hoàn thiện hơn của sự vật. Quá trình đó
diễn ra vừa dần dần, vừa nhảy vọt, đưa tới sự ra đời của cái mới thay thế cái cũ”.
Quan điểm này cho rằng “ Sự phát triển là kết quả của quá trình diễn ra theo
đường xoáy ốc và hết mỗi chu kỳ sự vật lặp lại dường như sự vật ban đầu nhưng
ở cấp độ cao hơn.”
Các nhà kinh tế thế giới đã đưa ra nhiều quan điểm về phát triển, trải qua
thời gian khái niệm về phát triển đi đến thống nhất : “ Phát triển kinh tế được hiểu
là quá trình tăng tiến về mọi mặt của nền kinh tế trong một thời kỳ nhất định bao
gồm cả sự tăng thêm về quy mô sản lượng và sự hoàn thiện về cơ cấu kinh tế xã
hội. Đó là sự tiến bộ, thịnh vượng và cuộc sống tốt đẹp hơn. Phát triển kinh tế
được xem như là quá trình biến đổi cả về lượng và chất, nó là sự kết hợp chặt chẽ
quá trình hoàn thiện của hai vấn đề kinh tế ở mỗi quốc gia.”
Phát triển trong sản xuất là quá trình tạo ra của cải vật chất và dịch vụ.
Trong đó con người luôn đấu tranh với thiên nhiên làm thay đổi những vật chất sẵn
có nhằm tạo ra lương thực, thực phẩm, quần áo, nhà cửa, và những của cải khác

việc phát triển chăn nuôi lợn phải chú ý mở rộng thị trường. Phát triển chăn nuôi
lợn phải tính đến việc khai thác lợi thế so sánh sao cho phù hợp với điều kiện tự
nhiên của từng vùng, từng địa phương và theo hướng tập trung có trình độ
chuyên môn hóa ngày càng cao.
Chất lượng thịt lợn phải chứa hàm lượng Protein cần thiết đủ cho người sử
dụng, làm tăng thể lực và sức làm việc của con người. Trong điều kiện nước ta,
lao động thủ công chiếm phần lớn, mức sống của người dân còn thấp, do đó thịt
lợn là nguyên liệu chủ yếu tăng cường thêm các dưỡng chất trong mỗi bữa ăn.
Thịt lợn còn là nguồn cung cấp nguyên liệu cho nghành công nghiệp chế biến
thực phẩm tạo ra đồ hộp, đồ ăn liền có chất lượng cao.
2.1.3. Nội dung phát triển chăn nuôi lợn thịt
Sản xuất nông nghiệp của các hộ gia đình nông dân được hình thành và
phát triển chủ yếu trong điều kiện kinh tế thị trường khi phương thức sản xuất tư
bản thay thế phương thức sản xuất phong kiến.
Phát triển chăn nuôi bền vững là một loại hình kinh tế sản xuất hàng hóa phát
triển trên cơ sở kinh tế hộ nhưng ở quy mô lớn hơn, được đầu tư nhiều về cả vốn và
kỹ thuật, có thể thuê mướn nhân công để sản xuất ra một hoặc vài loại sản phẩm hàng
hóa từ nông nghiệp với khối lượng lớn cho thị trường.(Nguyễn Đức Chiện, 2005)
Học viện Nông nghiệp Việt Nam – Luận văn Thạc sỹ Khoa học Kinh tế

Page 9


Ngoài mặt kinh tế, chăn nuôi còn có thể được nhìn nhận từ mặt xã hội và
môi trường.
Về mặt xã hội, chăn nuôi là một tổ chức cơ sở của xã hội, trong đó các
mối quan hệ xã hội đan xen nhau.
Về mặt môi trường, chăn nuôi bền vững là một không gian sinh thái, trong
đó diễn ra các quan hệ sinh thái đa dạng. Không gian sinh thái của chăn nuôi bền
vững có quan hệ chặt chẽ và ảnh hưởng qua lại trực tiếp với hệ sinh thái của vùng.

thời là sự gia tăng thêm về lượng tuyệt đối. Như vậy, bản chất của tăng trưởng là
phản ánh sự thay đổi về lượng của nền kinh tế. Ngày nay, yêu cầu tăng trưởng
kinh tế được gắn liền với tính bền vững hay việc đảm bảo chất lượng tăng trưởng
ngày càng nâng cao.
Trong ngành sản xuất lợn thịt, phát triển sản xuất nghĩa là số lượng đầu
lợn ngày càng nhiều lên, trọng lượng và sản lượng lợn hơi xuất chuồng cũng
được tăng dần theo thời gian chăn nuôi và cuối cùng số hộ gia đình người dân
chăn nuôi lợn thịt cũng tăng lên về mặt số lượng.
2.1.3.2.Hoàn thiện về cơ cấu
Cơ cấu ngành kinh tế là sự tương quan giữa các ngành trong tổng thể
nền kinh tế, thể hiện mối quan hệ hữu cơ và sự tác động qua lại cả về số
lượng và chất lượng giữa các ngành với nhau. Mối quan hệ này được hình thành trong
những điều kiện kinh tế xã hội nhất định, luôn vận động và hướng vào những mục
tiêu cụ thể. Cơ cấu kinh tế nông nghiệp cũng giống như cơ cấu kinh tế của đất nước,
có thể bao gồm cơ cấu ngành, cơ cấu vùng, cơ cấu thành phần, những cơ cấu này có
mối quan hệ hữu cơ, gắn bó chặt chẽ với nhau.
Cơ cấu ngành nông nghiệp là sự phản ánh cao nhất sự tiến bộ của phân
công lao động xã hội và trình độ phát triển sản xuất trong nông nghiệp, nó được
thể hiện trên những vùng lãnh thổ nhất định. Cơ cấu ngành nông nghiệp phát
triển tiến bộ mang lại sự biểu hiện về mặt không gian của cơ cấu ngành.
Cơ cấu ngành trong nông nghiệp thường biểu hiện bằng các quan hệ tỷ
lệ: giữa trồng trọt và chăn nuôi; giữa cây lương thực và cây công nghiệp –
rau quả; chăn nuôi gia súc và chăn nuôi gia cầm; giữa sản xuất cây nông
nghiệp và phi nông nghiệp ở nông thôn. Quá trình thay đổi cơ cấu ngành từ trạng
thái này sang trạng thái khác ngày càng hoàn thiện hơn, phù hợp với môi trường
và điều kiện phát triển gọi là chuyển dịch cơ cấu ngành.

Học viện Nông nghiệp Việt Nam – Luận văn Thạc sỹ Khoa học Kinh tế

Page 11

đáp ứng nhu cầu của khu vực đô thị, khu công nghiệp và tham gia xuất khẩu. Gắn với
các phương thức này là việc tái cơ cấu hệ thống giết mổ và chế biến, với phương thức
Học viện Nông nghiệp Việt Nam – Luận văn Thạc sỹ Khoa học Kinh tế

Page 12


giết mổ tập trung công nghiệp, áp dụng công nghệ hiện đại; giết mổ bán tập trung, bán
công nghiệp và giết mổ thủ công.
Cần có sự đầu tư tập trung và huy động các nguồn lực thực hiện các giải
pháp đồng bộ từ quy hoạch đến công tác giống, với phương châm chấn chỉnh căn
bản về giống, đặc biệt là giống phục vụ chăn nuôi theo phương thức nông hộ,
lĩnh vực thức ăn chăn nuôi, giết mổ, chế biến, thú y và phát triển nguồn nhân lực
cho ngành chăn nuôi.
Bên cạnh đó cũng cần có các chính sách tín dụng với hướng xây dựng
chính sách ưu đãi cho người chăn nuôi được khoanh nợ, giãn nợ, được vay mới
với lãi suất ưu đãi hoặc Nhà nước dành một khoản ngân sách để hỗ trợ lãi suất tín
dụng để người chăn nuôi có thể đầu tư khôi phục sản xuất sau.
Các giải pháp gắn với việc hoàn thiện hệ thống tổ chức, quản lý ngành chăn nuôi
- thú y từ Trung ương đến địa phương cũng được đề cập như một trong những giải pháp
không thể thiếu nhằm đem lại hiệu quả cho việc tái cơ cấu ngành. Bên cạnh đó, không ít
ý kiến cho rằng, để phát triển bền vững ngành chăn nuôi, công tác kiểm dịch, vệ sinh
thú y cần được tăng cường hơn nữa, song song với việc đẩy mạnh công tác kiểm soát
thị trường và vệ sinh an toàn thực phẩm.
2.1.4. Các yếu tố ảnh hưởng đến phát triển chăn nuôi
a) Yếu tố về điều kiện tự nhiên
Nhân tố tự nhiên bao gồm các yếu tố về vị chí địa lý, địa hình, điều kiện
khí hậu, thời tiết thủy văn, môi trường sinh thái. Điều kiện tự nhiên có ảnh hưởng
đến chăn nuôi. Trong những năm gần đây diễn biến thời tiết có nhiều bất thường, rét
thường đến muộn hơn và kéo dài, mưa đầu mùa bất thường, nhiệt độ cao, thời tiết

vitamin và khoáng chất. Cung cấp đầy đủ dinh dưỡng trong khẩu phần ăn hàng
ngày sẽ giúp cho đàn lợn tăng trưởng nhanh đạt hiệu quả kinh tế cao. Trước kia
phương pháp truyền thống luôn tân dụng thức ăn thừa nên việc cung cấp dưỡng
chất cho lợn thịt không đáp ứng được nhu cầu cần thiết nên chăn nuôi thường
thua lỗ. Hiện nay nhận thức , trình độ kỹ thuật của người chăn nuôi ngày càng
được nâng cao nên thức ăn trong chăn nuôi ngày càng được chú trọng.. Bên cạnh
đó, các công ty tư nhân sản xuất thức ăn chăn nuôi ngày càng phát triển mạnh, da
dạng và nhiều chủng loại, dặc biệt còn có sự tham gia của các công ty liên doanh
có vốn đàu tu nước ngoài nên các mặt hàn thức ăn trong chăn nuôi ngày càng đa
dạng và phong phú, phục vụ cho mọi đối tượng chăn nuôi.
+ Chuồng trại : Hệ thống chuồng trại và chế độ chăm sóc ảnh hưởng rất lớn
đến sự phát triển của đàn lợn. Lợn có thể sống trong điều kiện khí hậu khắc

Học viện Nông nghiệp Việt Nam – Luận văn Thạc sỹ Khoa học Kinh tế

Page 14


nghiệt nhưng chỉ đem lại thành tích sản xuất cao khi sống trong điều kiện khí
hậu phù hợp cho từng loại, từng lưa tuổi lợn. Chuồng trại cần được thiết kế
thoáng mát về mùa hè, ấm áp về mùa đông, sạch sẽ khô thoáng và dễ dàng vệ
sinh để thuận lợi cho viêc chăm sóc đàn lợn của người chăn nuôi.
+ Công tác thú y : Đàn lợn được chăm sóc tốt ngoài các vần đê nêu trên thì
công tác thú y phòng và trị bệnh kịp thời cho đàn lợn cũng hêt sức quan trọng.
Khi lợn nhiễm bệnh thường lây lan nhanh có thể gây ốm và chết hàng loạt, gây
thiệt hại rất lớn cho chủ chăn nuôi và xã hội. Chính vì vậy thường xuyên vệ sinh
chuồng trại, tiêm phòng định kỳ các loại vắc xin đầy đủ. Hiện nay công tác thú y
trong chăn nuôi thường xuyên được nhà nước quan tâm, hỗ trợ, được tuyên
truyền và phổ biến rộng rãi tới người chăn nuôi.
+ Quy trình kỹ thuật : Trong chăn nuôi, ứng với mỗi thời kỳ chúng ta cần đưa

huyện Hữu Lũng đã ban hành nhiều chương trình, chính sách khuyến khích phát
triển chăn nuôi lợn theo hướng trang trại tập trung. Cụ thể là chương trình quy
hoạch tổng thể phát triển chăn nuôi tập trung tầm nhìn 2020-2030. Bên cạnh đó,
chính quyền các xã đã tạo điều kiện thuận lợi cho người dân có mong muốn chăn
nuôi lợn theo quy mô trang trại ở các vùng được quy hoạch để chăn nuôi tập trung.
Bên cạnh những yếu tố thuận lợi, việc phát triển chăn nuôi lợn thịt theo
hướng trang trại tập trung ở đây cũng còn những tồn tại như:
+ Đã có quy hoạch tổng thể để phát triển chăn nuôi tập trung, tuy nhiên
chỉ mới một số ít xã hoàn thiện quy hoạch chi tiết.
+ Một thực tế đang tồn tại là đối với những hộ có nhu cầu mở rộng quy
mô chăn nuôi lại không có quỹ đất phục vụ sản xuất trong khi các hộ trong khu
chăn nuôi tập trung lại hoạt động không hiệu quả gây lãng phí tài nguyên.
+ Hệ thống giao thông nội đồng đã bê tông hóa tuy nhiên vẫn còn nhiều đoạn
gần vào các khu chăn nuôi tập trung xa khu dân cư là đường đất nên việc giao thông
gặp nhiều khó khăn, nhất là khi trời mưa đường trở lên rất trơn và lầy lội.
+ Hệ thống điện hiện nay nếu để cung cấp phục vụ sinh hoạt thì đã tạm ổn
nhưng nếu để phát triển chăn nuôi lợn thịt theo hướng trang trại thì chưa đáp ứng
được nhu cầu sử dụng.
+ Chưa có hệ thống cấp thoát nước, việc cấp thoát nước chủ yếu do người
dân tự chủ động nên tình trạng thải nước sinh hoạt, sản xuất ra môi trường diễn
ra nhiều, hầu hết các kênh mương đều bị ô nhiễm.
- Vốn đầu tư và cơ sở vật chất
UBND tỉnh, huyện đã có những chính sách hỗ trợ về vốn cho người chăn
nuôi. Các cơ sở chăn nuôi lợn được hỗ trợ bằng tiền mặt trực tiếp và hỗ trợ qua
Học viện Nông nghiệp Việt Nam – Luận văn Thạc sỹ Khoa học Kinh tế

Page 16


lãi suất cho vay (0,65%/tháng). Các gia trại nuôi từ 20 – 50 con lợn thịt khi được


Page 17


bán ra dễ dàng do cầu của thị trường lớn. Ngược lại, khi xảy ra dịch bệnh, mặc dù
các sản phẩm vẫn đảm bảo an toàn, nhưng cầu thị trường giảm xuống, giá sản
phẩm chăn nuôi giảm, hiệu quả chăn nuôi lợn thị từ đó giảm theo. Thực trạng này
không chỉ diễn ra ở các hộ chăn nuôi nhỏ mà các trang trại lớn cũng chỉ có hợp
đồng hàng năm chứ chưa có hợp đồng dài hạn.
Một điểm yếu liên quan tới thị trường nữa là cho tới nay, Hữu Lũng chưa
có một điểm giết mổ tập trung nào, việc giết mổ chế biến nhỏ lẻ, phân tán,
không được kiểm soát do vậy cũng hạn chế việc tiếp cận các thị trường lớn, có
yêu cầu cao.
Ba là về khoa học công nghệ, khả năng áp dụng khoa học công nghệ vào
chăn nuôi lợn thịt ở huyện Hữu Lũng còn thấp, nguyên nhân chính là do trình độ
của người chăn nuôi và sự hạn chế về vốn. Bên cạnh các hộ chăn nuôi nhỏ lẻ chủ
yếu chăn nuôi dựa theo kinh nghiệm thì các gia trại nhất là trang trại đã bước đầu
có sự thay đổi. Họ đã bước đầu đưa khoa học công nghệ vào chăn nuôi, áp dụng
những kỹ thuật chăn nuôi mới nhằm nâng cao chất lượng sản phẩm cũng như bảo
vệ môi trường.
f) Nhóm yếu tố xã hội
Một là về tập quán sản xuất. Chăn nuôi quy mô nhỏ, truyền thống vẫn
chiếm trên 80% số đầu con của huyện Hữu Lũng. Chăn nuôi quy mô nhỏ, lẫn
trong khu dân cư, các điều kiện về chăn nuôi không được đảm bảo đã và đang
gây nhiều ảnh hưởng tới môi trường cũng như cuộc sống của người dân. Chăn
nuôi nhỏ lẻ cũng là mối nguy hại của chăn nuôi tập trung. Mặc dù huyện đã có
quy hoạch, đề án chăn nuôi tập trung, số hộ chăn nuôi nhỏ lẻ có giảm nhưng thực
sự không đáng kể. Không thể buộc họ không được phép chăn nuôi do vậy, cần
đẩy mạnh công tác tuyên truyền để tác động vào ý thức của các hộ chăn nuôi,
giúp họ hiểu ra những tác hại của chăn nuôi nhỏ lẻ trong khu dân cư từ đó tạo


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status